2020
Giao Ước – Ân Điển Của Thiên Chúa Dành Cho Con Người
.jpg)
Tìm hiểu về giao ước, chúng ta sẽ thấy, trước hết giao ước gắn liền với Thiên Chúa, vì giao ước là danh xưng của Thiên Chúa. Thật vậy, sách Giáo lý Công Giáo (GLCG) viết: “Thiên Chúa của Giao Ước” (số 401) và mô tả Thiên Chúa như là Đấng “đến gặp gỡ con người qua các giao ước của Người” (số 309). Đồng thời GLCC khẳng định mỗi chúng ta được mời “để giao ước với Đấng Sáng Tạo, dâng lên Người một lời đáp trả tin yêu mà không ai có thể thay thế được” (số 357).
Trong Cựu Ước, ngôn sứ I-sai-a đã từng loan báo về một nhân vật được Thiên Chúa tuyển chọn làm Người Tôi Trung của Thiên Chúa: “Đây là Người Tôi Tớ Ta nâng đỡ, là người Ta tuyển chọn và hết lòng quí mến” (Is 42,1),“Giờ đây ĐỨC CHÚA lại lên tiếng. Người là Đấng nhào nặn ra tôi từ khi tôi còn trong lòng mẹ để tôi trở thành người tôi trung, đem nhà Gia-cóp về cho Người và quy tụ dân Ít-ra-en chung quanh Người. Thế nên tôi được ĐỨC CHÚA trân trọng, và Thiên Chúa tôi thờ là sức mạnh của tôi” (Is 49,5). Người Tôi Trung đó được Thiên Chúa đặt làm giao ước: “Ta đã đặt ngươi làm giao ước với dân” (Is 42,6; 49,8). Người Tôi Trung mà ngôn sứ I-sai-a loan báo đó, trong Tân Ước, được tác giả Tin Mừng Mát-thêu xác tín là Đức Giê-su (x. Mt 12,8), và Đức Giê-su cũng chính là giao ước vì Người đã nói: “Này là chén máu Thầy, máu Giao Ước mới và vĩnh cửu…” (x. Mt 26,28; Mc 14,24; Lc 22,20), “Chén này là Giao Ước Mới, lập bằng máu Thầy…” (1 Cr 11,25). Tác giả thư Híp-ri cũng khẳng định rằng Đức Giê-su “đã trở nên Đấng bảo đảm cho một giao ước tốt đẹp hơn” (Hr 7,22), “là Đấng trung gian cho một giao ước tốt đẹp hơn” (Hr 8,6), “là Đấng trung gian của một Giao Ước Mới, lấy cái chết của mình mà chuộc tội lỗi người ta đã phạm trong thời giao ước cũ” (Hr 9,15).
Theo hồng y Jean Danielou, S.J., giao ước được kể là một trong những danh xưng của Thiên Chúa trong Ki-tô giáo thời kỳ đầu.[1] Theo đó trong Kinh Nguyện Thánh Thể IV (phụng vụ của Hội Thánh) đã cầu nguyện như sau: “Lạy Cha…. Cha đã dựng nên con người giống hình ảnh Cha và trao cho việc trông coi vũ trụ, để khi phụng sự một mình Cha là Ðấng tạo hoá, con người cai quản mọi loài thụ tạo. Và khi con người đã mất tình nghĩa với Cha vì bất phục tùng, Cha đã không bỏ mặc con người dưới quyền lực sự chết…. Nhiều lần Cha đã giao ước với loài người… và khi tới thời viên mãn, Cha đã sai Con Một đến làm Ðấng cứu độ chúng con”.
Trong Cựu Ước, thuật ngữ giao ước gốc Híp-riבְּרִית (berít) nghĩa là việc cắt, sự cắt, có lẽ phát xuất từ động từ בתר (batar), nghĩa là cắt làm đôi. Như vậy, thuật ngữ giao ước hẳn là có liên quan trực tiếp đến nghi thức, cách thức thực hiện giao ước trong thế giới Kinh Thánh Cựu Ước (x. St 15,9-20).
Các tác giả Tân Ước dùng thuật từ Hy-lạp διαθήκη (diathêkê) để chỉ giao ước (x. Mt 26,28; Lc 1,72; Cv 7,8; Rm 9,4; Gl 4,24; 1 Cr 11,25; 2 Cr 3,6). Danh từ διαθήκη (diathêkê) bởi động từ διάτίθημι (diatithêmi), nghĩa là đặt riêng ra, tách đôi ra tương tự ý nghĩa của hạn từ berít trong tiếng Híp-ri, đồng thời nhấn mạnh ý muốn và vai trò trổi vượt của Thiên Chúa trong việc đi vào tương quan với con người qua lời hứa của Người.
