2020
Chạm vào những vết thương
Chạm vào những vết thương – Chúa Nhật Kính Lòng Thương Xót Chúa
Đức Giêsu đã bị giết chết, các môn đệ co cụm, sợ hãi trước một tương lai tăm tối. Họ không dám đi đâu, làm gì vì “sợ người Do thái.”
Trong sự bế tắc ấy, Đức Giêsu Phục sinh hiện ra với họ nói: “Bình an cho anh em.” Dù chưa hiểu hết ý nghĩa của sự bình an, nhưng với sự hiện ra của Thầy, còn mang những dấu tích của cuộc khổ nạn trên thân thể, đã làm bùng lên trong lòng họ sự vui mừng, phấn chấn. Nỗi mừng vui trọng đại này được Giáo hội lưu lại trong kinh nguyện Mùa phục sinh, như muốn nhắn gửi cho con cái mọi thời về cái tâm bất biến giữa giòng đời vạn biến: “Các môn đệ vui mừng. Halleluia. Vì được nhìn thấy Chúa. Halleluia.”
Những thương tích trên thân thể Đức Giêsu vẫn còn đó, như dấu chỉ cho một tình yêu cao cả và lòng xót thương vô bờ Người dành cho nhân loại, mà các môn đệ có sứ mạng rao truyền: “Như Chúa Cha đã sai Thầy, Thầy cũng sai anh em.”
Các môn đệ thi hành sứ mạng này, không phải để trừng trị, trả thù những kẻ gian ác, nhưng là để công bố sự tha thứ và hòa giải, làm chứng cho Tin mừng Phục sinh, cho ơn Cứu Chuộc nơi Đức Giêsu chứa chan, cho lòng Thương Xót vô biên Người vẫn dành cho con người, từ đời nọ đến đời kia.
Sứ mạng này, các môn đệ sẽ thực hiện cùng với Đấng Phục Sinh luôn ở cùng, như một thẩm quyền tối hậu để hậu thuẫn cho sứ điệp, như một thế lực để duy trì sức mạnh thừa sai, để soi sáng cho tâm trí và làm bừng lên ngọn lửa nhiệt thành.
Sứ mạng ấy đã tồn tại theo thời gian lịch sử, trải qua những sự thử thách ghê gớm giữa sự sống và cái chết, giữa đức tin và khoa học, giữa mầu nhiệm và những vấn đề thuộc bình diện nhân loại. Đừng vội trách Tôma là kẻ cứng tin, như các tông đồ khác, Tôma cũng chỉ hướng tới thập giá, dù ông can đảm: “Chúng ta hãy tới đó để cùng chết với Ngài.” (Ga 11,16)
Rất yêu mến thầy, nên khi thấy thầy chịu chết, ông đau đớn rút vào trong cô tịch. Vì thế, khi Đấng Phục Sinh hiên ra, Tôma đã vắng mặt. Nhưng Tôma thật lòng, dám nói lên sự nghi ngờ vướng mắc của mình và tuyên bố sẽ chẳng tin nếu không được thấy tận mắt, sờ tận tay vào những vết thương của Chúa.
Tám ngày sau, các môn đệ tập hợp lại, lần này có Tôma. Các cửa đều đóng kín. Sự gặp gỡ với Đấng Phục Sinh lần trước vẫn chưa giải thoát họ khỏi nỗi sợ hãi. Họ cần có sức mạnh Chúa Thánh Thần thì mới dạn dĩ xuất hiện trong tư thế là chứng tá cho Đức Giêsu chịu đóng đinh và phục sinh.
Đức Giêsu biết rõ tâm hồn Tôma, nên lần hiện ra này, Người sẵn sàng để cho ông kiểm chứng “Đặt ngón tay vào đây và hãy nhìn xem tay Thầy. Đưa tay ra và đặt vào cạnh sườn Thầy. Đừng cứng lòng nữa nhưng hãy tin.” Tôma sụp xuống trong sự kinh hoàng, thốt lên lời tuyên xưng đức tin: “Lạy Chúa của con, Lạy Thiên Chúa của con.”
