Aenean nec eros. Vestibulum ante ipsum primis in faucibus orci luctus et ultrices posuere cubilia curae. Suspendisse sollicitudin velit sed leo.

Chuyên mục
  • Bài giảng
  • Các loại khác
  • Chia sẻ
  • Chưa phân loại
  • GH Hoàn Vũ
  • GH Việt Nam
  • Giáo dục
  • Hạnh các Thánh
  • HĐGM Việt Nam
  • Kinh Thánh
  • Phim giáo dục
  • Phụng vụ
  • Sách
  • Suy niệm Chúa nhật
  • Suy niệm hàng ngày
  • Tài liệu giáo dục
  • Tài liệu phụng vụ
  • Thần học
  • Thánh ca
  • Thánh lễ
  • Thánh lễ trực tuyến
  • Thư chung
  • Thư viện
  • Tin tức
  • Triết học
  • Tư liệu
  • UBGD Công giáo
  • Video
From Gallery
Stay Connected
UyBanGiaoDucHDGM.net
  • Trang chủ
  • Thư chung
    • HĐGM Việt Nam
    • UBGD Công giáo
  • Tin tức
    • GH Việt Nam
    • GH Hoàn Vũ
  • Phụng vụ
    • Thánh lễ
    • Thánh lễ trực tuyến
    • Suy niệm hàng ngày
    • Suy niệm Chúa nhật
    • Tài liệu phụng vụ
  • Giáo dục
    • Chia sẻ
    • Tài liệu giáo dục
  • Thư viện
    • Sách
      • Kinh Thánh
      • Triết học
      • Thần học
      • Các loại khác
    • Video
      • Bài giảng
      • Thánh ca
      • Phim giáo dục
      • Hạnh các Thánh
      • Tư liệu
  • Liên hệ
Give Online

Tác giả: Anmai

Home / Anmai
29Tháng Tư
2020

ĐTC Phanxicô thành lập ngân quỹ Gioan Phaolô I

29/04/2020
Anmai
GH Hoàn Vũ, Tin tức
0

Đức Thánh Cha Phanxicô đã quyết định thành lập ngân quỹ Gioan Phaolô I, theo giáo luật và luật của Quốc gia thành Vatican, để đào sâu con người, tư tưởng và giáo huấn của vị tiền nhiệm đáng kính, Gioan Phaolô I – Albino Luciani – và cổ võ việc học hỏi và phổ biến các tác phẩm của ngài.

Trong Phúc chiếu được ký ngày 17/02 vừa qua, Đức Hồng y Pietro Parolin, Quốc vụ khanh Tòa Thánh, cho biết trong buổi tiếp kiến dành cho ngài hôm 10/02 trước đó, Đức Thánh Cha đã đưa ra quyết định thành lập ngân quỹ này.

Mục đích ngân quỹ Gioan Phaolô I

Mục đích của ngân quỹ Gioan Phaolô I là chăm sóc và bảo tồn các di sản văn hóa và tôn giáo do Đức Giáo hoàng Gioan Phaolô I để lại; thúc đẩy các sáng kiến như hội nghị, hội họp, hội thảo và học tập; thiết lập giải thưởng và học bổng; lo về các hoạt động xuất bản bằng cách xuất bản các kết quả học hỏi và nghiên cứu của chính tổ chức này cũng như các tác phẩm của bên thứ ba; đề xuất ngân quỹ này như một điểm tham chiếu, ở Ý và ở nước ngoài, cho những người hoạt động trong cùng lãnh vực và có cùng mục đích.

Chủ tịch và thành viên của quỹ Gioan Phaolô I

Đức Thánh Cha cũng đã bổ nhiệm Đức Hồng y Pietro Parolin, Quốc vụ khanh Tòa Thánh, làm Chủ tịch Quỹ Gioan Phaolô I. Ban điều hành của ngân quỹ có nhiệm kỳ 5 năm, gồm Tiến sĩ Stefania Falasca làm Phó Chủ tịch của Quỹ này; và Đức Hồng y Beniamino Stella, Đức cha Andrea Celli, cha Davide Fiocco, tiến sĩ Lina Petri và tiến sĩ Alfonso Cauteruccio.

Để thực hiện các hoạt động của mình, Quỹ đã thành lập một Ủy ban Khoa học, gồm sáu thành viên, được lựa chọn trong số những người được xác nhận là có năng lực và kinh nghiệm. Ủy ban này có thể được mở rộng cho các sáng kiến, dự án, học hỏi, nghiên cứu hoặc tư vấn cụ thể.

Tiểu sử Đức Gioan Phaolô I

Đức Gioan Phaolô I tên là Albino Luciani,  sinh ngày 17/10/1912 tại Forno di Canale, tỉnh Belluno. Ngài được thụ phong linh mục vào tháng 7/1935, được Đức Giáo hoàng Gioan XXIII bổ nhiệm làm giám mục của Vittorio Veneto vào năm 1958 và được Đức Giáo hoàng Phaolô VI bổ nhiệm làm Thượng phụ Venezia. Ngày 05/03/1973, ngài được thăng làm Hồng y. Và ngày 26/08/1978, trong mật nghị Hồng y sau khi Đức Phaolô VI qua đời, ngài được bầu chọn làm Giáo hoàng với tên hiệu Gioan Phaolô, để kính nhớ hai vị tiền nhiệm Gioan XXIII và Phaolô VI. Nhưng Đức Gioan Phaolô I đã đột ngột qua đời vào ngày 28/09 sau đó, chỉ sau 33 ngày làm Giáo hoàng.

