2020
“Với cuộc khủng hoảng này, có một môi nguy hiểm toàn cầu là đặt sự phi lý vào trung tâm chính trị“
Nếu cuộc khủng hoảng sức khỏe liên quan đến coronavirus mang khía cạnh bi thảm, nhà nghiên cứu về văn hóa Hy Lạp Pierre Judet de La Combe, giám đốc nghiên cứu tại Trung tâm Khoa học Xã hội (EHESS) báo động về sự nguy hiểm của một loại diễn giải huyền thoại về các sự kiện.
Báo La Croix: Con khủng hoảng sức khỏe hiện nay có mang nét bi thảm không?
Pierre Judet de La Combe: Bi thảm là tình trạng thảm họa không thể đảo ngược lại được. Cái sau không còn như cái trước, và nó trải qua bằng thảm họa. Đó là cuộc khủng hoảng về trật tự của sự vật, của xã hội mà trong đó cá nhân con người, căn tính con người bị đảo lộn. Tình trạng khó xử của bi kịch là hoàn toàn, không lối thoát, gần như luôn dính vào câu chuyện về mối quan hệ huyết thống.
Chẳng hạn nhân vật Agamemnon phải giết con gái mình để được tham chiến ở thành Troie, đã viện dẫn các ý tưởng về luật pháp và công lý để hợp pháp việc giết hại chính gia đình mình, có nghĩa là tự bắt mình chịu các khổ hình nặng nhất.
Trong cuộc khủng hoảng hiện nay, may thay chúng ta không ở trong các tình trạng thái cực như thế. Nhưng việc phải lọc bệnh nhân để chữa, cần quyết định giữa hai giải pháp mà không giải pháp nào có thể chấp nhận được, như thế thì thật đau lòng. Thêm nữa, không được thăm người thân trong giờ phút cuối ở bệnh viện vì sợ lây nhiễm, cũng tạo xung đột giữa hai mệnh lệnh, một bên là bổn phận với xã hội cần phải cách ly và một bên là tiếng gọi thiết yếu của tâm hồn mình.
Chúng ta có cùng thớ thịt với người thân, cùng máu mũ mà chúng ta phải cắt đứt vì họ qua đời. Không gần họ trong giây phút cuối dù họ không còn biết gì là cả một thảm họa.
Có phải nạn dịch cũng làm gợi lên hình ảnh anh hùng đó không?
Chủ nghĩa anh hùng là chiến đấu chống một loại thứ trật nào đó, vượt những gì có thể có trong thực tế. Các người chăm sóc hoàn thành sứ vụ của họ mà họ không có trong tay các phương tiện cần thiết để làm, họ anh hùng theo nghĩa họ phải hành động như thể họ mạnh hơn thế. Nhưng khó khăn của họ không đến từ số phận, nó đến một phần từ các quyết định chính trị, chẳng hạn như việc không làm việc trong các bệnh viện công.
Và ngoài việc nhắc đến các nhân vật phi thường, tốt hơn nên đưa ra khái niệm về đức hạnh. Vì ngoài các đức tính như can đảm, thận trọng, cũng còn các đức tính khác như bác ái, hy vọng nơi những người săn sóc, đó là các đức tính mang tính tập thể chứ không phải chỉ các cá nhân phi thường. Mỗi người đều tự do với lương tâm của mình, và họ tự đặt mình tuân thủ các đức hạnh này, đó là điều phi thường.
Đó sẽ là một trong các bài học lớn của cuộc khủng hoảng này?
Bi kịch đòi hỏi chúng ta, và đó là lý do nó luôn chất vấn chúng ta, suy nghĩ về những gì tạo nên xã hội. Các vị thần, các luật lệ, chính trị, tất cả đều làm cho chúng ta gắn kết với nhau. Cá nhân bi thảm không tồn tại một mình. Nó bị phá vỡ bởi một mâu thuẫn triệt để giữa cái tôi riêng tư nhất và các thể chế bao lên nó. Trong bi kịch, các cảm xúc, sợ hãi và thương hại là vừa cả cá nhân lẫn tập thể. Trên sân khấu, dàn hợp xướng phản ứng với âm mưu, hoảng loạn, cố gắng tìm hiểu chuyện gì đang xảy ra.
Sẽ phải có một cái về sau.