Không ít lần, trong những thời khắc khủng hoảng tăm tối nhất, người tín hữu vẫn ao ước được Lòng thương xót Chúa chạm đến như tông đồ Tôma. Nhưng những vết thương của Giáo Hội, của các quốc gia, của từng gia đình và của mỗi người gây ra bởi dại dịch Coronavirus chính là những vết thương của Chúa Kitô, và những vết thương ấy phải được nhìn thấy để chạm vào.
Làm sao có thể chạm vào những vết thương của Chúa, khi chúng ta nhắm mắt trước mọi vết thương rách toác của người đồng loại trong trận đại dịch này?
Làm sao có thể hôn kính những vết thương trên Thân Thể Chúa Kitô, đang khi bỏ mặc những vết thương trên thân thể, trong tâm hồn, trong đời sống của những người khốn cùng đang kề bên?
Làm sao có thể tuyên xưng niềm tin vào Đức Kitô Phục sinh chiến thắng sự chết, khi hằng ngày chúng ta vẫn dửng dưng với những cái xấu và ác, mặc nhiên thừa nhận sự gian dối, nạn tham nhũng và không dám nói lên, hoặc đồng tình với những người đang đấu tranh cho sự thật, đang phải trả giá cho công lý?
Làm sứ giả cho lòng thương xót của Chúa là mạnh dạn chỉ ra các vết thương trong xã hội, cho thấy cái cơ cấu của tội lỗi là nguồn gốc của mọi vết thương. Cần lắm một tình yêu liên đới và lòng thương cảm, “xót ai cũng là xót phận mình” mới có thể cùng nhau tìm kiếm những phương thế mới để chữa lành.
Và thuốc chữa lành chính là sống Lòng thương xót Chúa khi bắt tay làm những điều tốt đẹp; khi tìm kiếm chân lý tránh xa sự giả dối; khi biết yêu thương, tìm kiếm sự tha thứ – hòa giải chứ không nuôi dưỡng sự trả thù.
Lạy Chúa Giêsu
Nhân loại hôm nay đang trải qua bao là sự dữ.
Con người hôm nay đang sống trong tuyệt vọng lo âu.
Chúng con đến kêu cầu Chúa giàu lòng xót thương.
Ngài mở ra con đường, đưa đến tận nguồn suối yêu thương.
Lạy Chúa Giêsu con tin tưởng nơi Chúa.
Lạy Chúa Giêsu, con tín thác vào Chúa.
(Lời Bài hát Chúa giàu lòng xót thương của Lm. Giuse Vũ Đức Hiệp)
Lm. Giuse Ngô Văn Kha, CSsR
2020
Lời trách mắng dễ thương
Yêu ai thì ta hay trách người đó !
Vâng ! Thường thì vậy ! Hễ người ta còn yêu ai đó thì người ta trách người mình yêu. Đáng sợ nhất là khi người ta im lặng. Im lặng với đồng nghĩa là chấm hết để rồi còn trách là còn yêu.
Khi ta sống chung, sống gần và sống với ai đó mà người ta phản ứng bằng cách im lặng và không nói lời nào là ta đủ hiểu tâm trạng cũng như tâm tình của người đó. Như hai vợ chồng, khi còn yêu còn thương là người ta còn đối thoại và thậm chí còn tranh luận cũng như trách móc nhau. Khi tình yêu đã cạn thì có đánh họ cũng chả khai có hành hạ thì họ cũng không thèm nói. Thái độ im lặng mới là thái độ đáng sợ nhất trong cuộc đời con người.