Một mục tử gần gũi, khiêm nhường, yêu Chúa và tha nhân

Tiểu sử của Đức Gioan Phaolô I là tiểu sử của một mục tử gần gũi với mọi người, tập trung vào bản chất của đức tin và với sự nhạy cảm phi thường về xã hội. Giáo lý của ngài rất hợp thời. Sự gần gũi, khiêm nhường, đơn giản, xác tín về lòng thương xót của Chúa, tình yêu đối với tha nhân và sự liên đới là những đặc điểm nổi bật của ngài. (REI 28/04/2020) Hồng Thủy – Vatican

Read More
29Tháng Tư
2020

Thư của một linh mục hấp hối gửi cho Chúa

29/04/2020
Anmai
Chưa phân loại
0

Cha José Luis Martín Descalzo người Tây Ban Nha, một phóng viên, một nhà văn, cũng là con út trong một gia đình công giáo đạo đức gồm bốn anh chị em. Ngài tốt nghiệp khoa Lịch Sử và Thần Học của Đại Học Giáo Hoàng Grêgôriô tại Rome, thụ phong linh mục năm 1953. Ngài làm việc trong tư cách giáo sư và giám đốc tại một công ty kịch nghệ; và trong thời gian diễn ra Công Đồng Vaticano II, cha José Luis Martín Descalzo là một thông tín viên.

Là một nhà báo, cha José đã điều hành nhiều tạp chí khác nhau và một chương trình truyền hình. Ngài đã viết nhiều tác phẩm văn chương, một số được biết đến nhiều nhất là “Cuộc Đời và Mầu Nhiệm Của Chúa Giêsu thành Nazareth”, “Những Lý Do Để Sống”, “Những Lý Do Để Hy Vọng”, “Những Lý Do Để Yêu Thương” và “Những Lý Do Cho Đời Sau”, vốn tích hợp nhiều đề mục liên quan đến các biến cố thực và cuộc sống thường ngày.

Cha José Luis Martín Descalzo đã dâng trọn đời mình cho thiên chức linh mục; ngài nguyện trung thành với ơn gọi một cách đơn sơ nhưng sâu lắng. Từ lúc còn trẻ, trải qua những cơn đau tim và thận suy nghiêm trọng, ngài đã phải lọc máu nhiều năm. Sống trọn vẹn những giờ khắc hiện tại Chúa ban, Ngài không ngừng toả lan niềm hy vọng cho đến lúc lìa đời tại Madrid ngày 11 tháng 6 năm 1991. Ở đây, chúng tôi xin giới thiệu bài viết cuối cùng của ngài trước khi ngài ra đi, đó là một lá thư gửi cho Thiên Chúa, chất chứa những tâm tình quý giá đáng cho chúng ta nghiền ngẫm và chia sẻ.

“‘Con cám ơn Chúa’, những lời này sẽ gói trọn tất cả những gì con muốn gửi đến Ngài, lạy Thiên Chúa, tình yêu của con; bởi lẽ, đó cũng là tất cả những gì con muốn thưa lên cùng Chúa, ‘Cám ơn Chúa’, ‘Cám ơn Chúa’. Đứng từ chỏm núi cao nhất của 55 đời mình, con nhìn lại và dường như không thấy gì khác ngoài những dãy núi trùng trùng điệp điệp bất tận của tình yêu Chúa. Lịch sử đời con, chẳng chỗ nào lại không được rọi sáng bởi lòng thương xót Chúa dành cho con; ở đó, đã không một giây phút nào mà con đã không nghiệm ra một sự hiện diện yêu thương đầy tình phụ tử của Chúa đêm ngày chăm bẵm linh hồn con.

Ngay mới hôm qua, một người bạn vừa nghe biết vấn đề sức khoẻ của con gửi cho con một bưu thiếp; trong đó, đầy phẫn nộ, cô bạn viết cho con những lời này, “Một sự giận dữ lớn lao xâm chiếm toàn thân con và con đã nổi loạn với Chúa vì đã để cho một người như cha phải khốn khổ”. Một điều gì đó thật đáng thương! Cảm xúc nơi cô đã khiến cô mù loà để không trông thấy sự thật. Đó là đang khi con chẳng còn quan trọng gì so với bất cứ ai thì trọn đời con đã là một chứng từ cho sự sống và niềm tin. Suốt 55 năm đời con, con đã đau khổ hơn nhiều lần dưới bàn tay người đời; bao lời nộp rủa và sự vô ơn cũng như cô đơn và hiểu lầm. Vậy mà, từ nơi Ngài, con đã không nhận được gì khác ngoài những cử chỉ âu yếm bất tận, kể cả cơn đau sau cùng của con.

Trước hết, Chúa cho con sự sống, kỳ diệu thay con được làm người, để con vui thoả cảm nhận sự mỹ miều của thế giới. Cho con niềm vui trở nên một phần của gia đình nhân loại; cho con vui sướng vì biết rằng, cuối cùng, khi con đặt mọi sự lên bàn cân thì những vết cắt, những thương tích luôn luôn ít hơn tình yêu lớn lao mà cũng chính những con người đó đã đặt lên đĩa cân bên kia của đời con. Dường như con khá may mắn hơn những người khác thì phải. Có thể. Nhưng giờ đây, làm sao con có thể vờ vịt làm một kẻ bị đoạ đày của nhân loại khi biết chắc một điều là, con đã được đỡ nâng và cảm thông nhiều hơn là những khó nhọc.