Bi kịch luôn là một suy tư về thực tế, luôn vượt ra ngoài những gì chúng ta có thể xây dựng một cách hợp lý. Triết lý, khoa học tìm cách đưa ra một lý thuyết về thực tế. Bi kịch không bằng lòng với nó, vì thực tế, cụ thể là các vị thần đối với bi kịch là ràng buộc, là nguyền rủa. Cái thực bị đóng lại vì chúng ta như tù nhân của các lựa chọn không thể thực hiện được, nhưng dù sao chúng ta cũng hành động.
Liệu bi kịch có thể đưa ra một lối thoát cho các mâu thuẫn này không?
Một vài vở kịch – không phải tất cả – có đưa ra một giải pháp. Những gì bi kịch nói ra là đưa ra một lý thuyết hài hòa xã hội trong một xã hội không hoạt động, vì cái ác là nọc độc dữ dội và nó ở khắp nơi. Thay vì cố gắng đẩy nó ra ra khỏi cổng thành thì phải hội nhập nó vào. Nhập nó vào trong các thể chế phần không nắm bắt này, cho nó một phần vào những điều mà chúng ta không biết.
Nhưng trên hết đừng thờ nó. Tổ chức chính trị xung quanh điều phi lý này là một sự nguy hiểm vô cùng lớn. Đặt huyền thoại vào trọng tâm chính trị đã tạo ra những điều khủng khiếp nhất: chủ nghĩa phát xít và gần đây là chủ nghĩa thánh chiến. Trong tác phẩm Huyền thoại của Quốc gia (Le mythe de l’État) của tác giả Ernst Cassirer xuất bản năm 1945, ông phân tích chủ nghĩa phát xít như một loại chính sách cực kỳ hiện đại của huyền thoại. Xem con người không làm chủ số phận mình dẫn đến sự man rợ.
Có một nguy cơ nào trong việc diễn giải các sự kiện chúng ta đang sống không?
Vì tất cả các lý do mang lại cho nó một chiều kích thảm kịch, chúng ta thấy nảy sinh ra cám dỗ muốn cho nó một ý nghĩa huyền thoại cho cuộc khủng hoảng sức khỏe hiện nay. Một vài người sẽ nói đây là thần thánh phạt, hay là lỗi của người phương Tây, và chúng ta cũng còn nghe nói đây là thiên nhiên phạt. Điều này vô nghĩa. Có một nguy hiểm toàn cầu và khắp nơi, với cuộc khủng hoảng này chúng ta đặt điều phi lý vào trung tâm chính trị.
Trong tai ương hiện nay, có các yếu tố bi thảm, nhưng không phải các vị thần áp đặt lên chúng ta tai ương này. Vi-rút thì luôn tồn tại, và chúng ta có các giải pháp khoa học như vắc-xin. Mọi thứ được mở ra, con người có thể hành động cho tương lai. Mặt khác có một bi kịch về lý do chính trị và lịch sử.
Nếu sau giai đoạn cách ly này, các hệ thống chính trị trở lại như cũ thì sẽ rất khủng khiếp. Điều này có nghĩa xã hội chúng ta hoàn toàn bị chặn lại, dù có ý chí cải cách, cấu trúc không thể lay chuyển và không còn cho phép chúng ta hành động. Như thế mới thực sự bi thảm.
Giuse Nguyễn Tùng Lâm dịch
2020
Bình an của Thầy
BÌNH AN CỦA THẦY !
Trên đời này, có lẽ ai ai cũng sợ ! Đơn giản là vì con người nhỏ bé quá, mong manh quá, dễ chết quá nhất là với sự đe dọa tính mạng của con virus quái ác đang hoành hành trên toàn thế giới.
Ai ai cũng sợ và sợ nhất là giờ chết đến. Kèm theo đó là sợ mất người yêu, mất danh dự, mất quyền lực, mất của cải vật chất. Thế cho nên, con người rất cần sự bình an. Và, bình an mà con người tìm kiếm phải chăng là bình an giả tạo, bình an phù du. Chỉ có bình an của Chúa Giêsu mới là bình an thật, bình an vĩnh viễn trong cuộc đời của Kitô hữu chúng ta.
Cảm nghiệm được sự bình an của Chúa, ta thấy Đức Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II khi khởi đầu sứ vụ Giáo Hoàng của Ngài, Ngài nói với nhân loại : “Đừng sợ !”. Không chỉ khởi đầu mà suốt cả triều đại Giáo Hoàng của Ngài, Đức Thánh Cha luôn luôn nói với cộng đoàn tín hữu và cả thế giới “Đừng Sợ”.
