2020
Tại sao gọi là Tuần Thương Khó?
Chúa nhật lễ lá, bắt đầu Tuần thánh. Lịch Phụng vụ cũng ghi là Chúa nhật tưởng niệm cuộc thương khó của Chúa. Trước đây, mùa thương khó bắt đầu hai tuần trước lễ Chúa Phục sinh, tại sao bây giờ rút còn một tuần?
Trước cuộc cải tổ lịch phụng vụ năm 1969, thì mùa thương khó bắt đầu từ Chúa nhật thứ năm mùa chay, và như vậy kéo dài hai tuần. Mùa thương khó gây một ấn tượng khá lớn cho các tín hữu. Tất cả các tượng ảnh trong nhà thờ đều bị phủ bởi màn tím cho đến lễ Vọng Phục sinh. Nhiều nhà thờ còn căng một bức màn lớn che khuất tất cả gian thánh. Có người giải thích là Chúa Giêsu đi trốn, bởi vì dựa trên bài Phúc âm thuật lại việc Chúa lánh mình khi dân chúng mưu toan ném đá Người. Thế nhưng với cuộc canh tân sau công đồng Vaticanô II, thì lịch phụng vụ không còn nói đến mùa thương khó nữa, mà chỉ còn Mùa Chay kéo dài cho tới lễ Phục sinh. Tuần lễ trước Phục sinh không phải là tuần Thương khó, nhưng từ ngữ “tưởng niệm cuộc Thương khó của Chúa” chỉ còn được gắn cho hai ngày: Chúa nhật lễ lá (Dominica in Palmis de Passione Domini) và thứ sáu tuần thánh (Feria VI in passione Domini). Vào hai dịp đó, phụng vụ đọc bài Thương khó: ngày Chúa nhật thì dựa theo Phúc âm nhất lãm thay đổi tùy theo chu kỳ ABC; còn ngày thứ Sáu thì luôn luôn đọc Phúc âm theo thánh Gioan.
Tại sao cuộc cải tổ phụng vụ lại bỏ mùa Thương khó?
Thực ra thì không phải là bỏ, nhưng mà muốn trở lại với truyền thống cổ xưa thôi. Từ thời xưa, các Kitô hữu dành 40 ngày để chuẩn bị mừng Lễ Chúa Phục sinh. Vì thế thời gian đó được gọi là Mùa 40 (trong tiếng La-tinh là Quadragesima), chứ không phải là mùa thương khó. Trong thời gian này, các dự tòng được chuẩn bị qua chương trình huấn giáo sâu đậm để lãnh các bí tích khai tâm. Còn những người đã được rửa tội rồi thì được mời gọi xét mình về cuộc sống đức tin, xem mình đã trung thành thế nào đối với lời cam kết. Dĩ nhiên, đây cũng là thời gian để thực hành công cuộc cải hoán, qua việc cầu nguyện, hãm mình, bác ái. Vào thời Trung cổ, khi mà con số dự tòng không còn đáng kể nữa, thì công cuộc huấn giáo cũng bớt phần quan trọng. Từ đó, người ta chuyển sang việc suy gẫm cuộc Thương khó của Chúa.
Thương khó là gì?
Chúng ta có thể khảo sát ý nghĩa của từ này theo tiếng Hán Việt cũng như theo nguyên gốc La-tinh. “Thương” ở đây không có nghĩa là “yêu”, nhưng có nghĩa là “đau xót, đau đớn xót xa”, chẳng hạn như khi nói “thương tâm, đau thương, thảm thương, sầu thương”. Còn “khó” không phải trái nghịch với dễ; nhưng “khó” ở đây có nghĩa là “khổ”, chẳng hạn như “khốn khó, khốn khổ”. Nói tóm lại “thương khó” cũng tương tự như là “đau khổ”. Trên thực tế, nhiều bản dịch Việt ngữ dùng những từ “Tử nạn, Khổ nạn, Chịu nạn, Chịu khổ hình”. Đó là nói đến từ ngữ Hán Việt. Đến khi bước sang nguyên bản La-tinh, ta sẽ còn thấy nhiều ý nghĩa khác nữa. Từ “thương khó” dùng để dịch từ “passio” trong tiếng La-tinh (sang tiếng Pháp và tiếng Anh thì thêm chữ “n”: passion). Thế nhưng từ passio có tới ít là bốn nghĩa.
