2023
Những chỉ dẫn của Kinh Thánh giúp tìm thấy hạnh phúc
Những chỉ dẫn của Kinh Thánh giúp tìm thấy hạnh phúc

Chẳng cần phải lục lọi hết chỗ này đến chỗ khác, bí quyết để có được hạnh phúc đích thực chẳng ở đâu xa cả. Chính trong Bài Giảng Trên Núi mà Matthêu (Mt 5,1-16) và Luca (6,20-38) thuật lại, Đức Giêsu đã chỉ rõ 8 cánh cửa để đạt được hạnh phúc, hứa hẹn cho tất cả những ai đi qua nó.
Đó là những mối phúc trao ban cho chúng ta hạnh phúc của Giêsu, một hạnh phúc tròn đầy, miên viễn, bất chấp hoàn cảnh có đau thương và khó khăn đến đâu.
Đức Thánh Cha Phanxico khuyến khích chúng ta đọc các Mối Phúc này để chống lại xu hướng ngẫu tượng của thế gian này, vốn làm chúng ta hiểu sai về “hạnh phúc”.
Trong Kinh Thánh, chúng ta thấy có hàng trăm trích dẫn nói về hạnh phúc, niềm vui, sự hoan hỉ. Tuỳ vào mỗi người mà tìm được những soi sáng giúp thấy được điều gì làm mình bất an về mặt vật chất và điều gì Thiên Chúa đã ban về mặt thiêng liêng để mình có hạnh phúc một cách dư tràn.
Cũng có rất nhiều chi tiết khác giúp suy tư về lối sống của chúng ta, nhưng là những chỉ dẫn giúp phán đoán. Dần dần, người ta khám phá ra rằng hạnh phúc không hệ ở hoàn cảnh ngoại tại nhưng hệ ở Chúa.
Theo chân các bậc trí giả
Đặt nền tảng trên sự khiêm nhường, lòng tốt, thương cảm, trung tín và sự công bình, những điều này là bằng chứng cho thấy Thiên Chúa muốn chúng ta được hạnh phúc, nhưng là một hạnh phúc vững vàng, chứ không phải tạm bợ hay mơ tưởng:
Kẻ chú tâm vào lời Chúa dạy sẽ gặp chuyện tốt lành, người đặt niềm tin vào ĐỨC CHÚA thật hạnh phúc dường bao. (Cn 16,20)
Hạnh phúc thay người được trí khôn ngoan, cũng như kẻ được tài phán đoán. (Cn 3,13)
Đi với người khôn, ắt sẽ nên khôn, chơi cùng kẻ dại, sẽ mang lấy họa. Điều bất hạnh bám sát người tội lỗi, chuyện may lành là phần thưởng của chính nhân. (Cn 13,20-21)
Phúc thay người chẳng nghe theo lời bọn ác nhân, chẳng bước vào đường quân tội lỗi, không nhập bọn với phường ngạo mạn kiêu căng, nhưng vui thú với lề luật CHÚA, nhẩm đi nhẩm lại suốt đêm ngày. (Tv 1,1-2)
Hạnh phúc thay ai sống đời hoàn thiện, biết noi theo luật pháp Chúa Trời. Hạnh phúc thay kẻ tuân hành ý Chúa, hết lòng hết dạ kiếm tìm Người. (Tv 118,1-2)
“Chọn tình yêu chứ đừng chọn ích kỷ”
Trong thư gửi tín hữu Galat, thánh Phaolo tông đồ đã đưa ra những phẩm chất mà người Kitô phải có để gia tăng niềm hạnh phúc. Đó là “bác ái, hoan lạc, bình an, nhẫn nhục, nhân hậu, từ tâm, trung tín, hiền hòa, tiết độ” (Gal 5,22-23).
Đức Thánh Cha cũng đã nói trong tông huấn của ngài khi gợi nhắc chúng ta về khuôn vàng thước ngọc mà Thiên Chúa đã ghi khắc trong tâm khảm con người: “Hãy chọn tình yêu, đừng chọn ích kỷ, chọn sự sống chứ đừng chọn cái chết, chọn tự do đừng chọn nô lệ cho các thứ ngẫu tượng”.