Hơn thế, cùng với quà tặng làm người, Chúa còn cho con quà tặng đức tin. Ngay từ thời thơ ấu, con cảm nhận sự hiện diện của Ngài hằng bao bọc con; với con, xem ra Chúa thật dịu hiền. Nghe đến danh Ngài, con chẳng hề sợ hãi bao giờ. Linh hồn con, Chúa đã trồng vào đó những khả năng phi thường: khả năng nhận thức, con đang được thương yêu; khả năng cảm biết, mình đang được cưng chiều; khả năng trải nghiệm sự hiện diện mỗi ngày của Chúa trong từng giờ khắc lặng lẽ trôi. Con biết, vẫn có một ít người nguyền rủa ngày họ chào đời, họ thét lên với Chúa rằng, họ không cầu xin để được sinh ra; con cũng chẳng cầu xin điều đó, vì trước đó làm gì có con. Nhưng nếu con biết đời mình là gì, hẳn con vẫn sẽ van nài cho được hiện hữu, một sự hiện hữu như Ngài đang ban cho con.

Con thiết nghĩ, vẫn là tuyệt đối cần thiết để được sinh ra trong mái gia đình mà Chúa đã chọn cho con. Hôm nay con sẽ sẵn sàng đánh đổi tất cả những gì con sở hữu chỉ để được lại ba mẹ và anh chị em con như con đã được. Tất cả họ là những chứng nhân sống động cho sự hiện diện của tình yêu Chúa; qua những người thân yêu đó, con dễ dàng học biết Chúa là ai. Nhờ họ mà việc kính mến Chúa yêu thương người của con nên dễ dàng hơn rất nhiều. Thật vô lý nếu không yêu mến Chúa cũng như không dễ gì để có thể sống đắng cay. Hạnh phúc, niềm tin và lòng tín thác tựa hồ món bánh kem mà mẹ con luôn luôn dọn sẵn sau bữa cơm chiều, một món gì đó gần như chắc chắn không thể không có; hôm nào không có bánh kem thì thật đơn giản, chỉ vì không có trứng chứ không phải tình yêu đang thiếu đi. Con cũng học biết rằng, đau khổ là một phần của cuộc vui; đau khổ không phải là một lời nguyền rủa nhưng là một phần cho cái giá của sự sống, một điều gì đó vốn không bao giờ đủ để lấy mất niềm vui của chúng con.

Nhờ tất cả những điều ấy, giờ đây con cảm thấy thẹn thùng khi nói lên và rằng, cơn đau không làm con đau, đắng cay không làm con cay đắng. Được như thế, không phải vì con can trường nhưng đơn giản chỉ vì ngay từ tấm bé, con đã học nhìn ngắm những khía cạnh tích cực của cuộc sống và tập bước đi trong những vùng tối tăm; để rồi khi chúng ập đến, chúng không quá tăm tối nhưng chỉ hơi xám một chút. Một người bạn khác vừa viết cho con trong mấy ngày qua rằng, con có thể chịu đựng được việc lọc máu cùng lúc khi “con say Chúa”. Điều này, với con, xem ra hơi quá đáng và cường điệu. Bởi vì ngay từ thuở nằm nôi, con đã ngất say với sự hiện diện tự nhiên của Ngài, lạy Chúa, và trong Ngài, con luôn cảm thấy cứng cáp để chịu đau đớn hoặc cũng có thể chỉ vì đau đớn thật sự Chúa đã không gửi đến cho con.

Đôi khi con nghĩ, con thật “quá đỗi may mắn”. Các thánh đã dâng Chúa bao điều lớn lao, còn con, đã không bao giờ có gì đáng giá để dâng Ngài. Con sợ rằng, vào giờ sau hết, con sẽ có chung một ý tưởng như mẹ con đã có khi bà lìa đời. Ý tưởng đó là, con chết mà thấy mình chẳng có công nghiệp gì, có thể nói là trắng tay, vì không gì Chúa gửi đến mà lại quá sức con; cũng không phải ngay cả sự cô đơn hay phiền muộn Chúa trao cho những ai thực sự thuộc về Ngài. Bỏ lỗi cho con, nhưng con sẽ làm gì đây khi Chúa không bao giờ bỏ con? Đôi lúc con cảm thấy xấu hổ khi nghĩ rằng, con sẽ chết mà không được ở bên Chúa trong vườn Ôliu, không được trải qua hấp hối của mình trong vườn cây dầu. Chỉ bởi Chúa, con không hiểu tại sao, không bao giờ để con vắng mặt trong các Chúa Nhật Lễ Lá dù con phải nằm bệnh viện triền miên. Thi thoảng, trong những giấc mơ anh hùng của mình, con từng nghĩ táo bạo rằng, lẽ ra con cần trải qua một cuộc khủng hoảng đức tin để tự chứng tỏ cho Chúa thấy. Người ta nói, lòng tin đích thực được chứng tỏ nơi thập giá đang khi con chưa bao giờ gặp phải bất kỳ một thập giá nào ngoài đôi tay mơn trớn dịu hiền của Ngài.