Nhìn vào tương quan giữa Chúa Giêsu và các môn đệ thì ta thấy tương quan rất khác. Dù các môn đệ bỏ Thầy, chối Thầy nhưng Thầy không bao giờ bỏ các môn đệ của Thầy để rồi ta thấy Chúa không im lặng với các môn đệ. Ta thấy các môn đệ rơi vào cảnh ngộ bị trách yêu : “Sau cùng, Người tỏ mình ra cho chính Nhóm Mười Một đang khi các ông dùng bữa. Người khiển trách các ông không tin và cứng lòng, bởi lẽ các ông không chịu tin những kẻ đã được thấy Người sau khi Người trỗi dậy”.
Cũng dễ hiểu thôi ! Niềm tin vào một con người đã chết và vùi trong huyệt mộ mà sống lại xem ra là chuyện hão huyền và chuyện không bao giờ có trong cuộc đời. Các môn đệ kém tin và cứng tin là chuyện rất bình thường. Và từ trước đến giờ chưa nghe nói đến chết sống lại chứ đừng nói đến chuyện thấy.
Điều ta thấy nơi các môn đệ rất dễ thương đó là sau những lần trách móc đó, các ông dường như không lẫy cũng chẳng hờn. Gần nhất đó chính là tông đồ trưởng Phêrô. Phêrô đã bị trách, bị mắng xối xả : “Satan, hãy lui ra đàng sau Thầy … Gà chưa gáy 2 lần thì anh đã chối Thầy 3 lần …” Rồi khi thương Thầy, muốn bảo vệ sinh mạng Thầy thì Phêrô lấy gươm quất ngay tên đầy tớ và tưởng được khen nhưng lại nhận được thái độ không ủng hộ từ phía Thầy.
Nếu như tự ái cũng như tự cao tự đại, có lẽ Phêrô là người bỏ Thầy đi từ lâu lắm rồi, từ cái lúc mà bị nguyền rủa là Satan chứ không đợi đến lúc chối Thầy ở vườn Dầu. Ta lại bắt gặp được tình thương của Phêrô dành cho Thầy sao mà mãnh liệt quá, sao mà nồng nàn quá.
Con người, ai ai trong thân phận làm người, ắt hẳn không tránh khỏi những lúc con tim mềm yếu. Mềm thì mềm thật nhưng yếu chắc chắn là không bởi lẽ sau khi tin nhận Thầy đã sống lại thật thì các tông đồ và nhất là Phêrô đã không ngần ngại thí mạng vì Thầy. Thí mạng đến đỉnh điểm của Phêrô như mọi người đều nghe tương truyền lại là Ngài xin được đóng đinh ngược với Thầy vì không xứng đáng với tình thương của Thầy dành cho mình.
Và, tưởng nghĩ nếu nhu ngày hôm nay, Chúa Giêsu hiện diện với chúng ta, chắc chắn chúng ta cũng nghe những lời mắng yêu như Thầy đã mắng các môn đệ xưa. Đơn giản là lòng tin của ta vào Chúa Giêsu cũng chả hơn gì các môn đệ và còn thậm chí tệ hơn các môn đệ nữa.
Nhìn vào thực trạng của cuộc sống, không ít Kitô hữu và ngay cả bản thân ta, nhiều lần nhiều lúc ta cũng chẳng để cho Đức Kitô Phục Sinh sống trong đời mình. Ta cũng sẽ chẳng bao giờ dại để đi nói với mọi người rằng tôi không tin Chúa nhưng chính trong cung cách sống và nhất là hành động của ta, tất cả đã nói lên niềm tin của chúng ta.
Đời ta, có khi bị thử thách một chút xíu là ta tìm đủ mọi cách để thoát ra cái khó khăn đó bằng cách chạy theo ma thuật, chạy theo bói toán thay vì đến với Chúa. Hoặc có khi ta đẩy Chúa ra khỏi cuộc đời bằng thái độ kém tin hay bất tín với Chúa. Có người, chỉ vì vài lý do đơn giản mà cũng chả đâu ra đâu nhưng cũng đã quay lưng với Chúa.