Thật thế ! Ai nào đó có Đức Kitô Phục Sinh trong tâm hồn sẽ bảo đảm không sợ. Ngược lại, ai chưa có Đức Kitô Phục Sinh sẽ cứ mãi mãi loay hoay tìm kiếm sự bình an trong trần gian và càng tìm càng kiếm thì lại càng bất an vì tất cả ở đời này cũng chỉ là phù vân.
Khi con người sợ thì con người thích bình an và thèm khát sự bình an.
Ta thấy người Do Thái khi chào nhau hay nói “Shalom”. “Shalom” của người Do Thái cũng chỉ là chúc bình an cho nhau như chúng ta vẫn thường chào nhau theo kiểu của con người. Con người cần hơn nữa và trên mọi sự đó chính là sự bình an đến từ Chúa.
Ta thấy mỗi khi Thánh Lễ bắt đầu và kết thúc, ta được chủ tế chào với lời chào Bình an và chúc Bình an của Chúa : “Bình an của Chúa ở cùng anh chị em” … “Anh chị em hãy trao bình an (của Chúa) cho nhau” … “Lễ xong chúc anh chị em về bình an”
Để ý, ta thấy lần nào cũng như lần nấy, khi hiện ra với các môn đệ, Chúa Giêsu đều chào và chúc các môn đệ : “Bình an cho anh em”. (và hơn một lần Chúa nói Bình an của Thầy không phải như bình an của thế gian). Và, khi có sự bình an của Thầy, ta thấy các môn đệ không còn sợ hãi nữa.
Nếu như trước đây, các môn đệ ru rú đóng kín cửa ở trong nhà vì sợ liên lụy đến con người mang tên Giêsu (không chỉ đóng kín mà còn khóa chặt cửa nữa. Nếu như thời nay thì chắc các môn đệ gắn camera và xem camera luôn luôn để canh chừng có người lạ đến nơi các ông đang trú ngụ nữa) thì khi đón nhận sự bình an các ông thay đổi. Các môn đệ không còn ở trong nhà nữa mà lên đường loan Tin Mừng Phục Sinh.
Điểm rất đặc biệt mà ta phải chú ý nữa đó là khi Chúa hiện ra, Chúa ban bình an thì kèm theo đó là bàn tay với dấu đinh và cạnh sườn với vết đòng đâm thâu. Chúa không hiện ra với một thân xác hoàn mỹ nhưng với con người đau khổ Giêsu trên thập giá. Điều này muốn nói với các môn đệ và cả chúng ta nữa rằng phải qua đau khổ, phải qua cái chết nhục nhã mới đến Phục Sinh và đến vinh quang.
Điều này có nghĩa rằng phải qua đau khổ mới đến vinh quang, qua cái chết mới phục sinh. Và, ta có thể dễ thấy nơi hình ảnh của hạt lúa. Hạt lúa gieo vào lòng đất nếu không thối đi, không chết đi thì không sinh nhiều bông hạt khác mà chỉ trơ trọi một mình.
Ai nào đó bước theo Đức Kitô trên con đường khổ giá và chết đi cho chính mình thì mới hưởng sự bình an viên mãn.
Con người này nay, ta thấy sung túc, giàu có, quyền lực nhưng vẫn bất an chứ không như ta thấy bên ngoài.
Ta thấy những đại gia, nhà cao cửa rộng cửa kín cao tường và có bảo vệ. Tại sao thế ? Tại vì họ bất an và sợ hãi. Ai nào đó đến vùng nghèo và của anh chị em đồng bào, ta dễ dàng nhận thấy sự bình an của họ. Sự bình an của người nghèo, của dân tộc thiểu số toát ra ngay lối sống của họ. Nhà cửa của họ đôi khi chả có khóa nữa nhưng họ bình an. Họ cũng chả có trang bị vũ khí hay vật gì đó phòng hộ cũng như chẳng có bảo vệ. Nhìn như thế xem thử ai bình an hơn ai.
Xã hội đang xôn xao với chuyện vợ chồng đại gia ở Thái Bình. Nếu như trước đây, xem chừng họ bình an vì họ xây dựng đời họ trong một pháo đài với đầy đủ tiện nghi, quyền lực nhưng đến giờ họ ra sao thì ai ai cũng thấy.