Nếu anh em giữ các điều răn của Thầy, anh em sẽ ở lại trong tình thương của Thầy, như Thầy đã giữ các điều răn của Cha Thầy và ở lại trong tình thương của Người. Các điều ấy, Thầy đã nói với anh em để anh em được hưởng niềm vui của Thầy, và niềm vui của anh em được nên trọn vẹn. (Ga 15,10-11)
Lưu lại những niềm vui nhỏ nhoi
Chúng ta một mặt phải chiến đấu với những điều xấu, nhưng mặt khác cũng có những niềm vui nhỏ nhoi hàng ngày để thủ đắc và làm cho nó lớn lên, mà chúng ta thường khó thấy, nhưng Đức Giêsu trong Tin Mừng Luca có nói đến: “Phúc thay mắt nào thấy điều anh em đang thấy!” (Lc 10,23)
Đó là những món quà của Chúa để chúng ta sống với Người: thấy những điều tốt đẹp xung quanh mình và trong trái tim mỗi người, bắt đầu từ những điều của mình, để chia sẻ, để cảm thấy hạnh phúc, để nâng đỡ, và để trao ban những điều tốt đẹp của chúng ta cho người khác: “Tôi luôn tỏ cho anh em thấy rằng phải giúp đỡ những người đau yếu bằng cách làm lụng vất vả như thế và phải nhớ lại lời Chúa Giê-su đã dạy: cho thì có phúc hơn là nhận.” (Cv 20,35).
Tuy nhiên, “ai là người thiết tha được sống và ước ao hưởng chuỗi ngày hạnh phúc, thì phải giữ mồm giữ miệng, đừng nói lời gian ác điêu ngoa” (1Pr 3,10).
Thánh vương Đavit đã làm chứng cho niềm hạnh phúc sống động này như là cái gì đó rất giản đơn mà ngài đã luôn nghiệm thấy trong những ngày vui lẫn ngày buồn. Một niềm vui mạnh hơn nước mắt, hơn cả lòng thù hận và đau khổ, như được diễn tả trong thánh vịnh 23 nổi tiếng: “Lòng nhân hậu và tình thương Chúa ấp ủ tôi suốt cả cuộc đời, và tôi được ở đền Ngài, những ngày tháng, những năm dài triền miên” (Tv 23).
Một nụ cười nhẹ
Cha Joseph Folliet (1903-1972) – một nhà xã hội học, văn sĩ người Pháp và đồng sáng lập Compañeros de San Francisco, đã dựa vào các Mối Phúc của Tin Mừng mà viết nên “Các mối phúc nho nhỏ”, có lẽ rất phù hợp với thời đại của chúng ta:
“Phúc cho ai biết cười chính mình, họ sẽ luôn có niềm vui.
Phúc cho ai biết phân biệt việc lớn với việc bé (đừng việc bé xé ra to), họ sẽ bớt đau đầu.
Phúc cho ai có thể nghỉ ngơi thư giãn mà không bận tâm tìm biện hộ cho bản thân, họ đang dần trở nên khôn ngoan.
Phúc cho ai biết nhìn xem nên để chân ở đâu, họ sẽ tránh được nhiều phiền phức.
Phúc cho ai biết khi nào im lặng và lắng nghe, họ sẽ học được rất nhiều điều.
Phúc cho ai thông minh đủ để không quá nghiêm túc, người đó sẽ được tôn vinh.
Phúc cho ai để ý đến tiếng kêu của người khác, họ sẽ trở thành sứ giả niềm vui.
Phúc cho bạn nếu bạn biết nghiêm túc nhìn những điều nhỏ nhặt và bình thản nhìn những điều nghiêm túc, bạn sẽ tiến xa trong cuộc sống.
Phúc cho bạn nếu bạn luôn biết cười và quên những điều không hay, cuộc sống của bạn sẽ luôn tươi sáng.
Phúc chọ bạn nếu bạn dùng lòng nhân từ để giải thích thái độ của người khác dù bề ngoài có thể không như vậy, nó có thể hơi ngớ ngẩn nhưng đó là giá trị của lòng bác ái.
Phúc cho ai biết suy nghĩ trước khi hành động và cầu nguyện trước khi suy nghĩ, họ sẽ không làm những điều vô nghĩa.