Đó chẳng phải vì con tốt lành hơn những người khác. Tội lỗi tiềm ẩn trong con, nó sâu sắc làm sao… Chúa với con cùng biết. Sự thật là ngay cả vào những thời khắc tồi tệ nhất, con vẫn chưa trải nghiệm được cái nghiệt ngã của bóng tối sự dữ, bởi lẽ, ánh sáng Chúa đã đêm ngày chiếu soi con. Ngay trong khổ đau, con vẫn thuộc về Chúa; quả vậy, tình yêu Chúa dành cho con xem ra càng tăng thêm mỗi khi con lỗi tội nhiều hơn.

Con cũng đã tựa nương vào Chúa suốt những thời điểm bách hại và khó khăn. Chúa biết, ngay cả trong những chuyện thế gian, thì ở đó, bên con, luôn luôn có nhiều người tốt hơn kẻ bội phản. Vì lẽ, cứ mỗi lần hiểu lầm, con lại nhận được những mười nụ cười. Con thật may mắn vì sự dữ không bao giờ phương hại được con; và quan trọng nhất, sự dữ không bao giờ có thể làm nội tâm con cay đắng. Ngay đến cả những trải nghiệm tồi tệ cũng làm gia tăng trong con sự khát khao được nên trọn lành và kết quả là, con có những người bạn hết sức bất ngờ.

Rồi, Chúa đã gọi con, kỳ diệu thay! Con là linh mục, một điều không thể, Chúa biết điều đó… nhưng với con, con biết, thật nhiệm mầu. Hôm nay hẳn con không còn nhiệt huyết với mối tình trẻ như những thuở đầu; nhưng may thay, thánh lễ đã không bao giờ chỉ là một thói quen thường nhật và con vẫn run lên mỗi khi giải tội. Con vẫn cảm nhận niềm vui vô bờ khi đang ở đây để có thể nâng đỡ người khác cũng như niềm vui hiện diện để rao truyền danh Chúa cho anh em. Chúa biết, con vẫn sùi sụt khóc mỗi khi đọc lại dụ ngôn đứa con hoang đàng; nhờ ơn Chúa, con vẫn xúc động mỗi lần đọc Kinh Tin Kính ở phần nói đến cuộc khổ nạn và cái chết của Chúa.

Dĩ nhiên, quà tặng lớn nhất của Chúa là chính Con Một, Chúa Giêsu. Ngay cả khi con là con người đáng thương nhất hoặc khi khổ đau vẫn cứ đeo bám con mọi ngày trong đời thì con biết rằng, con sẽ chỉ nhớ đến Chúa Giêsu mà vượt qua chúng. Việc ý thức Chúa đã nên một người như chúng con giúp con giao hoà với những thất bại và trống rỗng của mình. Vậy tại sao lại có thể buồn một khi biết rằng, Chúa đã bước những bước trên hành tinh này. Còn gì dịu dàng hơn việc chiêm ngắm khuôn mặt sầu bi của Mẹ Maria?

Hẳn con đang hạnh phúc, sao mà không hạnh phúc được? Con đang hạnh phúc ngay đây dẫu đang ở ngoài vinh quang thiên đàng. Chúa hãy nhìn xem, con đâu sợ chết, nhưng con không vội đến đó. Liệu con được gần Chúa hơn khi đến đó so với bây giờ không? Thật là kỳ diệu, có thiên đàng ngay khi chúng con có thể yêu mến Chúa. Cabodevilla, bạn con, nghĩ đến một điều gì đó khi nói, “Chúng ta sắp chết mà không biết đâu là quà tặng tuyệt vời nhất của Chúa, hoặc Chúa yêu mến chúng ta hoặc Chúa cho chúng ta mến yêu Ngài”.

Vì lý do này, con đau lòng biết bao khi ai đó coi thường cuộc sống của họ. Quả thật, mỗi người chúng con đang làm một điều gì đó cao cả hơn vô vàn so với phận mình, phàm phu tục tử; đó là yêu mến Chúa và cộng tác với Chúa trong việc kiến tạo một toà nhà bát ngát bao la của tình yêu.

Con cảm thấy không ổn khi nói rằng, chúng con làm vinh quang Chúa ở thế gian này; nói thế thì thật quá đáng. Con tin rằng, con sẽ vui thoả khi con gối đầu vào tay Chúa để Chúa có cơ hội vỗ về con, thế thôi. Việc nói rằng Chúa sẽ ban thiên đàng cho chúng con như một phần thưởng khiến con thầm cười. Phần thưởng cho cái gì đây? Chúa thật đáo để khi vừa ban thiên đàng vừa cho chúng con cảm thấy mình xứng đáng với điều đó. Chúa quá biết, chỉ tình yêu mới có thể đáp đền tình yêu. Hạnh phúc không là kết quả cũng không là hoa trái của tình yêu; tình yêu tự nó là hạnh phúc. Nhận biết Chúa là Cha của con, và đó là thiên đàng. Dĩ nhiên, Chúa không cần cho con mọi điều, nguyên việc cho con yêu mến Chúa đã là quà tặng lớn lao cho con, Chúa không thể cho con nhiều hơn.

