2023
Thượng hội đồng: quyền tối thượng của Đức Giáo hoàng là gì?
Đối với các Hồng y bảo thủ đã bày tỏ mối quan ngại của họ khi khai mạc Thượng hội đồng về tương lai của Giáo hội, Đức Phanxicô nhắc nhở rằng Giáo hoàng là người nắm giữ “quyền bính tối cao” và quyền bính này tương thích với việc thực thi tính hiệp hành. Đó là một tầm nhìn gần đây về quyền tối thượng của Đức Giáo hoàng.
+ Thành ngữ “quyền tối thượng của Đức Giáo hoàng” bắt nguồn từ đâu?
Người ta cũng nói đến “quyền tối thượng của Rôma” hay “quyền tối thượng của Phêrô”. Nó ám chỉ sự ưu việt của người kế vị Thánh Phêrô Tông đồ. Thật vậy, trong các Tin Mừng và Sách Công vụ Tông đồ, Simon, được Chúa Giêsu gọi là Phêrô, chiếm một vị trí đặc biệt trong số 12 Tông đồ. Khi liệt kê tên của họ, Thánh sử Matthêu (10,2) cho biết: “Đứng đầu là ông Simon, cũng gọi là Phêrô”. Chúa Giêsu chỉ tuyên bố với ông: “Anh là Phêrô, nghĩa là Tảng Đá, trên tảng đá này, Thầy sẽ xây Hội Thánh của Thầy, và quyền lực tử thần sẽ không thắng nổi. » (Mt 16,18). Được Chúa Kitô tha thứ sau khi bị ông phản bội, ông đã nhận được từ Người sứ mạng “củng cố” anh em mình.
Chính tại Rôma mà ngài đã chịu tử đạo, giống như một trụ cột khác của Giáo hội là thánh Phaolô thành Tarsô. Do đó, thủ đô Rôma trở thành Tông Tòa duy nhất ở phương Tây, cùng với Giêrusalem, Antokia, Alexandria và Constantinople. Từ những thế kỷ đầu tiên của Kitô giáo, Giám mục Rôma đã đảm nhận một thừa tác vụ cụ thể là phục vụ sự hiệp nhất đức tin và hiệp thông giữa tất cả mọi Kitô hữu. Trong những thời điểm khủng hoảng (đặc biệt là trong nhiều cuộc tranh cãi thần học vào thế kỷ thứ 3 và trong thế kỷ thứ 5), người ta hướng về người trung gian và người bảo vệ truyền thống này.
+ Đâu là những tiến triển nổi bật nhất ?
Vào thế kỷ 11, với cuộc cải cách do Đức Giáo hoàng Grêgôriô VII (1073-1085) thực hiện, Rôma không chỉ trở thành trung tâm của sự hợp nhất các Giáo hội mà còn là nguồn gốc của nó. Chính từ nó mà đức tin trở nên đồng nhất, cũng như phụng vụ và giáo luật, tu sĩ Dòng Tên người Đức Klaus Schatz, chuyên gia về lịch sử Giáo hội, giải thích (1).
Do đó, chúng ta đang dần chuyển từ lôgic quyền lực tăng dần sang lôgic giảm dần, Thibault Joubert, giảng viên khoa thần học tại Đại học Strasbourg, cho biết thêm. “Đức Grêgôriô VII nói rằng Giáo hoàng là “người có quyền bính đứng đầu mọi quyền bính”, nói cách khác, ngài thừa nhận sự tồn tại của các quyền lực khác và ngài tạo ra sự hiệp nhất. Ngài như là thẩm phán tối cao: ngài có thể nghe và phán xét mọi nguyên nhân liên quan đến mình. Hai thế kỷ sau, người kế nhiệm ngài, Đức Innôcentê III, lại nói ngược lại: “Tôi là người có quyền bính mà từ đó tất cả các quyền bính khác phát sinh”. Chính ngài là người đặt ra luật và luật này được điều chỉnh cho phù hợp với hoàn cảnh địa phương. Nhân vật quân chủ này sẽ ngày càng chiếm nhiều chỗ hơn. »
Từ ngai tòa của thánh Phêrô, các Đức Giáo hoàng Grêgôriô XVI (1831-1846) và Piô IX (1846-1878) đã lên án những ý tưởng “lật đổ”: tự do lương tâm, tự do tín ngưỡng và tự do quan điểm; chủ nghĩa duy lý, chủ nghĩa xã hội, các phong trào hiệp hội Thánh Kinh …
+ “Ơn bất khả ngộ của Đức Giáo hoàng” đến từ đâu?