1/ Thường thì người ta giải thích rằng passio bởi động từ “patior, pati” (có nghĩa: chịu đau khổ).
2/ Một ý kiến khác hiểu tiếng passio theo nghĩa triết học, tức là “thụ động” (bị động), nhận hành động từ một chủ động khác. Như vậy “passio” đối ngược với “actio”.
3/ Một ý kiến thứ ba cho rằng passio bắt nguồn từ pathos trong tiếng Hy-lạp, và như vậy có nghĩa là cảm xúc, xúc động. Cũng theo chiều hướng đó, mà trong tâm lý học, passio thường được dịch là “đam mê, say mê, mê man”.
4/ Sau cùng, có người tán giải passio (passus) theo nghĩa là đi ngang qua, để nói đến cuộc vượt qua của Đức Giêsu: người trải qua sự khổ và cái chết để tiến vào vinh quang Phục sinh.
Trong 4 nghĩa vừa nói, nghĩa nào đúng hơn cả?
Trong bối cảnh của phụng vụ, thì nghĩa thứ nhất sát hơn nữa: passio có nghĩa là chịu đau khổ. Nói một cách cụ thể hơn, trong buổi cử hành phụng vụ, Hội thánh đọc lại các bài trình thuật Phúc âm thuật lại cuộc “khổ nạn” của Chúa Giêsu, từ lúc dùng bữa tiệc Vượt qua với các môn đệ (hoặc là từ khi vào Vườn Cây dầu, theo thánh Gioan), rồi bị bắt, bị xử án, bị đánh đòn, vác thánh giá lên núi Calvariô, nơi chịu tử hình. Chúng ta có thể đọc trình thuật này trong Phúc âm theo thánh Marcô chương.14-15; thánh Mattêu chương 26-27; thánh Luca chương 22-23; thánh Gioan chương 18-19. Cũng nên biết, là trong tiếng La-tinh, từ “passio” cũng được áp dụng cho trình thuật kể lại cuộc tử đạo của các Kitô hữu cổ thời.
Phụng vụ chỉ tưởng niệm cuộc Thương khó của Chúa Giêsu qua việc đọc bài Phúc âm nói về cuộc Thương khó của Chúa mà thôi hay sao?
Không chỉ có vậy mà thôi. Lòng đạo đức của các tín hữu còn tìm những hình thức khác để tưởng niệm cuộc Thương khó của Chúa qua các việc đạo đức cũng như qua cuộc sống. Xét về các hình thức đạo đức, thì các sử gia thường trưng dẫn những chứng tích bắt đầu từ thế kỷ IV (khoảng năm 380) bên Thánh địa, do một thiếu nữ tên là Egeria kể lại. Vào Chúa nhật lễ Lá, các tín hữu tại Giêrusalem tụ họp ở núi Cây dầu, rồi từ đó rước lá tiến vào thành thánh. Nhưng nhất là kể từ tối thứ năm tuần thánh trở đi, các tín hữu họp nhau tại một nhà thờ tên là Eleona trên núi Cây dầu để tham dự buổi canh thức đầu tiên, từ 7 giờ tối cho đến 11 giờ. Đến nửa đêm, bắt đầu buổi canh thức thứ hai, tại một nhà thờ gần đó, và nghe đọc bài Sách thánh về cuộc hấp hối của Chúa. Đến sáng thứ 6, thì đám rước di chuyển lên núi Calvariô, để nghe đọc bài tường thuật về cuộc Thương khó và cử hành việc suy tôn Thánh Giá. Và suốt ngày thứ sáu, nhiều cuộc suy gẫm lời Chúa được tổ chức bên cạnh nhà thờ kính nhớ mộ Chúa. Có thể nói được là từ đó trở đi, các tín hữu tìm cách diễn lại cảnh thương khó của Chúa theo gương các tín hữu Giêrusalem, không những là vào ngày thứ năm thứ sáu tuần thánh, mà còn kéo dài quanh năm nữa. Một hình thức khá quen thuộc đối với các tín hữu Việt Nam là ngắm 14 chặng đường thánh giá, đi theo Chúa Giêsu từ lúc bị xử án, rồi vác thập giá lên núi Calvariô, nơi Người chịu đóng đinh, chịu chết và mai táng. Nên biết là hình thức 14 chặng như hiện thời chỉ mới thành cố định từ thế kỷ XVII, chứ trước đây nó linh động hơn, chẳng hạn có nơi tính đến 7 lần ngã xuống đất, hoặc bắt đầu từ vườn Cây dầu, rồi bị bắt, bị điệu qua toà Anna, Caipha, vv.