Các bản dịch Kinh Thánh sang tiếng La-tinh, thuật ngữ giao ước được dịch thành testamentum tức làm chứng hoặc chúc thư (x. Hr 9,16-17).
Các bản dịch Anh ngữ thì sử dụng thuật từ covenant xuất phát bởi động từ La-tinh convenire [gồm giới từ con: cùng + động từ venire: đến], nghĩa là cùng đến, cùng đi tới, thỏa thuận, đồng ý…
Bởi việc chuyển ngữ như thế nên từ ngữ giao ước trong Kinh Thánh có nguy cơ bị hiểu là giao kèo hay hợp đồng,… Tuy nhiên, ý nghĩa của thuật ngữ giao ước trong Cựu Ước không hàm ý một giao kèo sòng phẳng giữa đôi bên, mà là bên có thế giá hơn gia ân cho bên ít thế giá hơn (x. Gs 9,6.15; 1 Sm 11,1; Ed 17,13). Theo đó, giao ước mà Thiên Chúa lập với con người mang đặc tính đơn phương, tức là chỉ Thiên Chúa tình nguyện cam kết thực hiện lời Người đã hứa với con người, phần con người chỉ cần đón nhận cách xứng đáng và trung thành. Sự đáp trả của con người không thể sánh với những gì con người đã lãnh nhận (x. Ep 2). Đó là ân điển Thiên Chúa tặng ban cho con người. Để so sánh chúng ta có thể lấy ví dụ:
+ Cô điếm (giao kèo) khác với cô dâu (giao ước).
+ Người làm công (giao kèo) khác với người con (giao ước).
Ngoài ra, giữa giao kèo và giao ước cũng liên quan đến các vấn đề bảo chứng như: lời hứa và lời thề, theo đó:
+ Giao kèo: liên quan đến lời hứa
+ Giao ước: liên quan đến lời thề
Xét như việc liên quan đến lời hứa, chúng ta thấy xưa và nay cũng có khác biệt. Với người xưa chỉ cần một lời là đủ, nên mới có các câu như:“Nhất ngôn ký xuất, tứ mã nan truy”, “Nhất ngôn cửu đỉnh”, “Xuất ngôn như phá thạch”, “Một lời như đinh đóng cột”, hoặc “Quân tử nhất ngôn”. Còn ngày nay, lời hứa cần phải được trình bày qua chữ viết (văn tự), và được xác định bằng việc ký tên của đôi bên. Do đó, các bản thỏa thuận, bản hợp đồng, hay bản giao kèo… không những viết trên giấy trắng mực đen, mà còn phải được công chứng bởi cơ quan công quyền, để buộc mỗi bên phải giữ lời hứa của mình.
Với giao ước thì khác. Giao ước không phải là lời hứa mà là lời thề, tức là nại đến thẩm quyền của Đấng Tối Cao làm chứng và phân xử. Qua đó, với lời thề, người ta (1) nhờ Thiên Chúa chứng giám; (2) nhờ Thiên Chúa giúp giữ lời hứa. Ví dụ: Một người ra tòa làm chứng sẽ phải thề nói sự thật. Như vậy, sẽ không chỉ có anh ta và quan tòa, mà còn có Thiên Chúa nữa. Như vậy, một khi đặt mình dưới lời thề thì nếu người ấy không giữ lời thề, anh ta sẽ không chỉ bị pháp luật xử, mà còn bị Thiên Chúa xét xử nữa.
Nếu hiểu giao ước là một hợp đồng thì vấn đề xem ra lại càng sai lầm, vì hợp đồng nhằm đến việc trao đổi tài sản, trong khi giao ước nhằm đến mối tương quan giữa hai bên. Theo ý nghĩ này, chúng ta thấy rằng hợp đồng liên quan đến sự trao đổi những thứ hai bên muốn trao đổi như: tài sản, công việc, giờ giấc lao động, công xá… và như vậy, hợp đồng chỉ là cam kết những thứ ngoại thân, cho nên (1) hai bên sẽ hết trách nhiệm với nhau khi hoàn tất hợp đồng; (2) có thể bồi thường hợp đồng; (3) có thể giải phóng hợp đồng; (4) có thể hủy hợp đồng nếu hai bên đồng ý.