Chính thể chuyên chế của Rôma sẽ lên đến đỉnh điểm với Công đồng Vatican I (1869-1870), được triệu tập vào thời điểm cơ sở chính trị và địa lý của chế độ giáo hoàng biến mất cùng với các lãnh thổ của Nhà nước Giáo hoàng. Hugues Portelli, trưởng khoa khoa học xã hội và kinh tế tại Học viện Công giáo Paris (1), lưu ý: “Trong trường hợp không thể duy trì chế độ quân chủ tuyệt đối thế tục, chế độ này sẽ được chuyển sang bình diện quyền lực tinh thần”. Công đồng Vatican I khẳng định không chỉ “quyền tối thượng của Đức Giáo hoàng trên các Giám mục khác, mà còn sự bất khả ngộ của ngài cả trong các vấn đề thiêng liêng và thế tục”.
Các Giám mục bị ràng buộc bởi “nghĩa vụ phục tùng phẩm trật và vâng phục thực sự”, Công đồng nói rõ thêm, không chỉ trong lĩnh vực đức tin và luân lý, mà còn trong các vấn đề kỷ luật và quản trị của Giáo hội. Hugues Portelli nhấn mạnh, chủ nghĩa tập trung của Rôma đã đạt đến một chiều kích “cho đến lúc đó chưa được biết đến trong Giáo hội”. Để tuyên bố các tín điều và sửa chữa luân lý, Đức Giáo hoàng không còn có nghĩa vụ triệu tập một công đồng nữa, giờ đây duy mình ngài có quyền bính cần thiết.
+ Ngày nay, quyền tối thượng của Đức Giáo hoàng là gì?
Vào đầu thế kỷ XX, nhờ suy tư đại kết, tầm nhìn về mối quan hệ giữa Đức Giáo hoàng và các Thượng phụ khác đã được đổi mới. Giám mục Rôma, theo truyền thống giữ chức giáo hoàng, được công nhận là primus inter pares, người đứng đầu trong số những người ngang hàng. Các Giáo hội Chính thống công nhận Tòa Thượng Phụ Rôma có quyền ưu tiên về danh dự và phẩm giá nhưng không có quyền tài phán đối với các Tòa Thượng phụ khác, như được nêu trong “tài liệu Ravenna” được người Công giáo và Chính thống giáo ký năm 2007. Klaus Schatz phân tích: “Giáo hội Công giáo không thể từ bỏ các định nghĩa của Vatican I, nhưng Giáo hội có thể cho thấy rằng những quyền này tương thích với chủ nghĩa đa nguyên của các Giáo hội và không đòi hỏi sự thống nhất hoàn toàn”.
Ông nói tiếp, các Giáo hội Tin lành không phải tất cả đều là đối thủ của một “trung tâm hay biểu tượng của sự hiệp nhất giữa các Giáo hội” nhưng “họ phản đối chức vị giáo hoàng như một thể chế cần thiết mà Tin Mừng mong muốn”. Đối với họ, vai trò mà Chúa Giêsu gán cho thánh Phêrô chỉ áp dụng cho chính thánh Phêrô, về mặt cá nhân chứ không vượt ra ngoài.
Trong Giáo hội Công giáo, kể từ Công đồng Vatican II (1962-1965), Đức Giáo hoàng đã lắng nghe các giám mục nhiều hơn, trong các chuyến viếng thăm truyền thống của các ngài tới Rôma (ad limina) và qua việc các ngài tham gia vào các Thượng hội đồng về các chủ đề cụ thể: tương lai của Giáo hội, Amazon, giới trẻ, gia đình… Hugues Portelli tóm tắt : “Tầm nhìn của Vatican I nơi chỉ có Giáo hoàng chịu trách nhiệm về Giáo hội hoàn vũ đã được thay thế bằng khái niệm tập đoàn về quyền bính trong và của Giáo hội”.