Phúc cho bạn nếu bạn im lặng và mỉm cười dù khi người ta ngắt lời bạn, người ta phản bội bạn hay người ta chà đạp bạn, Tin Mừng đã bắt đầu thấm vào trái tim bạn.
Hơn hết, phúc cho bạn nếu bạn có thể nhận thấy Thiên Chúa trong mọi sự, bạn đã gặp được ánh sáng và sự khôn ngoan đích thực.”
Pr. Lê Hoàng Nam, SJ
Lược dịch từ: https://es.aleteia.org/2018/08/13/diez-versiculos-biblicos-para-encontrar-la-felicidad/?fbclid=IwAR2EYjzBB8mnhZOUu3WnvOeuFnaszidYTn2bgqTVzA8tt_E9Cc6ZvxhrMJQ
2023
Tại sao linh mục mặc áo lễ?
Áo lễ (chasuble) là một trang phục phụng vụ của linh mục, vốn không được chọn lựa cách ngẫu nhiên, nhưng có liên hệ đến Chúa Kitô.

Trong thánh lễ, linh mục luôn mặc một bộ lễ phục đặc biệt, được trang trí bằng các biểu tượng, có nhiều màu sắc khác nhau. Đây là một chiếc áo choàng (chasuble). Từ xa xưa, bất cứ khi nào một linh mục cử hành thánh lễ, ngài sẽ mặc một bộ áo lớn giống như một cái chăn choàng (được khoét lỗ ở giữa để chui đầu) gọi là casula (chasuble) để che phủ quần áo thường ngày của mình. Trang phục này có nguồn gốc từ trang phục Rôma bình thường của một nông dân. Người nông dân đội chiếc chăn choàng lớn này để bảo vệ mình khỏi gió, mưa hoặc thậm chí là nắng. Vào thế kỷ thứ 3, nó gắn liền với các Kitô hữu.
Khi xu hướng thời trang tiến triển, áo choàng không còn là trang phục thông thường nhưng luôn được các linh mục sử dụng. Dành riêng cho các thành viên của hàng giáo sĩ, nó bắt đầu được trang trí vào thế kỷ thứ VIII để phản ánh chức năng linh thánh của nó.
Nếu lúc đầu, áo lễ lớn và cồng kềnh, cần được giúp đỡ để tập hợp nhiều nếp gấp lại nhằm tạo điều kiện thuận lợi hơn cho việc di chuyển của linh mục, thì theo thời gian, hình dạng của nó sẽ giảm đi.

Biểu tượng
Tính biểu tượng của áo lễ được thể hiện trong lời cầu nguyện truyền thống mà linh mục đọc trước khi mặc nó: « Domine, qui dixisti : Iugum meum suave est, et onus meum leve : fac, ut istud portare sic valeam, quod consequar tuam gratiam. Amen ». (« Lạy Chúa, Chúa đã phán: Ách của Ta thì êm ái và gánh của Ta thì nhẹ nhàng: xin Chúa để con mặc trang phục này để nhận được ân sủng của Chúa. Amen. »).
Do đó, áo lễ nhắc lại “ách của Chúa Kitô”, và sự kiện linh mục là “một Chúa Kitô khác” trong hy tế thánh lễ. Ngài “mặc lấy con người mới, là con người đã được sáng tạo theo hình ảnh Thiên Chúa để thật sự sống công chính và thánh thiện”. (Eph 4, 24).
Hơn nữa, áo lễ còn tượng trưng cho “áo không đường khâu” mà Chúa Kitô đã mặc khi Người bị dẫn đi đóng đinh. Điều này càng làm nổi bật mối liên hệ giữa linh mục, thánh lễ và hy tế của Chúa Giêsu trên Thập Giá. Hình trang trí phổ biến của áo lễ là một cây thánh giá lớn ở mặt sau hoặc mặt trước của áo. Màu sắc của bộ trang phục này được phối hợp với màu tượng trưng của mùa phụng vụ hoặc ngày lễ.
Đây là lý do tại sao Giáo hội vẫn giữ lại trang phục cổ xưa này, nhắc nhở linh mục (và dân Chúa) rằng Thánh lễ không phải là một sự kiện bình thường mà là một sự kiện linh thánh.