Ở Việt Nam còn có hình thức ngắm 15 sự thương khó Chúa Giêsu nữa, phải Không?
Có nhiều hình thức để suy gẫm sự thương khó của Chúa. Một hình thức đơn giản hơn cả là suy gẫm 5 dấu thánh: hai dấu nơi bàn tay; hai dấu nơi bàn chân, và một dấu nơi cạnh sườn. Một hình thức nữa là suy gẫm 7 lời của Chúa Giêsu trên thập giá. Hình thức ngắm 15 sự thương khó của Chúa thì dựa trên một căn bản khác. Tại sao lại có 15 ngắm? Tại vì nó hoạ theo giờ kinh Phụng vụ. Trong ba ngày cuối Tuần thánh, tại các đan viện hay nhà thờ chánh toà, người ta cử hành phụng vụ giờ kinh cách long trọng. Ở chính giữa nhà thờ người ta thắp một giá đèn hình tam giác, với 15 ngọn nến. Tại sao 15 ngọn nến? Có người gỉai thích là tượng trưng cho Chúa Giêsu với 12 tông đồ và 2 môn đệ. Sự thực thì 15 ngọn nến tương đương với 9 thánh vịnh giờ kinh Đêm (nay gọi là kinh Sách) và 5 thánh vịnh giờ Kinh sáng, cộng với thánh ca Tin mừng Benedictus. Cứ sau mỗi thánh vịnh thì người ta tắt đi một ngọn đèn. Tại sao vậy? Có người giải thích là nó tượng trưng cho các tông đồ và môn đệ lần lượt rút lui, bỏ Chúa một mình. Nhưng cũng có người giải thích cách đơn giản là đời xưa khi chưa có đèn điện thì tất nhiên là phải thắp nhiều đèn để đọc sách. Tuy nhiên, trời càng lúc càng về sáng tỏ, cho nên có thể tắt bớt dần dần các ngọn nến đi. Cho dù giải thích nguồn gốc lịch sử như thế nào đi nữa, chúng ta cũng phải khâm phục các vị thừa sai trước đây đã tìm cách để giáo dân tham gia vào phụng vụ Giờ kinh của Giáo hội, dĩ nhiên không phải bằng việc hát các thánh vịnh La-tinh (mà họ chẳng hiểu gì) nhưng qua việc suy gẫm các sự thương khó của Chúa.
Việc tưởng niệm cuộc thương khó của Chúa chỉ dừng lại ở việc suy gẫm mà thôi hay sao?