+ Đức Thánh Cha Phanxicô định vị mình như thế nào so với di sản này?
Trong cách điều hành của mình, giống như những vị tiền nhiệm, Đức Phanxicô ưu tiên tính tập đoàn với các Giám mục, nhưng với mối quan tâm ngày càng tăng là cân bằng quyền lực của Giáo triều, sự cai quản của Giáo hội, vốn ngày càng kháng lại mong muốn cải tổ các thể chế của ngài. Giáo triều thường là mục tiêu phê bình của Đức Phanxicô; năm 2014, ngài tố cáo “15 căn bệnh” của Giáo triều: không chịu tự phê bình, “sự chai đá” tinh thần, quan liêu, ganh đua, hư danh, nói xấu….
Cuộc chiến chống lại chủ nghĩa giáo sĩ trị của ngài ẩn chứa trong cách ngài mở ra các thượng hội đồng cho những người tham gia không phải là giám mục: các tu sĩ và giáo dân, kể cả phụ nữ. Klaus Schatz nhớ lại : “Ngay trong các công đồng thời trung cổ, đặc biệt là từ Latêranô IV (1215), các Đức Giáo hoàng đã triệu tập những người quan trọng trong việc thực hiện các cuộc cải cách và nếu không có họ thì các quyết định sẽ trở thành vô hiệu lực: các linh mục, phó tế cũng như đại diện của các trường đại học và các hoàng tử thế tục”.
Kể từ Đức Gioan Phaolô II, quyền tối thượng của Đức Giáo hoàng đã được thực thi một cách trực tiếp, bên ngoài Giáo hội, trong dư luận. Sự hiện diện của ngài, với tư cách là một nhà lãnh đạo tinh thần, đã nhân lên nhờ những chuyến tông du, những bài phát biểu, sự hiện diện của ngài trên mạng xã hội (tài khoản X của ngài, trước đây là Twitter, có hơn 50 triệu người đăng ký).
Trong tài liệu chuẩn bị, Thượng Hội đồng hiện hành về tương lai của Giáo hội mời gọi chúng ta suy nghĩ về việc đổi mới việc thực thi quyền tối thượng của Đức Giáo hoàng, dựa trên “sự hiệp lực” mới giữa “Dân Thiên Chúa, Giám mục đoàn và Giám mục Rôma – đồng thời tôn trọng những chức năng đặc thù của họ” (số 62).
—————————————————————————————
“Thánh Phêrô, một người yếu đuối, được chọn làm đá tảng”
“Trong lịch sử triều đại giáo hoàng, không thiếu những lỗi lầm và thiếu sót của con người, thậm chí là nghiêm trọng: chính thánh Phêrô cũng thừa nhận mình là một “tội nhân” (Lc 5, 8). Thánh Phêrô, một con người yếu đuối, được chọn làm đá tảng, chính để chứng minh rằng chiến thắng chỉ thuộc về Chúa Kitô chứ không phải là hệ quả của sức mạnh con người. Chúa muốn mang kho tàng của Người trong những chiếc bình dễ vỡ (2 Cr 4,7), xuyên suốt thời gian: như thế, sự yếu đuối của con người đã trở thành dấu chỉ của sự thật về những lời hứa của Thiên Chúa. »
Trích từ La Primauté du successeur de Pierre dans le mystère de l’Église (Quyền tối thượng của đấng kế vị thánh Phêrô trong mầu nhiệm của Giáo hội, số 15), do Đức Hồng y Joseph Ratzinger ( Đức Bênêđíctô XVI tương lai) ký. Bộ Giáo lý Đức tin, ngày 30/10/1998.
———————————————————————–
(1) “Le pouvoir du pape et ses limites” ( “Quyền bính của Đức Giáo hoàng và các giới hạn của nó ”) , tạp chí Pouvoirs, số 162, năm 2017.
————————————-
Tý Linh
(theo Gilles Donada, nhật báo La Croix)
Nguồn: https://xuanbichvietnam.ne
2023
Giáo lý loan báo Tin Mừng 23 – Cuộc đời Thánh Bakhita cho thấy sức mạnh biến đổi của ơn tha thứ
Tiếp tục loạt bài giáo lý nói về lòng nhiệt thành tông đồ, trong bài giáo lý vào sáng thứ Tư 11/10/2023, Đức Thánh Cha đã trình bày với hơn 25 ngàn tín hữu hiện diện tại quảng trường Thánh Phêrô chứng tá của Thánh Josephine Bakhita, vị thánh nô lệ Châu Phi đầu tiên.