Thái độ sống của chúng ta quá bám víu vào quyền lực, vào danh vọng, về vật chất cũng đủ tố cáo chúng ta về hành vi kém tin vào Chúa hay nói đúng hơn là minh chứng cho chúng ta thờ của cải vật chất và loại trừ Chúa. Mỗi người chúng ta tự kiểm điểm được niềm tin của ta vào Chúa chứ không cần ai khác.
Ngày hôm nay, Chúa cũng trách chúng ta để rồi chúng ta nhìn lại niềm tin cũng như thái độ sống của chúng ta.
Cứ nhìn lại cuộc đời, nhiều lúc người khác bị sóng gió ba đào còn hơn cả chúng ta nhưng họ không hề than thân trách phận. Còn ta, chỉ một chút xíu thôi là ta đã la toáng lễn cũng như không còn tin vào Chúa nữa.
Trong những ngày gần cuối tuần Bát Nhật Phục Sinh, niềm tin vào Chúa lại được gợi lên cho mỗi người chúng ta. Đặc biệt trong mùa đại dịch này, nhà nhà, người người đang phải đối diện với những khó khăn ngay trước mắt chúng ta thì chúng ta trả lời với Chúa như thế nào về niềm tin của chúng ta vào Chúa.
Chúa còn yêu nên Chúa còn trách và ngược lại, khi còn được trách là khi đó ta thấy mình còn được Chúa yêu. Hãy can đảm, hãy mạnh dạn như các tông đồ xưa và nhất là Phêrô, ta hãy mạnh dạn và can đảm làm chứng về Chúa và cho Chúa.
Gương mẫu mà chúng ta bắt gặp đó chính là thái độ của các môn đệ khi bị điệu ra các hội đường và công nghị. Dù gặp muôn ngàn gian nan thử thách và có khi phải ngồi tù nhưng các môn đệ vẫn xác tín niềm tin của mình vào Chúa Giêsu Phục Sinh.
Phần ta, ngày hôm nay, ta không còn gặp phải cảnh bắt bớ tù đày nữa. Ta gặp thách đố niềm tin ngày hôm nay là sống và làm chứng cho sự thật. Xin Chúa thêm ơn cho mỗi người chúng ta để khi nghe lời mắng yêu của Chúa, ta biết cân chỉnh cuộc đời của ta sao cho phù hợp hơm với Thánh ý của Chúa và nhất là xin cho mỗi người chúng ta mạnh dạn lên đường loan báo Tim Mừng Phục Sinh như lời căn dặn của Chúa với các môn đệ ngày xưa.
2020
Các nhà lãnh đạo doanh nghiệp Tây Ban Nha tổ chức hỗ trợ các dòng tu chiêm niệm
Một nhóm các doanh nhân ở Tây Ban Nha đã cùng nhau đưa ra sáng kiến “TuClausuraMiClausura” để giúp đỡ và hỗ trợ cho các cộng đoàn dòng chiêm niệm không thể tự chu cấp cho cuộc sống vì đại dịch Covid-19.
Sáng kiến có chủ đề: “lá phổi của linh hồn chúng ta cần sự hỗ trợ của bạn hôm nay.”
Bình thường, nhiều cộng đoàn dòng tu chiêm niệm tự hỗ trợ cuộc sống của mình bằng việc làm và bán các sản phẩm hay sản xuất các sản phẩm nông nghiệp, bên cạnh các đóng góp và đầu tư. Nhưng khi toàn quốc gia đang ở trong tình trạng cách ly xã hội do sự đe dọa lây lan của virus corona, các cộng đoàn đan tu này không có các khách hàng mua sản phẩm.
Nhóm doanh nhân giải thích: “1/3 số nữ tu chiêm niệm sống ở Tây Ban Nha và hoàn cảnh hiện tại đang ảnh hưởng nặng nề do việc bán trực tiếp các sản phẩm thủ công của họ bị suy giảm; trong hầu hết các trường hợp, đây là nguồn thu nhập chính của các tu viện và đan viện.”