Còn nhiều hình thức khác nữa. Một hình thức khá phổ thông bên Âu châu trước đây là diễn tuồng Thương khó, mà Đức Cha Nguyễn bá Tòng cũng đã thích ứng sang tiếng Việt. Nên biết là tuồng Thương khó không phải chỉ diễn ra trên sân khấu, nhưng còn trở thành hoạt cảnh, nhiều khi biến thành một cuộc rước kiệu. Dù là suy niệm bài thương khó dựa theo Phúc âm, dù là đi đàng Thánh giá hay ngắm các sự thương khó, hoặc tham dự tuồng Thương khó, người tín hữu muốn nhớ đến Chúa Giêsu đã chịu đau khổ vì tội chúng ta; từ đó ta muốn tỏ lòng biết ơn bằng cách thông dự vào sứ mạng cứu độ của Người. Thánh Phaolô đã viết rằng tôi muốn chịu đóng đinh vào thập giá với Đức Kitô, muốn hoàn toàn sống cho Đấng đã yêu mến và hiến mạng vì ta (Gal 2,19-20). Thánh Phaolô cũng muốn lãnh nhận mọi đau khổ để góp phần vào cuộc khổ nạn của Chúa hầu giúp ích cho Hội thánh (Col 1,24). Thánh Phêrô tông đồ, trong bài thánh thi đọc vào kinh chiều Chúa nhật mùa Chay, cũng nhắc cho các tín hữu hãy coi cuộc thương khó của Chúa như một gương mẫu để dõi bước theo Người: “bị nguyền rủa, Người không nguyền rủa, chịu đau khổ mà chẳng ngăm đe, nhưng một bề phó thác cho Đấng xét xử công bình” (1Pr 2,23). Thiết tưởng đó là ý nghĩa chính của các việc cử hành cuộc Thương khó của Chúa từ những thế kỷ đầu tiên tại Giêrusalem cho đến chặng đường thánh giá ngày nay: đó là chúng ta muốn đi theo Chúa.
Lm. Giuse Phan Tấn Thành
2020
15 bí quyết của Mẹ Têrêsa giúp bạn trở nên khiêm nhường hơn

Lòng tự trọng cao là sự tự tin trong giá trị hoặc khả năng của một người. Hãy nghĩ đến Mẹ Teresa. Người nữ tu nhỏ bé đó có lòng tự trọng rất cao. Mẹ thậm chí đã dám lên tiếng chống lại nạn phá thai tại National Prayer Breakfast năm 1993 trước những cử tọa được mời là Tổng thống Bill Clinton, và Phó Tổng thống Al Gore, và hai người phu nhân của họ. Đó là sự can đảm. Đó là sự tự tin. Và đó là sự khiêm nhường.
Tất cả các thánh nhân hiểu rằng lòng khiêm nhường là con đường để xây dựng một lòng tự trọng cao qua cách đặt mình lệ thuộc vào Thiên Chúa chứ không phải bản thân mình. Đó là việc hiểu được rằng mọi sự đều đến từ Thiên Chúa và Thiên Chúa là tất cả.
Mẹ Teresa gọi đức khiêm nhường là mẹ của mọi nhân đức. Mẹ nói: “Nếu bạn khiêm nhường thì chẳng có điều gì chạm đến bạn, chẳng phải khen cũng chẳng phải chê, vì bạn biết mình là ai. Nếu bạn có bị chê thì cũng đừng ngã lòng. Nếu người ta gọi bạn là thánh thì cũng đừng đặt mình lên một bệ thờ.”
3 cách hiểu sai về lòng khiêm nhường
Tuy nhiên, lòng khiêm nhường thường bị hiểu sai. Một số người nghĩ rằng nó đồng nghĩa với sự tự hạ thấp bản thân. Trong một bài giảng Lễ Chúa nhật gần đây, Cha Jared Johnson, cha phó của Nhà thờ Chính tòa Chúa Thánh Linh ở Bismarck chỉ ra ba cách hiểu sai về lòng khiêm nhường.