Thánh Bakhita đã bị bắt cóc và bị biến thành nô lệ khi mới 7 tuổi, đã phải chịu đựng rất nhiều đau khổ về thể xác và tinh thần. Tuy vậy, khi gặp Chúa Kitô, ngài đã trải nghiệm một sự giải thoát nội tâm sâu sắc, ngài cảm thấy được thấu hiểu và được yêu thương, có khả năng yêu thương và tha thứ, như Chúa Giêsu đã tha thứ cho những kẻ đã đóng đinh Người.
Buổi tiếp kiến bắt đầu với đoạn Tin Mừng thánh Luca 23,32-34, được công bố bằng một số ngôn ngữ chính.
Có hai tên gian phi cũng bị điệu đi hành quyết cùng với Người. Khi đến nơi gọi là “Đồi Sọ”, họ đóng đinh Người vào thập giá, cùng lúc với hai tên gian phi, một tên bên phải, một tên bên trái. Bấy giờ Đức Giê-su cầu nguyện rằng: “Lạy Cha, xin tha cho họ, vì họ không biết việc họ làm.” Rồi họ lấy áo của Người n chia ra mà bắt thăm.
Bài giáo lý của Đức Thánh Cha
Anh chị em thân mến, chào anh chị em!
Trong hành trình các bài giáo lý của chúng ta về lòng nhiệt thành tông đồ, hôm nay chúng ta hãy để mình được soi sáng bởi chứng tá của Thánh nữ Josephine Bakhita, một vị thánh người Sudan. Thật không may, từ nhiều tháng Sudan đã bị chia cắt bởi một cuộc xung đột vũ trang khủng khiếp mà ngày nay người ta ít nói đến; chúng ta hãy cầu nguyện cho người dân Sudan để họ được sống trong hòa bình! Nhưng danh tiếng của Thánh Bakhita đã vượt qua mọi ranh giới và đến được với tất cả những người mà căn tính và phẩm giá của họ bị chối bỏ.
“Là một nô lệ, tôi không bao giờ tuyệt vọng.”
Sinh tại Darfur – thành phố Darfur bị giày xéo! – vào năm 1869, thánh nhân bị bắt cóc đưa đi khỏi gia đình khi mới 7 tuổi và bị làm nô lệ. Những kẻ bắt giữ ngài gọi ngài là “Bakhita”, có nghĩa là “may mắn”. Thánh nhân đã bị bán cho 8 người chủ khác nhau, người này bán cho người khác… Những đau khổ về thể xác và tinh thần mà ngài phải chịu khi còn nhỏ đã khiến ngài mất đi danh tính. Ngài phải chịu đựng sự tàn ác và bạo lực: trên cơ thể ngài có hơn một trăm vết sẹo. Nhưng chính ngài đã làm chứng: “Là một nô lệ, tôi không bao giờ tuyệt vọng, bởi vì tôi cảm nhận được một sức mạnh huyền nhiệm đã hỗ trợ tôi”.
Bí quyết của Thánh Bakhita
Tôi tự hỏi bí quyết của Thánh Bakhita là gì? Chúng ta biết rằng người bị thương tổn thường trở thành người làm người khác thương tổn; người bị áp bức dễ dàng trở thành kẻ áp bức. Ngược lại, ơn gọi của những người bị áp bức là giải phóng bản thân và những kẻ áp bức họ bằng cách trở thành những người phục hồi lòng nhân đạo. Chỉ nơi sự yếu đuối của những người bị áp bức, sức mạnh tình yêu của Thiên Chúa vốn giải phóng cả hai (người bị áp bức và người áp bức) được biểu lộ.