Trong khi đó, giao ước không liên quan đến sự đổi chác những vật ngoại thân, mà liên quan trực tiếp đến tương quan, phẩm giá, tư cách và thân phận của chính đương sự. Vì một khi ký kết giao ước, cả hai bên sẽ “đi vào trong” giao ước đó, nên sẽ (1) không có chuyện hết giao ước như hết hợp đồng; (2) không có chuyện bồi thường giao ước như bồi thường hợp đồng; (3) không có chuyện giải phóng giao ước như giải phóng hợp đồng; (4) không có chuyện hủy giao ước như hủy hợp đồng. Nói cách khác, khi hai bên đi vào giao ước với nhau là đi vào sự trao hiến chính mình cho nhau. Dựa trên ý nghĩa đó, John Bergsma đã định nghĩa giao ước là một cam kết có tính pháp lý giữa hai hay nhiều bên bằng một lời thề (hay bằng một điều gì đó tương đương), để từ đó về sau, với tất cả nghĩa vụ và quyền lợi, họ trở nên cốt nhục của nhau, tức là thành viên trong một gia đình.[2]
Thiên Chúa đã đi vào trong một giao ước như thế với dân Người: “Ta sẽ là Thiên Chúa của họ, và họ sẽ là dân riêng của Ta” (2 Cr 6,16). Nhờ giao ước, con người được tương quan với Thiên Chúa, được nâng cao đến mức trở thành con cái của Đấng Thánh vì “theo ý muốn và lòng nhân ái của Người, Người đã tiền định cho ta làm nghĩa tử nhờ Đức Giê-su Ki-tô” (Ep 1,5). Theo đó và con người được biến đổi cả chiều kích tự nhiên lẫn siêu nhiên: “Trong Đức Ki-tô, Người đã chọn ta trước cả khi tạo thành vũ trụ, để trước thánh nhan Người, ta trở nên tinh tuyền thánh thiện, nhờ tình thương của Người” (Ep 1,4). Đồng thời, con người trở thành anh chị em của nhau trong một gia đình của Thiên Chúa.
Có thể điểm qua một số giao ước Thiên Chúa lập qua: (1) ông A-đam và bà E-và (x. St 1,26—2,3); (2) ông Nô-ê và gia đình (x. St 9,8-17); (3) ông Áp-ra-ham và dòng tộc (x. St 12,1-3; 17,1-14; 22,16-18); (4) ông Mô-sê và dân Ít-ra-en (x. Xh 19,5-6; 3,4-10; 6,7); vua Đa-vít và vương quốc Ít-ra-en (x. 2 Sm 7,8-19); Đức Giê-su và Hội Thánh (x. Mt 26,28; 16,17-19). Các giao ước này trình bày tiến trình Thiên Chúa thực hiện giao ước của Người với nhân loại khởi từ một đôi vợ chồng rồi từ đó hình thành nên một gia đình, một dòng tộc, một dân tộc, một vương quốc và cuối cùng là Hội Thánh (Nước Trời). Dấu chỉ tình yêu của giao ước thuở tạo dựng là một cuộc hôn nhân khi người nam và nữ trở thành một xương một thịt: “Con người nói : “Phen này, đây là xương bởi xương tôi, thịt bởi thịt tôi ! Nàng sẽ được gọi là đàn bà, vì đã được rút từ đàn ông ra.”Bởi thế, người đàn ông lìa cha mẹ mà gắn bó với vợ mình, và cả hai thành một xương một thịt” (St 2,23-24), thì dưới ánh sáng Tân ước, chúng ta sẽ thấy, cuộc hôn nhân của A-đam và E-và chỉ đến một tình yêu lớn lao hơn, một tương quan sâu xa hơn, đó là tình yêu và tương quan giữa Thiên Chúa với con người.[3] Thánh Phao-lô nói rằng tình yêu của Đức Ki-tô đối với hiền thê của Người là Hội Thánh (x. Ep 5,21-33). Còn tác giả sách Khải Huyền thì trình bày tiệc cưới của Con Chiên [Đức Ki-tô và Hội Thánh] (x. Kh 19,9; 21,9; 22,17). Như vậy, giao ước tình yêu giữa Thiên Chúa với con người nơi sách Sáng Thế mở đầu cuộc tạo dựng với cuộc hôn nhân của A-đam và E-và sẽ được hoàn tất bằng cuộc tạo dựng mới với tiệc cưới của Con Chiên và Tân Nương trong sách Khải Huyền.[4]
Như vậy, giao ước là ân điển và là cánh cửa đưa con người vào trong mối tương quan bền vững với Thiên Chúa dựa trên tình yêu và lòng trung thành của một cuộc hôn nhân. Một khi bước vào giao ước và ở lại trong giao ước, con người sẽ đạt tới niềm vui đích thực là được thông dự vào niềm vui và sự sống thần linh của Đức Ki-tô Phục Sinh. Vì thế, giữa bóng tối của sự dữ mà cụ thể là dịch bệnh viêm phổi cấp do vi-rút SARS-CoV-2 đang hoành hành và gây tang tóc khắp nơi thì chúng ta, các Ki-tô hữu, hơn lúc nào hết, được mời gọi trở lại với giao ước, tức trở lại với Thiên Chúa, vốn là nguồn sống và nguồn tình yêu bất diệt, trở lại với việc đi vào trong tương quan bền vững dựa trên giao ước tình yêu và lòng trung thành, để chúng ta tin tưởng, hy vọng và can đảm đem ánh sáng niềm tin chiếu soi cho tất cả thế giới.