Bình an của thế gian đó là đầy quyền lực, đầy của cải, đầy thế giá, nhà cao cửa rộng … Thế nhưng rồi thực tế tất cả những thứ đó cũng chỉ là phù vân. Ai nào đó chạy theo những thứ đó chắc chắn cũng chẳng bình an, có chăng chỉ là tạm bợ.
Trở lại cuộc đời của ta, ta đã được thanh tẩy, ta đã được nghe lời chứng của các môn đệ nhưng rồi ta có bình an không ? Hay là bình an đó đâu đó đi chơi và không chịu đến nhà của ta.
Còn nhớ lời của một số vị thánh tử đạo khi ra pháp trường. Khi đối diện với cái chết, các Ngài đơn giản : Quan cứ giết tôi càng sớm càng tốt. Giết sớm để tôi mau về với Chúa của tôi hơn.
Tại sao các Ngài can đảm nói như vậy ? Các Ngài nói như vậy vì lẽ các Ngài đã mở lòng đón nhận Đức Kitô Phục Sinh vào trong cuộc đời để rồi thấy vinh quang của thế gian và của cả cái chết chẳng là gì cả.
Ta cũng thế, khi và chỉ khi ta mở lòng ra thật sự để Đức Kitô Phục Sinh vào ngự trong lòng thì ta mới bình an.
Trong cuộc sống thực tại, ta thấy có những người đi đến đâu là ở đó bất an. Đơn giản là vì họ không có sự bình an của Chúa để rồi đi đâu cũng gây oán thù, đi đến đâu cũng gây chia rẽ và bất hòa cho người khác.
Nhìn lại một chút về cuộc đời của Thánh Phanxicô Átxidi. Khi Thánh nhân khám phá và nhìn ra cây cỏ, muông thú và cả cái chết là bạn thì Ngài bình an. Ngài gọi sự chết là “chị chết” trong khi ai ai cũng sợ cái chết.
Chính vì khát khao sự bình an, tìm kiếm sự bình an và nhất là mang sự bình an đến cho mọi người nên Ngài để lại tâm tư để đời : Lạy Chúa xin cho con biết mến yêu và phụng sự Chúa trong mọi người, để con … xin hãy dùng con như khí cụ bình an của Chúa”.
Ngày hôm nay, ta cũng thầm thì với Chúa, xin Chúa cho mỗi người chúng ta trở nên như khí cụ bình an của Chúa để mang bình an của Chúa cho người khác. Muốn có sự bình an của Chúa, ta hãy xin Chúa cho ta mở lòng mình ra, mở cửa tâm hồn của mình ra để đón nhận Đức Kitô Phục Sinh vào trong đời mình.
2020
Phụng vụ Thánh Lễ – Chúa Nhật II Phục Sinh
Chúa Nhật II Phục Sinh
Ca nhập lễ
1 Pr 2,2
Như những trẻ sơ sinh,
anh em hãy khao khát sữa thiêng liêng tinh khiết,
nhờ đó anh em sẽ lớn lên
để hưởng ơn cứu độ. Ha-lê-lui-a.
Lời nguyện nhập lễ
Lạy Thiên Chúa từ bi nhân hậu, hằng năm Chúa dùng ngọn lửa phục sinh để khơi lại niềm tin trong lòng dân thánh, cúi xin Chúa gia tăng ân sủng để chúng con hiểu rằng: chính Chúa Kitô đã thanh tẩy chúng con bằng phép rửa, đã tái sinh chúng con bằng Thánh Thần và cứu chuộc chúng con bằng Máu Thánh. Người là Thiên Chúa hằng sống và hiển trị cùng Chúa, hiệp nhất với Chúa Thánh Thần đến muôn thuở muôn đời.
Bài đọc 1
Cv 2,42-47
Tất cả các tín hữu hợp nhất với nhau, và để mọi sự làm của chung.
Bài trích sách Công vụ Tông Đồ.
42 Thời bấy giờ, các tín hữu chuyên cần nghe các Tông Đồ giảng dạy, luôn luôn hiệp thông với nhau, siêng năng tham dự lễ bẻ bánh, và cầu nguyện không ngừng.
43 Mọi người đều kinh sợ, vì các Tông Đồ làm nhiều điềm thiêng dấu lạ.
44 Tất cả các tín hữu hợp nhất với nhau, và để mọi sự làm của chung. 45 Họ đem bán đất đai của cải, lấy tiền chia cho mỗi người tuỳ theo nhu cầu.