Thánh Bakhita diễn đạt sự thật này rất hay. Một ngày nọ, người giám hộ của ngài đưa cho ngài một cây Thánh Giá nhỏ, và là người chưa bao giờ sở hữu bất cứ thứ gì, ngài đã kiên quyết gìn giữ báu vật của mình. Khi nhìn vào Thánh Giá, thánh nhân cảm nghiệm một sự giải phóng nội tâm sâu sắc bởi vì ngài cảm thấy được thấu hiểu và được yêu thương, do đó đến lượt ngài, ngài có thể cảm thông và thương yêu. Thực ra, ngài sẽ nói: “Tình yêu của Thiên Chúa luôn đồng hành với tôi một cách huyền nhiệm… Chúa đã yêu thương tôi rất nhiều: chúng ta phải yêu thương mọi người… Chúng ta phải có lòng cảm thương!”.
Thực sự, cảm thương có nghĩa là vừa đau khổ với những nạn nhân của biết bao sự vô nhân đạo đang hiện diện trên thế giới, vừa thương cảm những người phạm sai lầm và bất công, không bằng cách biện minh cho họ nhưng là khiến họ trở nên nhân đạo hơn. Đây là sự dịu dàng mà thánh nhân dạy chúng ta, giúp có tình người hơn. Khi chúng ta đi vào logic đấu tranh, của chia rẽ giữa chúng ta, những tình cảm tồi tệ, người này chống lại người kia, chúng ta đánh mất lòng nhân đạo. Và nhiều khi chúng ta nghĩ rằng chúng ta cần lòng nhân đạo, cần nhân bản hơn. Và đây là công việc mà Thánh Bakhita dạy chúng ta: nhân bản hóa, nhân bản hóa chính mình và nhân bản hóa người khác.
Tha thứ
Thánh Bakhita, người đã trở thành Kitô hữu, đã được biến đổi bởi những lời của Chúa Kitô mà ngài suy niệm hàng ngày: “Lạy Cha, xin tha cho họ vì họ không biết việc họ làm” (Lc 23,34). Đó là lý do tại sao ngài nói: “Nếu Giuđa xin Chúa Giêsu tha thứ thì ông ấy cũng sẽ được thương xót”. Chúng ta có thể nói rằng cuộc đời của Thánh Bakhita đã trở thành một dụ ngôn hiện sinh về sự tha thứ. Thật là điều tuyệt vời khi nói về một người rằng “họ có khả năng tha thứ”. Thánh nhân luôn có khả năng làm điều này: cuộc sống của ngài là một dụ ngôn hiện sinh về sự tha thứ. Tha thứ bởi vì rồi chúng ta sẽ được tha thứ. Anh chị em đừng quên điều này: tha thứ, đó là sự dịu dàng của Thiên Chúa đối với tất cả chúng ta.
Sự tha thứ đã giải thoát ngài. Sự tha thứ trước tiên nhận được qua tình yêu thương xót của Thiên Chúa, và sau đó sự tha thứ được ban đã khiến ngài trở thành một người phụ nữ tự do, vui vẻ, có khả năng yêu thương.
Phục vụ
Thánh Bakhita có thể sống phục vụ không phải như một sự nô lệ mà như một biểu hiện của sự tự do trao tặng bản thân. Điều này rất quan trọng: biến mình thành đầy tớ – đã bị bán làm nô lệ – sau đó ngài tự do lựa chọn trở thành đầy tớ, mang lấy gánh nặng của người khác trên vai.
Bằng gương sáng của ngài, Thánh Josephine Bakhita, chỉ cho chúng ta con đường để cuối cùng thoát khỏi cảnh nô lệ và sợ hãi. Ngài giúp chúng ta vạch trần những thói đạo đức giả và tính ích kỷ của mình, vượt qua những oán giận và xung đột. Ngài khuyến khích chúng ta luôn luôn.
Tha thứ không lấy đi bất cứ thứ gì nhưng tăng thêm phẩm giá cho con người
Anh chị em thân mến, sự tha thứ không lấy đi bất cứ thứ gì nhưng tăng thêm phẩm giá cho con người, nó khiến chúng ta hướng cái nhìn từ chính mình sang người khác, để thấy họ cũng mong manh như chúng ta, nhưng luôn là anh chị em trong Chúa. Sự tha thứ là nguồn gốc của lòng nhiệt thành trở thành lòng thương xót và kêu gọi chúng ta đến với sự thánh thiện khiêm nhường và vui tươi, giống như thánh Bakhita.