Tý Linh (theo Philip Kosloski, Aleteia)
2023
Đức Thánh Cha tham dự hội nghị của “Sáng kiến toàn cầu Clinton 2023”
Mở đầu bài phát biểu tại cuộc gặp gỡ “Tiếp tục tiến bước” của Sáng kiến Toàn cầu Clinton qua cuộc gọi video trực tiếp, Đức Thánh Cha kêu gọi một nền văn hóa gặp gỡ và đối thoại, đồng thời khẳng định tầm quan trọng của trách nhiệm chung trong việc giải quyết những thách đố toàn cầu ngày nay.
Đức Thánh Cha nhấn mạnh sự cần thiết không để ai bị bỏ lại phía sau, đặc biệt những trẻ em dễ bị tổn thương. Ngài đặt câu hỏi liệu nhân loại có thể cùng nhau vượt qua những thách thức này một cách mạnh mẽ hơn hay không, và than phiền về “sự thờ ơ mang tính toàn cầu”.
Đức Thánh Cha cám ơn cựu Tổng thống Hoa Kỳ Bill Clinton vì đã đề cập đến các vấn đề cấp bách như biến đổi khí hậu, khủng hoảng nhân đạo và mối đe dọa chiến tranh, đồng thời khích lệ mọi người hoán cải cá nhân và tìm hiểu để biết rằng tất cả chúng ta đều có mối liên hệ với nhau, vì thế cần phải cùng nhau vượt qua thử thách.
Với suy nghĩ này, Đức Thánh Cha kêu gọi chấm dứt chiến tranh, ủng hộ con đường ngoại giao và đối thoại, cùng nhau làm việc để ngăn chặn thảm họa sinh thái và giải quyết các trường hợp khẩn cấp về di cư.
Tiếp đến Đức Thánh Cha nhấn mạnh hoạt động của Bệnh viện Nhi đồng Bambino Gesù của Toà Thánh và ca ngợi cam kết của trung tâm y tế này trong việc kết hợp nghiên cứu khoa học với lòng hiếu khách để điều trị cho trẻ em có hoàn cảnh khó khăn. Ngài nhận xét bệnh viện không thể giải quyết các vấn đề của tất cả trẻ em trên thế giới, nhưng luôn tìm cách cho thấy rằng mặc dù có nhiều khó khăn, nhưng có thể tập hợp các nghiên cứu khoa học quan trọng hướng tới việc chăm sóc trẻ em và đón tiếp những ai cần giúp đỡ.
2023
“Giáo hội có thể ngăn chặn chiến tranh không?”
Công lý, tình liên đới, việc chăm sóc trái đất, sự bao gồm, hay tình huynh đệ nói chung, là thông điệp hòa bình của Giáo hội, được thực hiện với sự kiên quyết mạnh mẽ bởi ĐTC Phanxicô và những vị tiền nhiệm của ngài. Một sự dấn thân đặc biệt đã khiến nhà báo Piero Damosso đặt câu hỏi: Liệu Giáo hội có thể ngăn chặn chiến tranh không?
Nội dung “cuốn sách đối thoại” này gồm hơn 50 cuộc phỏng vấn, là một cuộc điều tra của nhà báo Piero Damosso, được thực hiện sau sáu mươi năm thông điệp Pacem in terris – Hòa bình dưới thế.
Đặc biệt tập trung vào cuộc chiến đang diễn ra ở Ucraina, tác giả đặt câu hỏi cho hơn 50 người đối thoại và đi đến nhận thức rằng “điều đó là có thể”, được viện dẫn bởi rất nhiều lý do, trong đó đi từ chính cuộc đối thoại đến thẩm quyền của các bên tham gia, đặc biệt là Đức Thánh Cha Phanxicô, người có vai trò được nhiều nhà lãnh đạo tôn giáo và chính trị công nhận.
Trong một cuộc phỏng vấn với Radio Vatican – Vatican News, nhà báo Damosso khẳng định: “Ngày nay, Giáo hội là ảnh hưởng duy nhất trên thế giới thực sự có khả năng ngăn chặn cuộc xung đột ở Ucraina. Đối mặt với sự bế tắc của cuộc chiến này, Giáo hội có thể kiến tạo các mối quan hệ ngoại giao, có thể biến nó thành một điểm quy chiếu thực sự, cũng bởi vì đây là cuộc chiến giữa các Kitô hữu”.