Vì tất cả điều này, lạy Chúa, Thiên Chúa của con, con đã muốn nói về Chúa và với Chúa ở trang cuối cuốn sách “Những Lý Do Để Yêu Thương” của con. Chúa là cùng đích và là lý do duy nhất cho tình yêu của con, con không còn lý do nào nữa. Sẽ không có bất cứ hy vọng nào cho con nếu không có Chúa. Niềm vui của con sẽ được tìm thấy ở đâu, dựa trên cái gì, nếu vắng bóng Ngài. Rượu tình của con sẽ vô vị nhạt nhẽo biết bao nếu không được ủ ấp trong tình yêu Chúa. Chúa cho con sức mạnh và cuộc đời để con biết rất rõ rằng, nhiệm vụ duy nhất của con là như một phát ngôn nhân lặp đi lặp lại danh Chúa mãi mãi. Và như thế, con thanh thản ra đi.

Con, José Luis Martín Descalzo”

Read More
29Tháng Tư
2020

Phụ nữ cần hiện diện nhiều hơn trong việc đào tạo linh mục

29/04/2020
Anmai
GH Hoàn Vũ, Tin tức
0

Theo nguyệt san “Donne Chiesa Mondo” số tháng 5, ấn bản online ngày thứ bảy 25.04 của Osservatore Romano, Đức Hồng y Marc Ouellet, Bộ trưởng Bộ Giám mục, lưu ý các khía cạnh khác nhau liên quan đến vai trò của phụ nữ trong việc đào tạo linh mục, trong các cộng đoàn giáo xứ và, bao quát hơn, trong đời sống của Giáo Hội.

Rõ ràng là phụ nữ chiếm phần lớn trong số những người lãnh nhận các hoạt động mục vụ của linh mục cũng như cộng tác với linh mục trong các hoạt động đó. Số 151 của Ratio fundamentalis 2016 có viết: sự hiện diện của phụ nữ có giá trị riêng trong tiến trình đào tạo chủng viện, kể cả trong việc nhìn nhận sự bổ trợ giữa nam nữ. Nhưng đối với Đức Hồng y Marc Ouellet, Bộ trưởng bộ Giám mục, vẫn còn nhiều việc phải làm. Vẫn còn là mô hình giáo sĩ. Cần phải có một cuộc cách mạng văn hóa.

Romilda Ferrauto thực hiện cuộc phỏng vấn:

ĐHY đã cổ võ sự hiện diện của phụ nữ trong việc đào tạo các linh mục và trong việc đồng hành thiêng liêng. Xin ĐHY cho biết tại sao và nhằm mục đích gì?

Phụ nữ có thể tham gia [tiến trình đào tạo] bằng nhiều cách: dạy thần học, triết học, linh đạo. Họ cũng có thể là thành phần của ban đào tạo, đặc biệt là trong việc phân định ơn gọi. Trong lãnh vực này, chúng ta cần ý kiến của các phụ nữ, cần trực giác và khả năng của họ trong việc nắm bắt những khía cạnh nhân bản nơi các ứng viên, khả năng trưởng thành tình cảm hay tâm lý của các ứng viên. Về mặt đồng hành thiêng liêng, chắc chắn phụ nữ có thể trợ giúp, nhưng tôi tin rằng một linh mục đồng hành cho ứng viên linh mục thì tốt hơn. Thay vào đó, phụ nữ có thể đồng hành trong việc đào tạo nhân bản, mà theo tôi, đây là phương diện chưa khai triển đủ trong các chủng viện. Cần đánh giá mức độ tự do của các ứng viên, khả năng thống nhất [bốn chiều kích đào tạo], khả năng thiết lập chương trình sống và cả căn tính tâm lý xã hội và tâm lý giới tính của các ứng viên.

Việc đào tạo linh mục dường như vẫn còn thiếu sót trong lãnh vực huấn luyện tình cảm. Có một câu hỏi nhạy cảm khác: chủ nghĩa giáo sĩ trị, tinh thần phân biệt đẳng cấp của các linh mục, đôi khi cả cảm thức được miễn trừ hình phạt. Theo ĐHY, đối với những điểm mấu chốt này, sự hiện diện của phụ nữ trong ban đào tạo có thể trợ giúp gì hay không?

Tôi tin rằng kinh nghiệm hợp tác bình đẳng với phụ nữ giúp ứng sinh hoạch định tác vụ tương lai của mình và nhận ra cách thức tôn trọng và cộng tác với phụ nữ. Nếu không được bắt đầu ngay trong thời gian đào tạo, linh mục có nguy cơ sống mối tương quan giáo sĩ trị đối với phụ nữ.

Ratio fundamentalis 2016, do Bộ Giáo sĩ ban hành, đề nghị việc đào tạo linh mục toàn diện, có khả năng thống nhất các chiều kích nhân bản, thiêng liêng, tri thức và mục vụ. Trong chiều hướng này, sự hiện diện của phụ nữ mang tính “bổ sung” hay “nền tảng”?

Tôi tin rằng bản văn này cần được mở rộng và phát triển hơn nữa. Chúng ta luôn mang quan niệm giáo sĩ trị trong việc đào tạo, tuy vẫn nỗ lực để tiến bộ nhưng lại tiếp tục những gì đã làm. Còn nhiều yếu tố liên quan đến đào tạo nhân bản, nhưng tôi tin rằng những gì liên quan nhằm bổ sung phụ nữ vào việc đào tạo thì còn nhiều thiếu sót.

Người ta thường nghe nói rằng cần phải cho các phụ nữ đảm nhận trách nhiệm. Chắc chắn đây là điều quan trọng. Nhưng nếu tôi hiểu rõ, phải chăng trước hết ĐHY ước muốn một cuộc cách mạng văn hóa? Có lẽ là một sự thay đổi não trạng chăng?