2023
Đại hội Thượng hội đồng: “Giáo hội đẹp nhất khi những cánh cửa được mở ra”
Trong cuộc họp báo ngắn hôm thứ Ba 10/10 với báo giới, Tiến sĩ Paolo Ruffini, Chủ tịch Ủy ban Thông tin, đã cập nhật về các cuộc thảo luận trong các nhóm nhỏ, cũng như danh sách các thành viên của Ủy ban Báo cáo Tổng hợp vừa được bầu chọn.
Tiến sĩ Ruffini cho biết các tham dự viên đã có được bầu không khí chia sẻ tuyệt vời. Trong các nhóm nhỏ, các thành viên có nhiều cơ hội hơn để phát biểu với nhiều vòng chia sẻ. Các tham dự viên đã làm quen với việc chia sẻ trong nhóm nhỏ ngay từ những buổi tĩnh tâm trước khi khai mạc Đại hội Thượng Hội Đồng. Các nhóm nhỏ đã thảo luận sâu hơn về các mục riêng của phần B1 liên quan đến sự hiệp thông, trong đó có các đề tài: giáo dục, môi trường, đa văn hóa, đồng hành với những người bị gạt ra ngoài lề xã hội và những người di cư. Báo cáo viên của các nhóm nhỏ sẽ trình bày những suy tư của họ tại các phiên họp khoáng đại sắp tới.
Đáng chú ý, Đức Hồng y Joseph William Tobin, Tổng Giám mục Newark (Hoa Kỳ), đã chia sẻ cảm nghĩ của mình khi suy tư và cầu nguyện với đề tài “Một sự hiệp thông có sức lan tỏa”: Vẻ đẹp thực sự của Giáo hội Công giáo “trở nên rõ ràng khi cánh cửa của Giáo hội rộng mở và chào đón mọi người. Chúng tôi hy vọng rằng Thượng Hội đồng sẽ giúp chúng ta cởi mở hơn nữa”. Vị hồng y nói điều này với tư cách một thành viên tham dự Thượng Hội Đồng và một mục tử tại giáo phận của ngài. Đức Hồng Y Tobin cũng bày tỏ sự tin tưởng rằng tiến trình thảo luận giữa các thành viên không bị áp đặt từ trên xuống, và không hề bị bó buộc.
Bên cạnh đó, Đức Hồng Y Tobin cũng nói đến sự hấp dẫn của cuộc đối thoại đa văn hóa. Ngài kể rằng trong nhóm nhỏ của ngài còn có một phụ nữ trẻ đến từ Nga, một bà mẹ đến từ Ukraina, một mục sư Ngũ Tuần đến từ Ghana, một nhà thần học đến từ Malaysia và điều phối viên đến từ Singapore. Chính bản thân vị hồng y cũng đã lớn lên ở Detroit trong một môi trường đa văn hóa, và là một linh mục trong 45 năm đã sống “trong những nền văn hóa không phải của riêng mình”. Ngài mô tả đây là “Thượng Hội Đồng đa dạng nhất mà tôi từng tham gia”.
Cũng theo Đức Hồng Y Tobin, “lựa chọn của Giáo hội là tình huynh đệ: có chỗ cho mọi người”. Ngài chia sẻ một kinh nghiệm mục vụ cụ thể, việc đón tiếp tại Nhà thờ Chính tòa Newark đối với “một cuộc hành hương của những người cảm thấy bị gạt ra ngoài lề xã hội vì xu hướng tính dục của họ”. Vị hồng y nhớ lại bài thuyết trình của một linh mục, người đã nói với nhóm: “Đây là một nhà thờ đẹp, nhưng đẹp nhất khi cửa mở”. Theo ngài, đó là một kinh nghiệm về một Giáo hội mở ra. Và ngài kết luận rằng “trong một thế giới được đặc trưng bởi chủ nghĩa dân tộc loại trừ, bài ngoại, trong đó có những nhà lãnh đạo cam kết xây dựng biên giới, thì lựa chọn của Giáo hội là tình huynh đệ, tính hiệp hành, một lựa chọn giúp chúng ta hiểu rằng tất cả chúng ta đều là anh chị em”.