Nhận được lời cầu nguyện cách nhưng không, nên giúp đỡ cách nhưng không
Ông Santos Blancos, một trong những người cổ võ sáng kiến nói: “Rất khó để biết rõ về nhu cầu của các cộng đồng chiêm niệm kiên cường, khiêm hạ và khắc khổ, không bao giờ kêu than và luôn hy sinh cho người khác.” Ông Ivan Jacques, cũng là một trong những người cổ võ sáng kiến, nói thêm: “Chúng tôi quyết định liên kết và thực hiện những gì mỗi chúng tôi biết làm. Nếu chúng tôi nhận được lời cầu nguyện của họ cách nhưng không, chúng tôi muốn giúp họ cách nhưng không để họ tiếp tục cầu nguyện cho chúng tôi.”
Mục tiêu của chiến dịch là nhằm tạo điều kiện cho các doanh nghiệp, gia đình, cơ sở và giáo xứ có thể giúp đỡ bằng cách đóng góp thời gian và công việc của họ, hoặc đóng góp tài chính cho lối sống trong nhiều trường hợp mà thế giới chưa biết đến.
Chiến dịch sẽ chuyển tất cả các khoản đóng góp thông qua Quỹ Declausura, là tổ chức đã giúp đỡ và thúc đẩy đời sống đan tu từ 14 năm nay. Chiến dịch cho biết 100% tất cả các khoản quyên góp sẽ được chuyển đến các tu viện và đan viện thiếu thốn. (CNA 16/04/2020)
Hồng Thủy – Vatican
2020
Giá trị cao quý của ngành y, đừng đánh mất lần nữa!
Giá trị cao quý của ngành y, đừng đánh mất lần nữa!
Cùng nhìn lại một chút, thái độ này trong xã hội Việt Nam trước lúc xảy ra đại dịch ra sao? Đã từng có người vác dao đòi chém một bác sĩ của Bệnh Viện Huyết Học Tp. HCM, vì ông này đòi hàng chục triệu đồng mỗi bệnh nhân, chỉ để hứa sẽ xét nghiệm và chích thuốc giảm đau cho họ. Hàng loạt thân nhân tố cáo một phó giám đốc một bệnh viện quận, người gặp riêng họ để thu tiền mổ dịch vụ, không có một tờ hoá đơn. Đài truyền hình VTV đưa phóng sự chuyện bệnh viện Xanh-pôn Hà Hội cắt đôi que thử HIV và viêm gan B, gian lận tiền y cụ bất chấp thiệt hại vô vàn người khám bệnh… Nếu có nói về các bác sĩ, không ít người Việt Nam đã từng nghĩ ngay rằng đó là một tầng lớp giàu có, kiếm tiền dễ như trở bàn tay, trên đau khổ của người nghèo, qua việc vẽ ra vài toa thuốc, vài loại xét nghiệm, bán y cụ… mà căn bệnh thật vốn chẳng cần đến thế. Người nhập viện thường kể cho nhau nghe kinh nghiệm phải để ý thái độ của nhân viên y tế. Nếu họ không vui, phải làm cho họ vui bằng quà cáp, phong bì kín đáo, gồng mình chi tiền, mong được đối xử tử tế qua những ngày đau đớn…
Vẫn biết rằng còn đó những bác sĩ phục vụ rất tận tâm, nhưng dường như con số này không vực dậy nổi thành kiến của dân chúng, vốn đã ít nhiều bị tổn thương khi chẳng may phải vài lần nhập viện hay đi khám.