Halleluia. Halleluia.
Chúa Nhật Phục Sinh 2020
Ga. Nguyễn Thiên Minh, O.P.
2020
Những kẻ khủng bố Hồi giáo sát hại các Kitô hữu ở tại Mozambique

Các chiến binh Hồi giáo cực đoan ở quốc gia Mozambique đã giết chết hàng trăm người và di làm hàng ngàn người ly tán. Mozambique vốn đa số dân là các Kitô hữu, trong đó có gần 8.7 triệu người Công giáo trong tổng số gần 28.8 triệu dân, tức khoảng 30.5% dân số (thống kê 2018).
Trong hai năm qua, hơn 100.000 người đã phải di dời khỏi nhà và trang trại của họ ở tỉnh Cabo Delgado phía bắc, do các vụ thảm sát gia tăng bởi những kẻ khủng bố Hồi giáo muốn áp đặt luật Hồi giáo Sharia tại quốc gia Đông Nam châu Phi này.
Theo Tổng cục Hỗ trợ Nhân đạo và Bảo vệ Dân sự (DG ECHO), hàng trăm ngôi làng đã bị đốt cháy hoặc đã bị bỏ hoang hoàn toàn sau khi các chiến binh thánh chiến thực hiện một chiến dịch khủng bố bừa bãi.
Đài Tiếng nói Hoa Kỳ cho biết trong những tuần gần đây, các chiến binh thánh chiến đã chiếm giữ các tòa nhà chính phủ, cướp ngân hàng, chặn đường và giương cờ đen trắng trên các thị trấn và làng mạc trên toàn tỉnh Cabo Delgado. Các báo cáo cho thấy các chiến binh cũng đã phát hành một video tuyên truyền sau một cuộc tấn công gần đây, trong đó một chiến binh thánh chiến được nhìn thấy nói với những cư dân rằng họ muốn mọi người ở đây áp dụng luật Hồi giáo. “Chúng tôi không muốn một chính phủ từ những kẻ không có đức tin, chúng tôi muốn một chính phủ từ Allah”, một chiến binh được trích dẫn khi nói trong video bằng ngôn ngữ Kimwani địa phương.
Các chiến binh này thường che kín mặt, tuy nhiên qua video, các chiến binh được cho là thành viên của một nhóm có tên Ahlu Sunnah Wal Jammeh. Nhóm này được biết đến tại địa phương với tên al-Shabaab nhưng được cho là không có bất kỳ liên kết nào với nhóm cực đoan cùng tên hoạt động ở Somalia và Kenya.
Đoạn video dường như đã được quay tại thị trấn cảng Mộcimboa da Praia, nơi các chiến binh đã phát động một cuộc tấn công vào cuối tháng ba. Thị trấn cũng là nơi các chiến binh tổ chức cuộc tấn công đầu tiên vào năm 2017 vào các căn cứ của cảnh sát và quân đội. Đây là khu vực giàu tiềm năng kinh tế với các dự án liên quan đến dầu khí trị giá hàng tỷ đô la.
Tổ chức Ðại kết “Quan Tâm Quốc Tế Kitô Giáo” (International Christian Concern – ICC) có trụ sở tại Hoa Kỳ, cảnh báo rằng các chiến binh đang nhắm đến mục tiêu “thiết lập luật Hồi giáo Sharia và hướng dẫn các chính phủ trong khu vực”. Theo tổ chức phi lợi nhuận này, đây là lần đầu tiên các chiến binh ở Mozambique tuyên bố một chương trình nghị sự chính trị.
“Điều này là một tin xấu đối với các Kitô hữu, những người chắc chắn sẽ trở thành những công dân hạng hai và có khả năng sẽ bị bức hại vì đức tin của họ”. ICC đã cảnh báo trong một báo cáo ngày 14 tháng 4 vừa qua.
ICC cũng lưu ý rằng, Tổ chức Nhà nước Hồi giáo (IS) tự xưng gần đây (tháng 4/2019) đã thành lập cái gọi là Nhà nước Hồi giáo tỉnh Trung Phi, nơi đã nhận trách nhiệm về một số vụ tấn công. Nếu nhóm Al-Shabaab có sự hỗ trợ từ một mạng lưới khủng bố lớn hơn nhiều, thì nó sẽ càng nguy hiểm đối với người dân địa phương.