Vâng, chính xác. Trong một tham luận mới đây của tôi ở Hội nghị khoáng đại về Giáo dục Công giáo, tôi đã thừa nhận giá trị sáng tạo trong lời tựa tài liệu Veritatis gaudium (Niềm Vui Chân Lý) của Đức Thánh Cha (Tông hiến về các đại học và các phân khoa Giáo Hội, ngày 29.01.2018) để đổi mới những nghiên cứu cao cấp. Tuy nhiên tôi đã lưu ý rằng chiều kích đặt vấn đề về phụ nữ và lời giải đáp của Giáo Hội vẫn còn thiếu sót. Đây không chỉ là sự thăng tiến phụ nữ mà còn là xem phụ nữ như thành phần toàn vẹn của tất cả tiến trình đào tạo. Lẽ ra cần phải có ít là một ám chỉ đến điều đó, trong văn bản có tầm quan trọng như thế này, một văn bản hướng đến tương lai. Điều này chứng tỏ chúng ta vẫn còn dậm chân tại chỗ! Lúc tôi phát biểu tại phiên họp khoáng đại của hội nghị về Giáo dục Công Giáo, có các vị viện trưởng các đại học ở Roma; có nhiều phụ nữ nhưng tỉ lệ là một trên mười. Còn nhiều điều phải làm trong các nghiên cứu cao cấp của các đại học Công giáo. Cuộc cách mạng văn hóa có nghĩa là phải thay đổi não trạng. Quay lại với việc đào tạo linh mục, một linh mục có thể được chuẩn bị để giảng giải tốt, hoàn thành các phận vụ phải làm. Tuy nhiên mục vụ trước hết là việc chăm sóc con người. Và việc quan tâm đến con người là một phẩm chất nữ tính tự nhiên. Điều đáng nói đó là phụ nữ có sự nhạy cảm đối với con người, ít ra là về mặt chức năng. Đức Thánh Cha Phanxicô, trong tất cả những cải tổ mục vụ của ngài, mời gọi chúng ta chú tâm đến dân chúng và đòi hỏi chúng ta phải làm sao đồng hành với họ để giúp họ tiến triển. Cho đến nay điều chúng ta quan tâm nhất là tính chính thống, là hiểu rõ giáo lý, dạy tốt giáo lý. Nhưng vấn đề là tất cả dân chúng đáng thương này phải tiếp thu giáo lý đó… Chúng ta làm thế nào để đồng hành với họ?

Các mối tương quan giữa linh mục và phụ nữ còn chịu tác động bởi nhiều điều kiện. Thường “dè chừng” lẫn nhau. Trước đây ĐHY đã nói đến nỗi khó khăn khi phải thiết lập một mối tương quan bình đẳng. Khó khăn đó xuất phát từ đâu? Có phải từ thiếu sót nào đó trong việc đào tạo linh mục hay không?

Có lẽ vấn đề mang tính chất sâu xa hơn, do cách thức đối xử với phụ nữ trong các gia đình. Có dè chừng bởi vì có sợ hãi… từ phía nam giới đối với phụ nữ hơn từ phía nữ giới đối với nam giới. Với một linh mục, với một chủng sinh, phụ nữ bị coi là mối nguy hiểm! Trong khi, thực tế, những người nam không có mối tương quan hài hòa với phụ nữ mới là mối hiểm nguy thực sự. Đó là nỗi hiểm nguy trong tác vụ linh mục, là nỗi hiểm nguy chúng ta cần phải triệt để thay đổi. Do đó trong thời gian đào tạo, điều quan trọng là phải có sự gặp gỡ, so sánh, trao đổi. Điều này giúp ứng sinh tương tác cách tự nhiên với nữ giới cũng như giúp họ đương đầu với thách thức trước sự hiện diện của phụ nữ, trước sức hấp dẫn của phụ nữ. Điều đó phải được dạy và học ngay từ khởi đầu, đừng cô lập các linh mục tương lai kẻo rồi họ bị ngỡ ngàng bởi thực tại và đến lúc đó họ có thể mất tự chủ.

Nhiều người nghĩ rằng nếu phụ nữ được tham dự nhiều hơn vào việc đào tạo (và vào đời sống) linh mục, cuộc khủng hoảng lạm dụng tình dục sẽ không đạt tới mức độ thê thảm như đã thấy. Có đúng thế chăng hoặc đây có là một kiểu mẫu hay chăng?

Chắc chắn có một phần sự thật trong đó. Bởi lẽ đàn ông là một hữu thể có tình cảm. Nếu thiếu sự tương tác giữa hai giới, sẽ có nguy cơ phát triển sự bù trừ… Có thể là bù trừ trong việc ăn uống, hoặc được tỏ bày trong cách hành xử quyền bính, hoặc trong các mối tương quan đóng kín, sự đóng kín này trở thành thao túng, kiểm soát… và có thể dẫn đến lạm dụng lương tâm và lạm dụng tình dục. Tôi tin rằng đối với linh mục, việc học cách tương quan với phụ nữ, trong lãnh vực đào tạo, là một yếu tố nhân bản giúp cân bằng nhân cách và tình cảm của người nam.

ĐHY đã nhiều lần nói rằng vấn đề phụ nữ đòi hỏi từ phía Giáo Hội một sự đầu tư quan trọng, nhưng đã không được làm đủ. Tại sao chúng ta không nhận thức được tính khẩn cấp của vấn đề này?