Covid-19 buộc chúng ta thay đổi suy nghĩ
Nay, cơn đại dịch đang đánh thức mọi người, từ y đức của bác sĩ đến định kiến của dân chúng. Nó gần như buộc mỗi người nhìn nhận lại giá trị của người làm ngành y. Không còn thời gian cho những nhũng nhiễu và toan tính phi đạo đức, dù đó là toan tính của nhân viên y tế hay của phía bệnh nhân. Trước mắt chỉ có sự sống và cái chết, sống cùng nhau hoặc sẽ chết cùng nhau. Bệnh tật và bình an của bệnh nhân gắn liền với đau khổ và an vui của bác sĩ. Những bác sĩ hàng tháng không được về gia đình, họ mòn mỏi mong ngóng bệnh nhân lành bệnh, đau đáu ước mong đại dịch qua đi, vì giờ đây hai niềm hạnh phúc đã gắn liền, hạnh phúc của bệnh nhân và cộng đồng gắn liền với hạnh phúc đoàn tụ và nghỉ ngơi của người bác sĩ. Chỉ còn ước ao đau khổ sớm chấm dứt trên khuôn mặt mỗi người, nhân viên y tế như được trở lại với giá trị “thiên thần” vốn có của ngành nghề cao quý này. Người bệnh và cộng đồng như lập tức biết gạt qua định kiến, đặt lại niềm tin và sự tôn trọng đối với giới bác sĩ.
Năm 1964, Louis Lasagna, Hiệu trưởng của Trường Y khoa tại Đại học Tufts, đã thêm vào lời thề y đức đầy trang trọng (truyền thống gọi là lời thề Hippocrates) mà mỗi sinh viên y khoa phải tuyên đọc trước khi ra trường điều này: “Tôi sẽ luôn nhớ rằng nghệ thuật của việc chữa bệnh hay của khoa học, cần sự ấm áp, cảm thông, và sự hiểu biết, điều đó có thể lớn hơn con dao của bác sĩ phẫu thuật hoặc thuốc của người dược sĩ.” Nếu điều này và nhiều điều khoản khác trong lời thề về y đức có phải làm người bác sĩ trả giá bằng nhiều hy sinh và vất vả, thì lúc này chính là thời điểm mà người thầy thuốc chống dịch nếm cảm rõ nhất cái giá đắt đỏ ấy.
Tâm thức nhân bản đã trở lại
Việc cộng đồng xã hội nhanh chóng thay đổi thái độ từ bất mãn sang trân trọng, yêu mến và biết ơn giới y khoa cho thấy lâu nay dân chúng (ít là một bộ phận lớn) vốn không hề đánh mất tâm thức về tương quan nhân văn với giới y khoa. Những định kiến và bất mãn nảy sinh lâu nay vốn chỉ là kết quả của những tổn thương, mà xu thế thương mại hoá ngành y khoa đã trót gây ra cho dân chúng. Truyền thống đạo đức vẫn còn đó trong thâm sâu mỗi người. Thái độ tôn trọng được lấy lại hiện nay cho thấy người dân luôn chân nhận mối tương quan với giới thầy thuốc như một mối tương quan cao đẹp của tình người, nhìn nhận họ như những chiến sĩ với sứ mệnh cao cả trên sự sống thể lý và tâm lý của những cá nhân khác, chứ không đơn thuần là một ngành nghề kiếm tiền. Khi người bác sĩ không còn biểu hiện của việc nhũng nhiễu, cảm thức nhân bản của cộng đồng dành cho họ được hồi sinh.