2020
Khô hạn mùa dịch
Biến đổi khí hậu, khô hạn, nhiễm mặn… là những vấn đề cấp bách hiện nay. Tình trạng đó không phải là nguy cơ như một số người vẫn nghĩ, nhưng đang rất thật và ảnh hưởng tới tất cả chúng ta.

Tình trạng khô hạn tại Đồng Bằng Sông Cửu Long
Những ngày này, cả nước đang trong tình trạng cách ly vì dịch viêm phổi Vũ Hán gây ra. Dịch bệnh khiến cho các hoạt động kinh tế suy giảm, ngưng trệ khiến các doanh nghiệp bị ảnh hưởng, số lượng người thất nghiệp tăng. Đáng lo hơn, nó ảnh hưởng rất lớn đến đời sống của những người nghèo trên cả nước. Thế nhưng nếu nhìn về Đồng Bằng Sông Cửu Long (ĐBSCL) lúc này, người dân ở đây còn khó khăn gấp bội. Tình trạng nhiễm mặn, khô hạn không chỉ khiến hoạt động sản xuất nông nghiệp, vốn là chủ yếu tại vùng sông nước này, bị ngưng trệ, nhưng còn ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống thường ngày của người dân do thiếu nước ngọt sinh hoạt, đặc biệt tại các tỉnh như Bến Tre và Tiền Giang. Cuộc sống của người dân thật sự bị đảo lộn.
Theo các chuyên gia, tình trạng khô hạn và nhiễm mặn lịch sử ở miền Tây năm nay có nhiều nguyên nhân. Chẳng hạn như việc lượng mưa trên toàn lưu vực sông Mê Kông rất ít do ảnh hưởng của hiện tượng El Nino. Lượng mưa thấp kỷ lục này khiến nước đổ về hạ nguồn không nhiều. Cũng chính vì thế các đập thủy điện dọc lưu vực sông Mê Kông phải tích nước cho đến khi đầy mới xả ra để phát điện. Điều này khiến lượng nước đổ về hạ nguồn rất ít khiến cho tình trạng hạn mặn càng thêm nghiêm trọng. Hiện tại, dọc lưu vực sông Mê Kông có hàng chục đập thủy điện khác nhau tại Trung Quốc, Lào, Thái Lan, Campuchia, Việt Nam. Các đập thủy điện này không chỉ nằm trên dòng chảy chính sông Mê Kông mà cả trên các phụ lưu của dòng sông khiến lưu lượng nước dòng chính giảm đi đáng kể.
Tình trạng trên lại một lần nữa là lời cảnh báo nghiêm trọng cho chúng ta về vấn đề tài nguyên nước và biến đổi khí hậu.
Cảnh báo từ Tổ chức Khí tượng Thế giới
Năm nay, đánh dấu kỷ niệm 70 năm thành lập (23/3/1950 – 23/3/2020), Tổ chức Khí tượng Thế giới (World Meteorological Organization) nhắc nhở chúng ta về tầm quan trọng của việc quản lý tài nguyên nước. Nhu cầu ngày càng tăng đối với tài nguyên nước trên thế giới trong bối cảnh sự biến đổi khí hậu đang dẫn đến một cuộc khủng hoảng thực sự [1].
Theo cơ quan này, tác động của biến đổi khí hậu được thấy rõ qua sự thay đổi nguồn nước. Lũ lụt, hạn hán, ô nhiễm ngày càng nhiều hơn. Kể từ năm 1900, hơn 11 triệu người đã chết vì hạn hán và 2 tỷ người đã bị ảnh hưởng. Từ những năm 1970, diện tích đất bị ảnh hưởng bởi hạn hán đã tăng gấp đôi, làm suy yếu sinh kế, đảo ngược lợi ích phát triển và làm nghèo đói giữa hàng triệu người sống phụ thuộc trực tiếp vào đất đai [2]. Khoảng 25% dân số thế giới, 2 tỷ người, sống ở các quốc gia khan hiếm nước nghiêm trọng và khoảng 4 tỷ người gặp phải tình trạng khan hiếm nước nghiêm trọng trong ít nhất một tháng trong năm. Theo dự báo, đến năm 2050, nhu cầu về nước dự kiến sẽ cao hơn 25 đến 30% so với hiện nay [3].