Bốn mươi năm qua, xã hội được ghi dấu bởi những biến chuyển lớn, ít ra là ở phương Tây. Việc có được ý thức về sự hiện diện của phụ nữ trong thế giới lao động, trong đời sống công cộng vẫn còn là điều mới mẻ, có thể nói là như vậy. Giáo Hội bước đi chậm chạp. Chúng ta đã chậm trễ và cần phải thu ngắn khoảng cách vì xã hội đã tiến xa hơn. Giáo Hội cũng đã góp phần kìm hãm việc đòi hỏi phải đạt tới một sự bình đẳng hoàn toàn, về mặt thừa tác, như thể sự khác biệt giới tính chẳng có chút giá trị nào. Cả ở đây chúng ta cũng đối diện với sự áp đặt ý thức hệ thừa nhận nam giới. Thực sự chúng ta cần sáng tạo sao cho phụ nữ hiện diện nhiều hơn, chẳng hạn trong lãnh vực tiên báo, trong việc làm chứng tá và cả trong quản trị. Trong nhiều bộ có các phụ nữ làm chưởng ấn, họ điều phối hoạt động mục vụ. Nhưng vấn đề là mô hình Giáo Hội học mang tính giáo sĩ. Trong Giáo Hội có những người có vai trò hàng đầu: rao giảng Lời Chúa, ban các Bí tích, như thể các linh mục là thực tại chủ yếu của Giáo Hội, nhưng không phải là như thế. Trung tâm của Giáo Hội không phải là thừa tác vụ, mà là Bí tích Rửa tội, nghĩa là đức tin. Và chứng tá của đức tin chính là nơi mà phụ nữ có thể chiếm lĩnh một vị trí đặc biệt.

ĐHY trả lời thế nào cho các phụ nữ Công giáo bất bình vì sự tán dương thiên tài phụ nữ, tán dương một số mẫu mực của nữ tính?

Ai đó đã viết rằng người ta đi từ thù ghét phụ nữ đến tích cực thần thoại hóa phụ nữ! Cả hai thái độ đều sai lầm và rốt cuộc cũng giống nhau vì thiếu cái nhìn sâu xa. Về điểm này, tôi nghĩ rằng ngay cả suy tư thần học cũng có những bước phải vượt qua, kể cả suy tư nhân loại học và suy tư linh đạo về phụ nữ hay về mối tương quan nam-nữ. Suốt nhiều thế kỷ, khoa chú giải đã xây dựng học thuyết Imago Dei, Hình ảnh của Thiên Chúa một cách hết sức trừu tượng. Tại sao? Bởi vì Thiên Chúa thì thiêng liêng. Nhưng ý nghĩa bản văn Sáng thế là sự năng động của tình yêu giữa đàn ông và đàn bà vốn là hình ảnh của Thiên Chúa. Nghĩa là, một đôi với tư cách là một đôi. Giờ đây, các nhà chú giải đã khai triển tư tưởng này. Nhưng để đưa tư tưởng này vào văn hóa cần phải thấu triệt những gì là đàn ông và đàn bà.

Sự vượt trội của phụ nữ giữa những người tích cực tham gia sinh hoạt cộng đoàn giáo xứ rút cục là điều ai cũng biết, thế thì từ đâu lại có ý tưởng cho rằng Giáo Hội là một thực tại nam giới? Có lẽ bởi vì thừa tác vụ chức thánh được dành riêng cho nam giới và điều này, dù có nói thế nào, ngay từ đầu đã khiến phụ nữ trở nên thấp kém trong Giáo Hội, giam cầm phụ nữ vào những bổn phận kém “cao quý” hơn?

Cám ơn anh đã đặt câu hỏi quan trọng này. Câu trả lời đó là: bởi vì mô hình giáo sĩ. Nếu phụ nữ không có quyền chức, họ không tồn tại. Trong khi trách vụ chỉ là thứ yếu và rất phụ thuộc vì nó phục vụ cho Bí tích Rửa tội, nó phải làm sống động tử hệ thiêng liêng trong tâm hồn con người. Chính đây mới là Giáo Hội! Và tất cả những gì còn lại, rao giảng Lời Chúa, ban Bí tích, đều dùng để làm sống động thực tại cốt lõi này. Đức Thánh Cha Phanxicô nói điều đó khi lặp lại ý tưởng của Hans Urs von Balthasar. Ngài nói rằng trong Giáo Hội, Đức Maria trổi vượt hơn Phêrô, bởi vì Mẹ thể hiện chức tư tế của Phép rửa trong ý nghĩa tròn đầy nhất của nó, Mẹ là đấng trung gian trao ban Ngôi Lời nhập thể cho nhân loại. Và do đó, khuôn mẫu của Giáo Hội là nữ giới bởi lẽ đức tin là sự tiếp nhận Lời và ở nền tảng của sự tiếp nhận ân sủng chính là nữ giới. Đức Maria là biểu tượng của điều đó. Đây chính là Giáo Hội học mà tôi gọi là “lễ cưới”, bởi vì khi nói lễ cưới tôi đặt tình yêu ở bình diện cao nhất. Điều này có giá trị không chỉ đối với các đôi hôn phối nhưng ngay cả đối với đời sống thánh hiến, đời sống linh mục và thừa tác vụ, tất cả được hợp nhất trong mối quan hệ hôn phối giữa Đức Kitô và Giáo Hội. Chính Giáo Hội mạc khải cho thế giới mầu nhiệm Thiên Chúa là tình yêu. Romilda Ferrauto

Phaolô Nguyễn Quốc Hưng dịch từ vaticannews.va/it

Read More
29Tháng Tư
2020

Bệnh nhân covid-19 trăn trối với cô y tá: “Tôi sẽ phù hộ cho cô vì những gì cô đã làm”

29/04/2020
Anmai
GH Hoàn Vũ, Tin tức
0

– Một y tá đã cố gắng hết mình để giúp đỡ một bệnh nhân đang hấp hối vì nhiễm virus corona và nhận lại một di sản quý giá.