Đối thoại và đại kết
Tác giả nhấn mạnh rằng con đường đối thoại giữa các tôn giáo và phong trào đại kết đã được Đức Gioan XXIII đón nhận trước, được bắt đầu bởi Công đồng Vatican II, được Đức Phaolô VI đón nhận (hãy nghĩ đến cuộc gặp gỡ với Đức Thượng phụ Athenagoras) và được mở rộng bởi Đức Gioan Phaolô II và từ tinh thần của Assisi, được Đức Biển Đức XVI tiếp tục và được Đức Phanxicô phát triển hơn nữa. Đại kết khi đó trở thành “ngoại giao kiến tạo hòa bình” và đối thoại là mấu chốt của nó.
Ký giả Damosso nói: “Đối thoại là tiền đề cơ bản và bắt đầu từ sự công nhận lẫn nhau. Chúng ta phải có khả năng hoán cải, nếu chúng ta muốn cứu nhân loại, trước một câu hỏi rất đơn giản: người kia có phải là một người anh em hay không? Đây là sự cấp bách mà Đức Phanxicô thúc giục chúng ta với thông điệp Fratelli tutti”, và ông cảnh báo trước thực tế rằng “chúng ta đang quên đi nỗi kinh hoàng của chiến tranh”.
Cầu nguyện cũng đóng một vai trò trung tâm. Nhà báo Damosso nói: “Tôi nhắc lại, đây là cuộc chiến giữa các Kitô hữu. Đối với tất cả các Kitô hữu, việc cầu nguyện là rất quan trọng, nó thay đổi cuộc sống. Chúng ta có một truyền thống yêu kính Đức Mẹ cách đặc biệt, cả ở Nga và Ucraina. Nếu chúng ta tin tưởng hướng về Mẹ Maria, Nữ vương Hòa bình, tôi tin rằng chúng ta sẽ tìm kiếm những con đường hòa bình với quyết tâm cao hơn.
Tính hiện thực của Thông điệp Pacem in terris
Chương đầu tiên của cuốn sách của nhà báo Damosso nói về thông điệp Pacem in terris – Hòa bình dưới thế -, được Đức Gioan XXIII ban hành cách đây 60 năm. Nó được định nghĩa là “Sao Bắc Đẩu” vì tính chất trỗi vượt của các chủ đề được đề cập, trong một văn bản được viết không chỉ cho các tín hữu mà còn cho tất cả những người có thiện chí. Một khái niệm, trong số nhiều khái niệm được nêu bật, mang tính thời sự cao, đó là giải trừ quân bị toàn diện. “Thông điệp kỳ diệu này làm cho chúng ta hiểu rằng chúng ta không thể ở trong thế giới mà không có những giới hạn, và quan điểm giải trừ quân bị toàn diện này là cụ thể, đã dẫn đến sự tiến bộ trong nhiều thập kỷ. Tuy nhiên, ngày nay – tác giả thừa nhận – có vẻ như chúng ta đang đầu hàng khi đối mặt với thực tế khủng khiếp của chiến tranh. ĐTC Phanxicô đang chỉ cho chúng ta thấy Thông điệp Pacem in terris và cách đây 8 năm, khi phát biểu tại Đại hội đồng Liên Hiệp quốc vào năm 2015, ngài đã cảnh báo nhân loại về việc không thể tôn trọng những giới hạn nhất định. Ngài đã phát biểu trong dịp đó về những giới hạn của quyền lực như một ý tưởng hàm chứa khái niệm về quyền”.
Đề án hòa bình và tinh thần của Helsinki
Sau khi nhấn mạnh tầm quan trọng vai trò của châu Âu đối với một tương lai hòa bình ở mức độ toàn cầu, bằng cách phân tích chủ nghĩa dân tộc hiếu chiến của Putin và công việc cần thiết để đạt được một nền hòa bình công bằng và lâu dài, chương thứ tư nói về việc quản trị thế giới, bắt đầu từ tinh thần Helsinki. Tài liệu tham khảo là các thỏa thuận Helsinki năm 1975, giữa cuộc Chiến tranh Lạnh, sau hai năm hoạt động nỗ lực ngoại giao, Vatican được nhìn thấy là một trong những nhân vật chính và mở ra cánh cửa cho kỷ nguyên tan băng trên khắp lục địa châu Âu giữa Tây và Đông. Từ đó Tổ chức An ninh và Hòa bình ở Châu Âu (OSCE) ra đời. Ngày nay OSCE có 57 quốc gia thành viên và liên quan đến hơn một tỷ công dân.