Ô nhiễm môi trường tại Việt Nam
Hiện tượng thiếu nước đang diễn ra tại ĐBSCL hiện nay là đề nghiêm trọng và mang tính cấp thiết. Tuy nhiên, chúng ta nên nhớ rằng Việt Nam hiện nay là một trong những quốc gia phải đối mặt với ô nhiễm cao của thế giới, từ biển cho đến đất, nước, không khí… Việt Nam nằm trong top 5 quốc gia xả rác ra biển nhiều nhất trên thế giới và nằm trong số 10 nước ô nhiễm không khí nhất thế giới, chưa kiểm soát được nguồn ô nhiễm. Phần lớn lượng nước thải sinh hoạt hàng trăm ngàn m3 mỗi ngày và hàng trăm tấn rác được thải ra các sông đều không được xử lý. Tỷ lệ nước thải tại các đô thị được thu gom và xử lý đạt ở mức thấp, chỉ khoảng 13%. Nước thải công nghiệp chỉ có 10% là được xử lý [4].
Chắc những con số thống kê ấy chưa làm nhiều người quá lo lắng, bận tâm bởi chưa thấy ảnh hưởng trực tiếp tới cuộc sống của mình. Nhưng quả thật, chúng đều ở trong tình trạng báo động. Theo số liệu thống kê của Bộ Tài nguyên và Môi trường, tại Việt Nam, trong khoảng 50 năm qua, nhiệt độ trung bình đã tăng khoảng 2-3 độ C và mực nước biển đã dâng thêm khoảng 20 cm. Ước tính, đến cuối thế kỷ XXI, so với trung bình thời kỳ 1980 -1999, nhiệt độ trung bình ở Việt Nam có thể tăng thêm 2,3 độ C, lượng mưa hàng năm tăng khoảng 5% và mực nước biển có thể dâng thêm 75 cm. Theo số liệu phân tích về ảnh hưởng của lũ lụt đến GDP, Việt Nam đứng thứ 4 trong số 164 quốc gia được khảo sát về tác hại nghiêm trọng của lũ lụt đến toàn nền kinh tế; làm thiệt hại 2,3% GDP của Việt Nam mỗi năm…[5]
.jpg)
Tông thư Laudato si’ với vấn đề biến đổi khí hậu
Trong Tông thư Laudato si’ – “Chăm sóc ngôi nhà chung”, Đức Giáo hoàng Phanxicô viết: “Thánh Phanxicô thành Assisi đã hát lên: “Con xin chúc tụng Chúa, lạy Chúa của con”. Trong bài thánh ca tươi đẹp này, ngài nhắc cho chúng ta nhớ, ngôi nhà chung của chúng ta phải được xem như người chị của chúng ta, mà chúng ta được chia sẻ cuộc sống, và như người mẹ ôm lấy chúng ta [6].
Một môi trường sống trong sạch, đảm bảo những điều kiện thiết yếu cho sự tồn tại và phát triển của con người là ước mơ của tất cả mọi người. Tuy nhiên, chính con người làm mất cân bằng sinh thái và làm cho tình trạng của trái đất ngày càng tệ.
Về vấn đề biến đổi khí hậu, Đức Giáo hoàng nhấn mạnh đến hậu quả của nó đối với toàn xã hội, mà những người chịu ảnh nhưởng nhất hiện nay là người nghèo khi “phương tiện để bảo đảm cuộc sống của họ gắn chặt vào những tài nguyên tự nhiên”. Ngài viết: “Việc thay đổi khí hậu là vấn đề toàn cầu với phương diện môi trường trầm trọng về những chiều kích xã hội, kinh tế, phân phối và chính trị; nó đưa ra một thách đố quan trọng nhất trong hiện tại cho nhân loại. Những hậu quả xấu nhất có thể xảy ra trong những thập niên tới nơi những nước phát triển. Nhiều người nghèo sống trong những vùng mà những hiện tượng này xảy đến, liên kết với việc biến đổi khí hậu và các phương tiện để bảo đảm cuộc sống của họ gắn chặt vào những tài nguyên tự nhiên và những chuyển biến sinh thái như nông nghiệp, ngư nghiệp và nguồn lợi từ rừng. Họ không có những hoạt động tài chính và những tài nguyên khác, giúp họ vượt qua ảnh hưởng của khí hậu hay tai họa, họ cũng khó tiếp cận đến chương trình xã hội và bảo vệ” [7].