Sơ Gloria Liliana Franco Echeverri, người Colombia, thuộc Dòng Đức Mẹ Maria, chủ tịch Liên hiệp Tu sĩ Mỹ Latinh (CLAR), nhấn mạnh rằng các tham dự viên mong muốn sống như Chúa Giêsu, Đấng đã làm người, đề cao phẩm giá con người, đón nhận mọi người, và mở cửa cho người khác. Sơ Echeverri cho biết trong các nhóm nhỏ, các tham dự viên đã nhận ra chính xác phẩm giá chung này của mọi người, một phẩm giá bắt nguồn từ sự tôn trọng, hiệp thông và công nhận lẫn nhau. Sơ cũng đề cập đến lời mời gọi lắng nghe tiếng kêu của người nghèo, người di dân, nạn nhân của nạn buôn người được vọng lên trong Đại hội, không chỉ trong những buổi thảo luận, nhưng cả trong bàn ăn.
2023
Quyền năng của Thánh Thần
21.10 Thứ Bảy trong tuần thứ Hai Mươi-Tám Mùa Quanh Năm
Rm 4:13,16-18; Tv 105:6-7,8-9,42-43; Lc 12:8-12
Quyền năng của Thánh Thần
Trình thuật Tin Mừng hôm nay mời gọi các Ki-tô hữu xác quyết một đức tin vào Thiên Chúa và một niềm hy vọng vững vàng vào quyền năng của Chúa Thánh Thần.
Qua đó, Chúa Giê-su nói các môn đệ hãy can đảm làm chứng tá cho Thiên Chúa giữa lòng thế gian, bất chấp những sự bách hại của các quyền lực trần thế, đó là điều kiện để được Chúa Cha trên trời đón nhận.
Chúa Giê-su bảo đảm chắc chắn rằng: Bất cứ ai tuyên xưng Ngài không chỉ bằng lời nói mà còn bằng cách sống trung thành với Giới răn Yêu Thương của Ngài trong cuộc sống hôm nay, thì Ngài sẽ không quên người ấy trong cuộc sống mai sau (x. Lc.12,8-9).
Sự khôn ngoan và sức mạnh phát xuất từ Chúa Thánh Thần sẽ làm cho đức tin của các tín hữa Chúa Ki-tô được trưởng thành, và đức tin đó sẽ thúc đẩy ta dám sống nhân đức anh hùng: Không sợ tai ương, ốm đau, dịch bệnh; không sợ gian khổ, thử thách, hoặc không sợ bắt bớ, tù đày, thậm chí dám chết cho đức Tin Tông truyền của Hội thánh Công giáo.
Chúa Thánh Thần là Thần Chân Lý. Một trong những công việc của Ngài là mạc khải về chân lý, giúp con người hiểu biết chân lý mà hướng lòng họ đi tìm sự thật. Bởi thế, sau khi Chúa Giêsu về trời, thì Thánh Thần đến trên các Tông đồ để dạy dỗ và hướng dẫn các ông. Nhờ Thánh Thần, các ông đã hiểu rõ những lời nói và việc làm của Chúa Giêsu; và cũng nhờ Thánh Thần, các ông đã mạnh dạn rao giảng Tin Mừng như lời căn dặn của Chúa Giêsu trước khi Ngài về trời.
Công cuộc rao giảng Tin Mừng không phải luôn luôn dễ dàng và gặt hái thành công, như lần 3,000 người trở lại liền sau bài giảng của thánh Phêrô vào dịp lễ Ngũ Tuần; nhưng các ông đã gặp biết bao chống đối và bách hại. Dù gặp gian nan thử thách như thế, các ông vẫn hiên ngang rao giảng, vì đó là lời mời gọi của Chúa Giêsu, và hơn nữa, một điều kiện: “Ai tuyên xưng Thầy trước mặt thiên hạ, thì Con Người cũng sẽ tuyên xưng người ấy trước mặt các thiên thần của Thiên Chúa”.
Vả lại, các ông không phải đơn độc trong gian nan, thử thách, vì có Thánh Thần luôn hiện diện với các ông. Thánh Thần sẽ dạy cho các ông phải nói gì khi bị điệu đến trước nhà cầm quyền, vì Danh Chúa Giêsu. Một sự hiện diện gần gũi và cần thiết như vậy của Thánh Thần, khiến cho tội phạm đến Thánh Thần trở thành tội không được tha. Không được tha, không phải vì Thánh Thần là một Thiên Chúa nghiêm khắc trừng phạt; Chúa Thánh Thần vẫn mãi mãi là một Thiên Chúa khoan dung, từ bi, nhân hậu, là Ðấng Bầu Chữa, an ủi, vỗ về các tâm hồn. Không được tha không phải vì Chúa Thánh Thần không muốn tha, nhưng là vì thái độ của con người.