46 Họ đồng tâm nhất trí, ngày ngày chuyên cần đến Đền Thờ. Khi làm lễ bẻ bánh tại tư gia, họ dùng bữa với lòng đơn sơ vui vẻ. 47 Họ ca tụng Thiên Chúa, và được toàn dân thương mến. Và Chúa cho cộng đoàn mỗi ngày có thêm những người được cứu độ.
Đáp ca
Tv 117,2-4.13-15.22-24 (Đ. c.1)
Đ.Hãy tạ ơn Chúa vì Chúa nhân từ,
muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương.
2Ít-ra-en hãy nói lên rằng :
muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương.3Nhà A-ha-ron hãy nói lên rằng :
muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương.4Ai kính sợ Chúa hãy nói lên rằng :
muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương.
Đ.Hãy tạ ơn Chúa vì Chúa nhân từ,
muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương.
13Chúng xô đẩy tôi, xô cho ngã,
nhưng Chúa đã phù trợ thân này.14Chúa là sức mạnh tôi, là Đấng tôi ca ngợi,
chính Người cứu độ tôi.15Kìa nghe tiếng reo mừng chiến thắng
trong doanh trại chính nhân :
Đ.Hãy tạ ơn Chúa vì Chúa nhân từ,
muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương.
22Tảng đá thợ xây nhà loại bỏ
lại trở nên đá tảng góc tường.23Đó chính là công trình của Chúa,
công trình kỳ diệu trước mắt chúng ta.24Đây là ngày Chúa đã làm ra,
nào ta hãy vui mừng hoan hỷ.
Đ.Hãy tạ ơn Chúa vì Chúa nhân từ,
muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương.
Bài đọc 2
1 Pr 1,3-9
Thiên Chúa cho chúng ta được tái sinh để nhận lãnh niềm hy vọng sống động, nhờ Đức Giê-su Ki-tô đã từ cõi chết sống lại.
Bài trích thư thứ nhất của thánh Phê-rô tông đồ.
3 Chúc tụng Thiên Chúa là Thân Phụ Đức Giê-su Ki-tô, Chúa chúng ta ! Do lượng hải hà, Người cho chúng ta được tái sinh để nhận lãnh niềm hy vọng sống động, nhờ Đức Giê-su Ki-tô đã từ cõi chết sống lại, 4 để được hưởng gia tài không thể hư hoại, không thể vẩn đục và tàn phai. Gia tài này dành ở trên trời cho anh em, 5 là những người, nhờ lòng tin, được Thiên Chúa quyền năng gìn giữ, hầu được hưởng ơn cứu độ Người đã dành sẵn, và sẽ bày tỏ ra trong thời sau hết.
6 Trong thời ấy, anh em sẽ được hân hoan vui mừng, mặc dầu còn phải ưu phiền ít lâu giữa trăm chiều thử thách. 7 Những thử thách đó nhằm tinh luyện đức tin của anh em là thứ quý hơn vàng gấp bội, – vàng là của phù vân, mà còn phải chịu thử lửa. Nhờ thế, khi Đức Giê-su Ki-tô tỏ hiện, đức tin đã được tinh luyện đó sẽ trở thành lời khen ngợi, và đem lại vinh quang, danh dự. 8 Tuy không thấy Người, anh em vẫn yêu mến, tuy chưa được giáp mặt mà lòng vẫn kính tin. Vì vậy, anh em được chan chứa một niềm vui khôn tả, rực rỡ vinh quang, 9 bởi đã nhận được thành quả của đức tin, là ơn cứu độ con người.
Tung hô Tin Mừng
- Ga 20,29
Ha-lê-lui-a. Ha-lê-lui-a. Chúa nói : “Này anh Tô-ma, vì đã thấy Thầy nên anh mới tin. Phúc thay những người không thấy mà tin.” Ha-lê-lui-a.
Tin Mừng
Ga 20,19-31
Tám ngày sau, Đức Giê-su đến.
✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Gio-an.
19 Vào chiều ngày thứ nhất trong tuần, nơi các môn đệ ở, các cửa đều đóng kín, vì các ông sợ người Do-thái. Đức Giê-su đến, đứng giữa các ông và nói : “Bình an cho anh em !” 20 Nói xong, Người cho các ông xem tay và cạnh sườn. Các môn đệ vui mừng vì được thấy Chúa. 21 Người lại nói với các ông : “Bình an cho anh em ! Như Chúa Cha đã sai Thầy, thì Thầy cũng sai anh em.” 22 Nói xong, Người thổi hơi vào các ông và bảo : “Anh em hãy nhận lấy Thánh Thần. 23 Anh em tha tội cho ai, thì người ấy được tha ; anh em cầm giữ ai, thì người ấy bị cầm giữ.”