Với vấn đề nguồn nước, Đức Giáo hoàng nêu lên tầm quan trọng của nguồn nước đối với sự sống của loài người khi cho rằng có được nguồn nước an toàn là một nhân quyền thiết yếu, cơ bản của tất cả mọi người vì nó ảnh hưởng đến sự sống còn của con người. Vì thế, đây chính là điều kiện để thực thi các nhân quyền khác. Tước bỏ quyền của người nghèo được nước uống có nghĩa là “phủ nhận quyền sống vốn bắt nguồn từ chính phẩm giá bất khả nhượng của họ” [8]. Tuy nhiên, một số quốc gia, vì những lợi ích kinh tế của mình mà bất chấp và làm ngơ hoặc phản ứng “yếu kém về mặt chính trị toàn cầu”: “Chính trị phải tùng phục kỹ thuật và vần đề tài chính, điều này cho thấy trong sự thất bại của cả thế giới về vấn đề môi trường. Có quá nhiều lợi lộc kinh tế riêng tư, và cũng dễ dàng nhằm vào lợi lộc kinh tế, đưa đến người nắm quyền đánh giá cao ích lợi chung và khuynh đảo những thông số để không ảnh hưởng gì đến những chương trình riêng của họ” [9].
Thuyết Xã hội của Giáo hội cũng từng lưu ý chúng ta rằng: sự triển kinh tế là mục tiêu và quyền lợi của cá nhân, gia đình và các quốc gia. Tuy nhiên, người ta không thể bất chấp những lợi ích kinh tế mà tàn phá môi trường một cách vô tội vạ. Sách Tóm lược Học thuyết Xã hội viết: “Các chương trình phát triển kinh tế cần phải cẩn thận lưu ý tới nhu cầu tôn trọng sự toàn vẹn và chu kỳ tuần hoàn của thiên nhiên vì các tài nguyên thiên nhiên là có hạn, thậm chí có một số tài nguyên không thể tái tạo được… Một nền kinh tế biết tôn trọng môi trường sẽ không lấy việc gia tăng tối đa lợi nhuận làm mục tiêu duy nhất của mình, vì việc bảo vệ môi trường không thể được đảm bảo nếu chỉ dựa trên những tính toán tài chính giữa phí tổn bỏ ra và lợi nhuận thu vào. Môi trường là một trong các tài sản không thể được bảo vệ hay được phát huy cách thích đáng chỉ nhờ các lực lượng thị trường”.[10]
Do đó, trong Tông thư Laudato si’, Đức Giáo hoàng cũng nêu rõ lập trường của Giáo hội về vấn đề bảo vệ môi trường là trách nhiệm của tất cả các quốc gia, trong đó nhấn mạnh đến vai trò và trách nhiệm của các nước phát triển và kêu gọi tất cả phải chung tay góp sức.

Người Kitô hữu và trách nhiệm công dân với “ngôi nhà chung của nhân loại”
Việc đòi hỏi khẩn thiết để bảo vệ cho “ngôi nhà chung” không chỉ ở tầm vĩ mô, nhưng còn là trách nhiệm của từng người trong chúng ta. Trong thánh lễ sáng Thứ Hai ngày 09-02-2015 tại Vatican, Đức Giáo hoàng Phanxicô đã nói đến trách nhiệm của việc bảo vệ môi sinh của người Kitô hữu: “Một Kitô hữu không biết bảo vệ các thụ tạo, không biết để cho chúng sinh trưởng, thì đó là một Kitô hữu không biết chăm sóc công việc của Thiên Chúa; công việc đó đã ra đời từ tình yêu Thiên Chúa dành cho chúng ta”[11].
Trong Tông thư Laudato si’, Ngài đề cập đến tầm quan trọng của việc giáo dục và huấn luyện con người như là những thách đố chủ yếu trong việc bảo vệ môi trường hiện nay: “Mọi thay đổi cần có những động lực và một hành trình giáo dục”[12]; bởi nó cần có sự can dự của tất cả các lãnh vực giáo dục, mà trước tiên là “trường học, gia đình, các phương tiện truyền thông, việc huấn giáo” [13], đặc biệt là tầm quan trọng của đức tin: “Đối với tín hữu,thế giới không được chiêm ngắm từ bên ngoài nhưng từ bên trong, nhìn nhận những lối liên hệ qua đó Chúa Cha liên kết chúng ta với mọi sinh vật. Ngoài ra khi làm tăng trưởng khả năng đặc thù mà Thiên Chúa ban cho mỗi tín hữu, sự hoán cải môi sinh dẫn đưa họ đến chỗ phát huy khả năng sáng tạo và sự hăng hái” [14].