Nhà báo Damosso kết luận: “Ngày nay, châu Âu có thể nói cùng một tiếng nói và hàng trăm ngàn người trẻ châu Âu tại Đại hội Giới trẻ Thế giới ở Lisbon cho chúng ta thấy một trong những gương mặt đẹp nhất của lục địa, của những người làm việc vì một tương lai hòa bình”. Trong cuốn sách, tác giả nói rằng các kế hoạch hòa bình “là một vấn đề cấp bách”.
Ba người phụ nữ đối thoại
Cuốn sách cũng trình bày về ba đóng góp của những người nữ: Paola Severino, cựu bộ trưởng Cộng hòa Ý; Edith Bruck, nhà văn, người sống sót trong các trại tập trung của Đức Quốc xã và Dacia Maraini, nhà văn. Piero Damosso đã thực hiện ba cuộc phỏng vấn sâu rộng, đặt nhiều câu hỏi khác nhau, bao gồm cả câu hỏi đặt tên cho cuốn sách. “Ba người phụ nữ trong cuộc đối thoại” là tiêu đề của chương cuối.
Bà Severino nói: “Tôi nghĩ rằng Giáo hội của Giáo hoàng Phanxicô có thể làm rất nhiều để ngăn chặn chiến tranh” và nhấn mạnh cách “Giáo hoàng thể hiện lòng dũng cảm phi thường” và “chúng ta phải lấy cảm hứng từ ý chí mạnh mẽ thúc đẩy hòa bình của ngài”. Đối với bà Bruck, “Đức Thánh Cha Phanxicô đang làm những gì tốt nhất có thể, ngài đang cử người đến để tạo hòa bình”, nhưng “chúng ta thấy rằng một Giáo hoàng không đủ để tạo hòa bình”. Cuối cùng, đối với bà Maraini, “Giáo hội của Đức Thánh Cha Phanxicô đang cố gắng, nhưng phải đối mặt với sức nặng của một số quốc gia” nên sự thành công của nỗ lực này “sẽ rất khó khăn”.
Hòa bình và các thỏa thuận có thể
Trong số rất nhiều nhân vật được phỏng vấn còn có nhà kinh tế học Stefano Zamagni, người đề xuất một thỏa thuận 7 điểm có thể có giữa Nga và Ucraina, hy vọng có một sự huy động của xã hội để thành lập “Liên minh vì hòa bình”, và nhà tâm lý học Franco Vaccari, chủ tịch của tổ chức quốc tế Rondine-Cittadella della pace, người có phương pháp làm việc dựa trên xác tín rằng để xây dựng các mối quan hệ, người ta không thể bỏ qua những căng thảng, là điều không bao giờ đồng nghĩa với chiến tranh. Ông Vaccari nói: “Những căng thẳng thể hiện sự khác biệt, từ đó nảy sinh sự gặp gỡ để lắng nghe và hiểu nhau, giống như các sinh viên làm ở Rondine”, một ngôi làng ở tỉnh Arezzo, nơi ngày nay có cả người trẻ Ucraina và Nga, Israel và Palestin sống cùng nhau. Đại sứ Pasquale Ferrara cũng đang đề xuất một thỏa thuận hòa bình, kêu gọi phương Tây, châu Âu xây dựng “một hệ thống cùng tồn tại mới giữa các quốc gia”. Ông Andrea Riccardi, người sáng lập Cộng đồng Sant’Egidio, nhận định: “Từ ngữ ‘hòa bình’ đã bị xóa khỏi từ vựng nhưng không bị xoá khỏi mong đợi của con người”. Ông nói thêm: “Hòa bình là mục tiêu của mọi chính sách và mọi xung đột, nhưng ngày nay chúng ta có nguy cơ đánh mất chân trời này”.