Cách hiểu sai #1. Tâm hồn khiêm nhường thiếu sự tự tin. “Những người khiêm nhường nhất ngoài kia nằm trong số những người tự tin nhất và đôi khi những người kiêu hãnh nhất lại là những người thiếu chắc chắn nhất,” cha nói. “Những tâm hồn khiêm nhường biết rằng cuộc sống của họ lệ thuộc vào Thiên Chúa và biết đâu là những điều giá trị nhất — là những điều trường tồn chứ không phải chóng qua. Họ chọn Thiên Chúa là quý giá nhất trên hết mọi sự.
Cách hiểu sai #2. Lòng khiêm nhường thì không lôi cuốn. Cha giải thích, “Lòng khiêm nhường thật sự luôn luôn cuốn hút. Chính người khiêm nhường là người biết lắng nghe và quan tâm đến người khác, đối nghịch lại với người chỉ chú ý đến bản thân mình và cố làm ra vẻ giỏi giang.”
Cách hiểu sai #3. Người khiêm nhường muốn được người khác công nhận là khiêm nhường. Cha Johnson giải thích rằng ý muốn thể hiện sự khiêm nhường để mọi người thấy là lòng khiêm nhường giả tạo. Thật ra, cha nói rằng họ muốn làm điều gì đó vì nó là điều đúng đắn, và họ không tìm kiếm lời khen.
Cha Johnson nói, “Cản trở lớn nhất không cho chúng ta đến gần hơn với Thiên Chúa là khi chúng ta tin tưởng vào bản thân chúng ta hơn là tin cậy vào Ngài.” Bằng cách đề cao nhân đức khiêm nhường, cha giải thích rằng chúng ta trở nên tự tin hơn và cho phép mình đến gần với Thiên Chúa hơn. “Khi chúng ta nhìn đến thánh giá, chúng ta nhìn thấy ai là người khiêm nhường và ai là không. Chúng ta nhìn thấy một con người hy sinh vì những người khác. Ước mong chúng ta bắt chước lòng khiêm nhường đó để chúng ta có thể có kinh nghiệm về Thiên Chúa trong sự toàn vẹn của Ngài.”
Những cách để trở nên khiêm nhường
Mẫu gương của Mẹ Teresa chứng minh tất cả ba điểm phân tích của Cha Johnson. Khi là người đứng đầu của Dòng Thừa sai Bác ái, Mẹ Teresa giữ một danh sách những cách để gieo trồng đức khiêm nhường cho các nữ tu dưới sự chăm sóc của m
- Nói về bản thân càng ít càng tốt.
- Luôn chú ý đến những việc của mình, không chú ý đến việc của người khác.
- Tránh tính tò mò (Mẹ ngụ ý nói đến tính tò mò muốn biết những điều không liên quan đến mình.)
- Không gây cản trở vào công việc của người khác.
- Đón nhận những bực dọc nho nhỏ bằng sự hóm hỉnh tốt lành.
- Đừng chăm chú vào những lỗi lầm của người khác.
- Đón nhận những lời phê bình ngay cả khi không đáng.
- Nhường nhịn trước ý cương quyết của người khác.
- Chấp nhận những xúc phạm và tổn thương.
- Chấp nhận sự khinh rẻ, bị lãng quên và thiếu quan tâm.
- Luôn nhã nhặn và dịu dàng ngay cả khi bị một người nào đó khiêu khích.
- Không tìm cách để được thán phục và được yêu mến.
- Không bảo vệ bản thân núp sau phẩm giá của riêng mình.
- Nhường nhịn trong những cuộc tranh luận, ngay cả khi bạn đúng.
- Luôn chọn công việc khó khăn hơn.
Sức mạnh của lòng khiêm nhường
“Chính sự kiêu ngạo đã biến thiên thần thành quỷ; chính sự khiêm nhường làm cho con người trở thành thiên thần.” — Thánh Augustine
Quỷ thích rời bỏ Thiên Đàng và sống đời đời trong Hỏa ngục hơn là trở nên khiêm nhường trước Đấng Tạo hóa. Và nếu có lòng khiêm nhường thì A-đam và Ê-va đã không nghĩ rằng họ có thể không vâng lời Thiên Chúa và trở nên giống như Ngài.