Cái nhìn Ki-tô giáo về người thầy thuốc
Dưới góc độ của Ki-tô giáo, hành vi chữa lành của Chúa Giê-su cho chúng ta một cái nhìn sâu xa hơn ý nghĩa của việc chăm sóc y tế. Thông qua bệnh tật và đau khổ thể lý, Chúa Giê-su chọn đi vào tương quan yêu thương và cứu vớt toàn bộ con người bệnh nhân, đi vào tình bạn tâm hồn và giải thoát họ bằng tin vui rằng họ thực sự là công trình của Thiên Chúa, xứng đáng được yêu thương, giữ gìn và cứu chuộc (x. Ga 9, 1-5). Vì vậy, việc Chúa Giê-su chữa lành bệnh tật của một người luôn gắn liền với sự cứu vớt nhân phẩm và giá trị toàn diện của họ, nên phải đồng thời với việc dẫn vào ơn tha thứ (x. Mc 2, 9; Lc 5, 20; Mt 9, 5) và giúp họ “đừng phạm tội nữa” (Ga 5, 14); nó đi đôi với mối quan tâm lau khô nước mắt người thân: “bà đừng khóc nữa” (Lc 7, 13); nó không thể tách rời với trách nhiệm đưa người bệnh về lại với vòng tay yêu thương của gia đình và cộng đồng (x. Lc 5, 24; Mt 8, 4; Mc 1, 44); và còn hướng dẫn người được chữa lành bước vào đời sống mới trong đức tin (x. Ga 9, 35-29).
Sự tận tuỵ của Chúa Giê-su thể hiện qua việc sẻ chia đau khổ với bệnh nhân tới độ bị xua đuổi và cô đơn thay cho bệnh nhân. Khi người phong hủi đã được chữa lành và về lại với bầu khí nồng ấm của gia đình và cộng đồng, thì Chúa Giê-su lãnh lấy nỗi cô đơn bị xua đuổi vào nơi hoang mạc thay cho anh (x. Mc 1, 45). Sự sẻ chia đau khổ tận căn nhất cuối cùng được Ngài thể hiện trên Thập Giá. Như thế, việc chữa lành của Chúa Giê-su trở thành dấu chỉ của tình yêu cá vị mà Thiên Chúa dành cho con người, công trình tuyệt diệu mà Ngài sẵn sàng cứu chuộc ngay cả khi phải trả bằng giá máu của Người Con Một (x. Ga 9, 1-5).
Người thầy thuốc Công Giáo trở thành người mang sứ mệnh bước theo Chúa Giê-su, thông qua cửa ngõ bệnh tật thể lý của người bệnh, để biểu lộ hình ảnh sống động về sự ân cần chữa lành của Đức Ki-tô đầy thương xót dành cho mỗi một bệnh nhân, là công trình quý báu do chính Thiên Chúa đã tạo dựng và cứu chuộc. Đó là một ơn gọi, một sứ mệnh thiêng liêng, vượt xa hơn hẳn một ngành nghề.
Kết luận
Không phải ngẫu nhiên mà truyền thống các trường y khoa phương tây, từ thời Hippocrates cổ đại cho đến hôm nay, luôn bắt các tân bác sĩ tuyên đọc lời thề y đức trước khi ra trường. Rất nhiều trường y trên thế giới còn trang trọng mời gọi mỗi người hãy thề trước Sách Thánh và Đấng mình tôn thờ bằng đức tin. Với người Ki-tô giáo, điều đó lại càng đẹp và đúng nghĩa hơn.
Virus Corona đã buộc chúng ta dừng lại và chân nhận giá trị đích thực mà người thầy thuốc phải xây dựng, cũng như thái độ tương xứng mà cộng đồng cần có đối với họ. Xã hội, chính sách, pháp luật… cần có sự tôn trọng và nâng đỡ xứng đáng cho những hy sinh cao quý về tâm, về kiến thức và cả đời sống cá nhân của người làm ngành y. Thiếu sót ý thức của một bên nào, dù của người trong ngành hay của chính sách xã hội, cũng đều có thể huỷ hoại giá trị của một thành phần rất quan trọng, mà truyền thống Việt Nam vốn có lý do để gọi họ cách trân trọng là “thầy”.
Cám ơn đại dịch Covid-19 vì một hồi chuông thức tỉnh. Một mai đại dịch qua rồi, liệu chúng ta có vụng về đánh mất giá trị ấy một lần nữa không? Lm. Trần Thái, SDB – CTV Vatican News
Tình trạng Việt Nam trước đại dịch