Chúa Giêsu bắt đầu nói trước hết, là với các môn đệ; sau là nói với đám đông tụ họp hàng vạn người đừng lo lắng phải nói gì, làm gì khi bị đưa ra trước công đường vì Thánh Thần sẽ dạy cho anh em biết phải nói điều gì hay phải mạnh dạn tuyên xưng Chúa trước mặt người đời (x. Lc. 12,1; 8; 11-12).
Chắc chắn muốn được Thánh Thần dạy ăn nói ra làm sao, thì mỗi người phải được “thần khải”: Chuyên cần cầu nguyện, học hỏi và suy niệm Lời Chúa, mau mắn vâng nghe lời Người hướng dẫn thì Người mới nói thay cho chúng ta được.
Nhìn vào cuộc sống của các thánh, ta cũng thấy rằng, các ngài cũng rất đỗi bình thường như mỗi người chúng ta. Các ngài luôn chu toàn những bổn phận làm con Chúa và để mọi thứ trong cuộc sống diễn ra theo một tiến trình bình thường. Đời sống các thánh luôn tùy thuộc vào ý muốn của Chúa trên cuộc đời các ngài. Ý muốn đó tạo cho các thánh nhân làm chủ bản thân mình trong sự dâng hiến hoàn toàn cho Chúa định, hay nói cách khác là các ngài luôn để cho Thánh Thần Chúa tác động và dẫn dắt cuộc đời mình.
Chúa Giêsu còn dạy chúng ta rằng: kẻ nào nói phạm đến Con Người thì sẽ được tha, nhưng kẻ nào phạm thượng đến Thánh Thần thì sẽ không được tha. Vậy phải chăng Chúa Thánh Thần không có Lòng thương xót? Thưa không. Người là Ngôi Ba Thiên Chúa, người vẫn là Đấng giàu lòng thương xót. Vậy tại sao chúng ta sẽ không được tha nếu phạm thượng đến Thánh Thần? Có lẽ, khi nói phạm đến Chúa Giêsu, Người sẽ cho chúng ta cơ hội sửa đổi, chính Chúa Thánh Thần sẽ lôi kéo chúng ta trở về từ tội lỗi, sẽ hướng dẫn chúng ta làm lành cùng Thiên Chúa. Thế nhưng, nếu Người đã lôi kéo chúng ta ra khỏi vực sâu tội lỗi mà chúng ta vẫn không chịu rời bỏ nó, cố tình chối bỏ sự hướng dẫn của Người, cố tình chống đối lại Người… chúng ta sẽ phải trả giá cho sự ngoan cố đó.
Qua đó, ta có thể nhận thấy được sự quan trọng của Chúa Thánh Thần, để từ đó, ta biết ý thức hơn về tội lỗi của mình. Mỗi khi nắm bắt được cơ hội sám hối, ta hãy nhớ rằng đó là khi Chúa Thánh Thần chìa tay kéo chúng ta lên và hãy ăn năn thống hối, chớ chối bỏ cơ hội đó vì có thể chúng ta đã chối bỏ sự trợ giúp của Người, đó cũng là một hành vi phạm thượng. Và như Chúa Giêsu đã nói: phạm thượng đến Chúa Thánh Thần sẽ không được tha.
Ý thức được điều đó, mỗi người chúng ta phải biết xem xét lại mọi hành động của mình, chớ nên vì sự ngoan cố mà khiến mình lỗi phạm đến Chúa Thánh Thần. Thiên Chúa là Đấng giàu Lòng thương xót, Người sẽ tha thứ lỗi lầm ta phạm nếu ta biết thật lòng ăn năn sám hối. Vì thế, mỗi khi có cơ hội, hãy trở về hòa giải với Người và không quên đó là hồng ân mà Chúa Thánh Thần đã trao cho mỗi người chúng ta.