Nhưng qua lòng khiêm nhường của chúng ta và vâng phục Thiên Chúa thì quỷ bị đánh bại. Thánh Gioan Vianney, the Curé of Ars, ngài thường bị quỷ quấy nhiễu, đã thuật lại một cuộc đối thoại với hắn. Quỷ nó: “Ta có thể làm mọi việc mà ngươi làm, ta cũng có thể thực hiện việc ăn năn của ngươi, ta có thể bắt chước ngươi mọi việc. Nhưng chỉ có một điều ta không thể làm, ta không thể bắt chước sự khiêm nhường của ngươi.”
“Đó là lý do tại sao ta đánh bại ngươi,” Thánh Gioan Vianney trả lời.
Lòng khiêm nhường dường như là một nghịch lý, nhưng Chúa Giê-su thì nhân từ và khiêm nhường trong lòng (Mt 11:29). “Người đã hoàn toàn trút bỏ vinh quang, mặc lấy thân nô lệ, trở nên giống phàm nhân sống như người trần thế.” (Phl 2:7)
Thế gian không biết được giá trị hay hiểu được sức mạnh của lòng khiêm nhường nhưng chúng ta thì hiểu, vì đó là điều Chúa Giê-su đã dùng để giải thoát chúng ta. “Cũng như Con Người đến không phải để được người ta phục vụ, nhưng là để phục vụ và hiến dâng mạng sống làm giá chuộc muôn người.” (Mt 20:28)
[Nguồn: ncregister]
Chuyển Việt ngữ: TRI KHOAN
2020
Chuyện cần làm …
CHUYỆN CẦN LÀM THÌ KHÔNG LÀM VÀ NGƯỢC LẠI
Đâu đó bỉ nhân có đọc được một câu chuyện kể đại loại như thế này :
Ở một giáo xứ nọ, Cha Xứ muốn cái gì cũng phải là hoàn hảo, cái gì cũng phải là chỉn chu. Ai nào đó không làm theo ý hay không chỉn chu thì Cha Xứ cáu gắt.
Chuyện xảy ra thường nhất và lớn nhất trong Giáo Xứ đó chính là việc kiệu Mình Thánh Chúa. Lần nào cũng như lần nấy không tránh khỏi những sơ xuất. Với tính cách và ước muốn hoàn hảo, Cha Xứ cương quyết cũng như cố gắng không để một điều gì sơ xuất nữa.
Và rồi, ngày mà cả giáo xứ kiệu Thánh Thể lại đến. Ngày hôm đó, quả thật là cả giáo xứ đi kiệu Mình Thánh Chúa hết sức trang nghiêm và sốt sắng. Có thể nói là cuộc rước này hoàn hảo trên mức hoàn hảo. Thế nhưng rồi đến khi kết thúc giờ kiệu và Chầu Mình Thánh Chúa, chú bé giúp Lễ phát hiện ra một điều hết sức quan trọng là Cha Xứ quên đặt Mình Thánh Chúa vào Mặt Nhật !
Có thể đây chỉ là câu chuyện giả tưởng nhưng dù sao đi chăng nữa cũng để lại cho người nghe bài học nào đó trong cuộc đời. Trong cuộc đời, có khi người ta lo lắng ba cái chuyện bên ngoài, lo lắng ba cái chuyện đâu đâu còn chuyện chính yếu lại quên đi mất.
Ở đời, làm sao có sự hoàn hảo để mà mong muốn. Hẳn nhiên ai ai cũng cầu toàn nhưng làm gì có thể cầu toàn được vì phàm là người, sơ xuất là chuyện dĩ nhiên, trừ phi những người ngạo mạn và tự cao tự đại coi mình là nhất và vô địch thiên hạ.