Đức Giam mục Phaolô Nguyễn Thái Hợp, OP. – Giám mục Giáo phận Hà Tĩnh, trong lá Thư chung ngày 13-05-2016, khi Ngài còn là Giám mục Giáo Phận Vinh, đã thẳng thắn nhấn mạnh rằng: “Theo giáo huấn của Đức Thánh Cha Phanxicô, chúng ta không thể dung thứ bất cứ thái độ vô cảm và vô trách nhiệm nào đối với môi trường. Đồng thời chúng ta có quyền đòi hỏi người khác, trong lúc tìm cách đáp ứng các nhu cầu của thế hệ hiện tại, không được tác hại đến các thế hệ tương lai. Chúng ta có quyền yêu cầu nhà hữu trách phải tạo lập một hệ thống pháp lý chặt chẽ và hữu hiệu để bảo vệ môi sinh. Không cho phép những ai lạm dụng quyền lực và dựa vào mô hình kinh tế- kỹ thuật để phá hoại đất nước, sự tự do cũng như công bằng xã hội”.
Ước gì mỗi người Công giáo luôn ý thức thế giới chúng ta đang sống là một ân huệ mà chúng ta được lãnh nhận xuất phát từ tình yêu của Thiên Chúa, và nó không thể nảy sinh hoa trái nếu không có sự đáp trả đặc biệt của mỗi người chúng ta [15], và thực hành việc bảo vệ “ngôi nhà chung” này cũng là bảo vệ sự sống của chính mình hôm nay và cũng là cho các thế hệ mai sau.
Chú thích:
[1] World Meteorological Day: Climate & Water – https://worldmetday.wmo.int
[2] World Meteorological Day: Climate & Water – Drought –
– https://worldmetday.wmo.int/en/drought
[3] World Meteorological Day: Climate & Water – Every Drop Counts –
– https://worldmetday.wmo.int/en/every-drop-counts
[4] – Gia đình bảo vệ Môi trường – https://tgpsaigon.net;
– Việt Nam lọt top 5 quốc gia xả rác thải nhựa ra biển nhiều nhất –
https://nongnghiepthongminh.vn;
– Chỉ 13% lượng nước thải đô thị được xử lý – https://thanhnien.vn
[5] Biến đổi khí hậu và 5 nguy cơ đối với nông nghiệp Việt Nam –
http://tapchitaichinh.vn/
[6] Tông thư Laudato si’, số 1.
[7] Tông thư Laudato si’, số 25.
[8] Tông thư Laudato si’, số 30.
[9] Tông thư Laudato si, số 54.
[10] Hội Đồng Giáo Hoàng Công Lý và Hòa Bình: Tóm lược học thuyết xã hội của Công Giáo, số 470.
[11] Laudato si’ dành cho người bận rộn – http://www.cgvdt.vn
[12] Tông thư Laudato si’, số 15.
[13] Tông thư Laudato si’, số 213.
[14] Tông thư Laudato si’, số 220.
[15] Tông thư Laudato si’, số 220.
2020
Tòa Thánh phải tuyên bố hoãn WYD và Đại Hội Gia Đình Thế Giới
Tòa Thánh phải tuyên bố hoãn WYD và Đại Hội Gia Đình Thế Giới
Trong một tuyên bố được đưa ra vào chiều thứ Hai 20 tháng Tư, Ông Matteo Bruni, Giám đốc Phòng Báo chí Tòa Thánh xác nhận rằng Đức Thánh Cha Phanxicô, cùng với Bộ Giáo dân, Gia đình và Sự sống, đã quyết định hoãn lại một năm Đại Hội Gia Đình Thế Giới và Ngày Giới Trẻ Thế Giới.
Trong một tuyên bố được đưa ra vào chiều thứ Hai 20 tháng Tư, Ông Matteo Bruni, Giám đốc Phòng Báo chí Tòa Thánh xác nhận rằng Đức Thánh Cha Phanxicô, cùng với Bộ Giáo dân, Gia đình và Sự sống, đã quyết định hoãn lại một năm Đại Hội Gia Đình Thế Giới và Ngày Giới Trẻ Thế Giới.
Toàn văn tuyên bố như sau:
Do tình hình sức khỏe hiện tại và những hậu quả của nó đối với việc di chuyển và tập hợp những người trẻ và gia đình, Đức Thánh Cha, cùng với Bộ Giáo dân, Gia đình và Sự sống, đã quyết định hoãn các Hội nghị Thế giới tiếp theo lại một năm. Đại Hội Gia Đình Thế Giới, trước đây được dự trù tại Rôma vào tháng 6 năm 2021 và Ngày Giới Trẻ Thế Giới tiếp theo, trước đây được dự định diễn ra tại Lisbon vào tháng 8 năm 2022, sẽ dời vào tháng 6 năm 2022 và vào tháng 8 năm 2023.
Nói tóm lại, Đại Hội Gia Đình Thế Giới sẽ diễn ra tại Rôma vào tháng 6 năm 2022. Tương tự như vậy, Ngày Giới Trẻ Thế Giới tiếp theo sẽ được tổ chức tại Lisbon vào tháng 8 năm 2023.
Đặng Tự Do