24 Một người trong Nhóm Mười Hai, tên là Tô-ma, cũng gọi là Đi-đy-mô, không ở với các ông khi Đức Giê-su đến. 25 Các môn đệ khác nói với ông : “Chúng tôi đã được thấy Chúa !” Ông Tô-ma đáp : “Nếu tôi không thấy dấu đinh ở tay Người, nếu tôi không xỏ ngón tay vào lỗ đinh và không đặt bàn tay vào cạnh sườn Người, tôi chẳng có tin.” 26 Tám ngày sau, các môn đệ Đức Giê-su lại có mặt trong nhà, có cả ông Tô-ma ở đó với các ông. Các cửa đều đóng kín. Đức Giê-su đến, đứng giữa các ông và nói : “Bình an cho anh em.” 27 Rồi Người bảo ông Tô-ma : “Đặt ngón tay vào đây, và hãy nhìn xem tay Thầy. Đưa tay ra mà đặt vào cạnh sườn Thầy. Đừng cứng lòng nữa, nhưng hãy tin.” 28 Ông Tô-ma thưa Người : “Lạy Chúa của con, lạy Thiên Chúa của con !” 29 Đức Giê-su bảo : “Vì đã thấy Thầy, nên anh tin. Phúc thay những người không thấy mà tin !”
30 Đức Giê-su đã làm nhiều dấu lạ khác nữa trước mặt các môn đệ ; nhưng những dấu lạ đó không được ghi chép trong sách này. 31 Còn những điều đã được chép ở đây là để anh em tin rằng Đức Giê-su là Đấng Ki-tô, Con Thiên Chúa, và để nhờ tin mà được sự sống nhờ danh Người.
Ca hiệp lễ
- Ga 20,27
Chúa bảo ông Tô-ma : “Hãy đặt tay vào đây
và nhìn xem những dấu đinh của Thầy.
Đừng cứng lòng nữa, nhưng hãy tin.”
Ha-lê-lui-a.
Lời nguyện tiến lễ
Lạy Chúa, xin vui lòng chấp nhận lễ vật của chúng con (và đặc biệt là của những anh chị em tân tòng) Chúa đã cho mọi người chúng con được đổi mới nhờ đức tin và nhờ bí tích thánh tẩy, xin cũng dẫn đưa chúng con tới hạnh phúc muôn đời. Chúng con cầu xin …
Lời tiền tụng Phục Sinh I
Lạy Chúa chúng con tuyên xưng Chúa mọi lúc, nhất là trong đêm (ngày, mùa) cực thánh này chúng con càng hãnh diện tung hô Chúa khi Ðức Ki-tô đã được hiến tế làm Chiên Vượt Qua của chúng con, thật là chính đáng, phải đạo và đem lại ơn cứu độ cho chúng con.
Vì chính Người là Chiên thật đã xoá bỏ tội trần gian, Người đã chết để hủy diệt sự chết nơi chúng con, và sống lại để phục hồi sự sống cho chúng con.
Vì thế, với niềm hân hoan chứa chan trong lễ Phục Sinh, toàn thể nhân loại trên khắp địa cầu đều nhảy mừng. Cũng vậy, các Dũng thần và các Quyền thần không ngừng hát bài ca chúc tụng vinh quang Chúa rằng:
Thánh! Thánh! Thánh! …
Lời nguyện hiệp lễ
Lạy Thiên Chúa toàn năng, chúng con vừa lãnh nhận Mình và Máu Thánh Ðức Kitô là Ðấng đã chết và sống lại để ban sự sống đời đời cho thế gian. Cúi xin Chúa làm cho ân huệ quý báu này được tồn tại mãi trong tâm hồn chúng con. Chúng con cầu xin …
2020
ĐTC Phanxicô: Niềm vui trong Chúa là sức mạnh của chúng ta
ĐTC Phanxicô: Niềm vui trong Chúa là sức mạnh của chúng ta
Niềm vui của người Kitô hữu là hoa trái của Thánh Thần. Chính Chúa Thánh Thần làm tràn ngập niềm vui trong chúng ta. Không có Thánh Thần chúng ta không thể có niềm vui này; nhận lãnh niềm vui của Thánh Thần là một ân sủng
Trong Thánh lễ sáng thứ Năm tại Nhà nguyện Thánh Marta, Đức Thánh Cha cầu nguyện đặc biệt cho các dược sĩ, những người đang làm việc không ngừng để giúp đỡ người bệnh trong thời điểm đại dịch. Đức Thánh Cha thú nhận: “Trong những ngày này có những người đã trách tôi vì tôi quên cám ơn một nhóm người cũng làm việc cho đại dịch. Họ nói rằng: Đức Thánh Cha cám ơn các bác sĩ, y tá, tình nguyện viên…nhưng Đức Thánh Cha quên các dược sĩ. Họ cũng là những người đang làm việc rất nhiều để giúp đỡ người bệnh. Vì thế hôm nay chúng ta cùng cầu nguyện cho các dược sĩ”.