Nói tới đây, hình dung ra chuyện khóc mướn. Có những gia đình muốn thể hiện mình có hiếu nên bèn thuê người đi khóc mướn. Chỉ cần bỏ ra một chút tiền thế là đám tang thật rình rang vì có nhiều người khóc … mướn. Những người kia chả biết gì, chỉ cần có tiền thì họ khóc mướn vô tội vạ.
Nực cười thay là có những chuyện chả dính dáng gì đến đời mình, chả dính dáng gì đến ơn cứu độ của mình mà mình cứ phải lăn tăn. Cần gì phải lăn tăn như thế ? Chuyện quan trọng nhất của mỗi người đó là tìm sự bình an trong tâm hồn, tìm ơn cứu độ.
Những ngày này, ai ai cũng biết đại dịch đã đến, đang đến và sẽ hoành hành trên cả nhân loại. Chuyện quan trọng nhất bây giờ phải chăng đó là thinh lặng để cầu nguyện, để xin Chúa cho mỗi người tin vào Chúa, bám vào Chúa để được giải thoát, để được chữa lành.
Cạnh đó, ngoài chuyện lo về đức tin, ai ai cũng biết sẽ có cuộc khủng hoảng kinh tế xảy ra không muộn. Cứ như tình hình hiện nay thì đã xảy ra những vụ án do tình hình Covid19. Lo nồi cơm, lo cho gia đình của mình không lo nhưng lại cứ đi lo chuyện của người khác, quả thật là buồn cười.
Tiếc thay trong cuộc sống có những chuyện nhỏ nhen, có những chuyện xem ra nó chẳng ảnh hưởng gì đến đời sống và nhất là ơn cứu độ của mình nhưng người ta cứ lao vào để mà săm soi, để mà xét nét. Có khi người ta xét nét từng câu chữ, có khi người ta xét nét từng lời ăn tiếng nói, có khi người ta xét nét những thứ bên ngoài. Chuyện cần nhất vẫn là nội tâm của mỗi người.
Ai nào đó lăn tăn cũng dễ hiểu chứ không khó. Đơn giản là họ không có bình an trong tâm hồn. Nếu ai nào đó bình an thật sự trong tâm hồn thì cho dẫu có những náo động xôn xao thì cũng chẳng ảnh hưởng gì đến họ. Như đâu đó ta đã đọc được tâm tình : “Tâm bất biến giữa dòng đời vạn biến”. Với câu này, ta nhận ra tâm của ta như thế nào trước những nổi trôi, những biến cố của cuộc đời. Có khi chỉ vì ham vui, có khi chỉ vì cái tôi của ta quá lớn để ta cứ chạy quanh quanh như chiếc đèn cù vậy mà ta không tìm thấy sự bình an.
Hẳn ta còn nhớ Thánh Vịnh 61 chỉ dạy :
“Chỉ trong Thiên Chúa mà thôi,
hồn tôi mới được nghỉ ngơi yên hàn”.
Và quan trọng hơn cả đó chính là :
“Ơn cứu độ tôi bởi Người mà đến,
duy Người là núi đá, là ơn cứu độ của tôi”
Vâng ! Ơn cứu độ của mỗi người chúng ta chính là nơi Thiên Chúa và chỉ mình Thiên Chúa. Chính vì thế, nên chăng tìm Thiên Chúa chứ đừng đi tìm những thứ khác lăn tăn để lỡ khi ta nằm xuống ta mất cả chì lẫn chài.
Trong những ngày bước vào cuộc Thương Khó của Thầy Chí Thánh Giêsu, mỗi người chúng ta được mời gọi đi vào cõi lặng để nhìn, để ngắm, để suy tình yêu cứu độ mà Thiên Chúa yêu thương và dành cho mỗi người chúng ta. Thay vì đi tìm những chuyện hão huyền, những chuyện lăn tăn thì ta nên trở về với Chúa, trở về với chính mình để tìm ơn Cứu Độ mà thôi. Đơn giản, Ơn Cứu Độ vẫn là điều cốt yếu nhất của đời Kitô hữu chúng ta.