Trong bài giảng Thánh lễ, Đức Thánh Cha nói rằng trong cuộc đối thoại giữa Chúa Giêsu và các môn đệ được thuật lại trong bài Tin Mừng hôm nay, có một đoạn mang lại cho Đức Thánh Cha nhiều an ủi: “Các ông còn chưa tin vì mừng quá, và còn đang ngỡ ngàng”. Đức Thánh Cha nhận xét: “Niềm vui làm cho người ta không tin nổi. Niềm vui ấy quá lớn khiến họ phải nói: ‘không, điều này không thể là thật được.’ Niềm vui là một trong những mong ước mà Thánh Phaolô muốn các tín hữu Roma được lãnh nhận: ‘Xin Thiên Chúa của niềm hy vọng làm cho anh chị em tràn ngập niềm vui”.
Đức Thánh Cha nhấn mạnh: “Tràn đầy niềm vui là một thành ngữ thường được lặp lại trong Kinh Thánh. Ví dụ khi Thánh Phaolô cứu sống một viên cai ngục định tự tử vì tất cả các cánh cửa mở toang do động đất mạnh và sau đó Thánh Phaolô đã rửa tội cho viên cai ngục và ông được tràn đầy niềm vui (Cv 16). Và điều tương tự cũng đã xảy đến vào ngày Thăng thiên khi các môn đệ trở về Giêrusalem lòng tràn ngập vui mừng. Niềm vui này là hoa trái của Thánh Thần. Chính Chúa Thánh Thần làm tràn ngập niềm vui trong chúng ta. Không có Thánh Thần chúng ta không thể có niềm vui này; nhận lãnh niềm vui của Thánh Thần là một ân sủng”.
Tới đây, Đức Thánh Cha gợi nhớ lại một văn kiện của Đức Thánh Giáo hoàng Phaolô VI để xác quyết về điều vừa khẳng định: “Tôi nhớ đến những số cuối cùng của ‘Tông huấn Evangeli nuntiandi – Loan báo Tin Mừng’ của Thánh Phaolô VI nói về niềm vui của người Kitô hữu, niềm vui của những người loan báo Tin Mừng. Hôm nay là một ngày thuận tiện để đọc văn kiện này”.
Đức Thánh Cha tiếp tục trích dẫn một đoạn trong sách Nơkhemia để giúp mọi người suy tư về niềm vui. “Trong sách này có một đoạn nói đến sự kiện dân Chúa trở về Giêrusalem và tìm thấy sách luật. Đây là một niềm vui lớn, một lễ hội đối với dân Israel. Toàn dân tập hợp để nghe tư tế Étra đọc Sách luật. Họ lắng nghe, xúc động đến khóc vì vui mừng, bởi vì Sách luật đã được tìm thấy. Khi đọc xong, tư tế Étra nói với dân chúng: Anh em đừng khóc nữa, vì hôm nay là ngày thánh, hãy giữ niềm vui, vì niềm vui trong Chúa là sức mạnh của anh chị em” (Nkm 8).
Đức Thánh Cha kết luận: “Những lời này của sách Nơkhemia sẽ là sức mạnh vĩ đại giúp chúng ta biến đổi, rao giảng Tin Mừng và để tiến về phía trước như những chứng nhân của niềm vui của Chúa và hoa trái của Thánh Thần. Hôm nay chúng ta cùng cầu xin Chúa Thánh Thần ban cho chúng ta hoa trái này”.
Ngọc Yến