Thị trưởng vùng Volvera, một thị trấn nhỏ ở miền bắc Italy, đã công bố câu chuyện cực kì cảm động mà một cô y tá đã nói với ông tại bệnh viện địa phương San Luigi. Cô ấy không muốn mô tả những gì các phương tiện truyền thông đang truyền tải: những con số, những số liệu thống kê, những nghị định và lệnh cấm. Cô ấy muốn chia sẻ điều hiển nhiên khác ở khía cạnh về các bệnh nhân dương tính với COVID và nhân viên chăm sóc sức khỏe. COVID không chỉ là một loại virus nguy hiểm.

Lời kể của cô ấy là một cái nhìn thoáng qua về những gì đang xảy ra trong các phòng chăm sóc đặc biệt của các bệnh viện trên khắp thế giới. Trước hết, cô là nhân chứng cho thảm kịch khiến bệnh nhân, người nhà và nhân viên y tế cùng trải nghiệm trong đau khổ tột cùng, nhưng đó cũng là những tia sáng làm nảy sinh hy vọng.

Chúng ta không cho phép vi-rút cướp đi nhân phẩm của chúng ta

Trong các bệnh viện, nơi thần chết lơ lửng như một mối đe dọa chưa từng có, cuộc chiến liên tục này không chỉ để cứu sống những sinh mạng, mà còn vì lý do không kém phần khó khăn và ít nhận thấy, đó là để bảo vệ phẩm giá của con người, vì lợi ích của tất cả chúng ta.

COVID-19 có khả năng làm cho người bệnh cảm thấy bị mất kiểm soát bản thân đến mức họ cần gắn dây và máy thở. Họ thấy mình ở trong một tình huống dường như lên án người thân vì đã khiến người thân có cảm giác tội lỗi tột độ vì đã vắng mặt trong thời khắc thiêng liêng lúc họ qua đời.

Những tình huống này dường như làm tê tái trái tim các bác sĩ và y tá, những người đang cố gắng cứu chữa họ. Để có thể tập trung hết sức mình trong công việc, các bác sĩ và y tá buộc lòng phải tránh ánh mắt của họ.

Một cuộc gọi video để nói lời từ biệt

Tất cả những nỗi đau này được mô tả ở phần giữa của bức thư kể về một bà mẹ có bốn người con. Bà tuyệt vọng tìm cách nhìn vào mắt cô y tá, cố gắng làm dịu trái tim cô ấy qua việc khẩn khoản cô y tá cho phép bà thực hiện bổn phận làm mẹ, cầu xin được đối xử như một con người ngay cả khi chết. Nỗi đau được mô tả khi bà thực hiện cuộc gọi video cho bốn đứa con, trong đó bác sĩ thông báo cho bà và bốn đứa con về tình hình nghiêm trọng của bà.

Cô y tá, trước sự tuyệt vọng này, sử dụng điện thoại thông minh của mình để thực hiện một cuộc gọi video để bà có thể nói lời vĩnh biệt với gia đình. Họ nhìn thấy nhau lần cuối, với những giọt nước mắt và những lời yêu thương vô hạn.

Sau đó, cô y tá,  người viết một lá thư, nói rằng: “Bệnh nhân chết. Bạn quyết định bước ra ngoài và để phần còn lại cho đồng nghiệp của bạn. Và bạn thấy rằng, theo thủ tục, họ phun thuốc khử trùng cho bà ấy, bọc bà ấy trong một tấm trải giường và đưa bà ấy đến nhà xác. Một mình, chỉ một mình, những thứ đồ cá nhân của bà ấy, được gom lại trong một túi màu đen ba lớp, sẽ bị thiêu hủy”

“Cảm ơn cô, tôi sẽ phù hộ cho cô vì những gì cô đã làm cho tôi.”

Khi chiếc xe tang mang theo quan tài rẽ về bên trái và chiếc xe của bệnh nhân chỉ có một đứa con trai có mặt trong nhà xác để nhận quan tài rẽ về bên phải, mọi thứ dường như mất đi và vô nghĩa. Virus đã chiến thắng; nó đã tiếp tục tiêu diệt thêm một mạng sống khác nữa rồi. Tuy nhiên, nó đã không thành công trong việc làm tiêu tan một cái chết có ý nghĩa sâu sắc đến như vậy.

Một di sản quý giá vẫn còn cho những người tiếp tục sống. Cô y tá kể lại chi tiết: “Một bệnh nhân nắm lấy tay tôi và nói, ‘Cảm ơn cô. Tôi sẽ phù hộ cho cô vì những gì cô đã làm cho tôi.’ Bạn sẽ rất khó cầm được nước mắt trong tình huống này.”

Những lời này được vang lên với phước lành và hy vọng cho tất cả mọi người, kể cả những người có và không có niềm tin. Trước thảm kịch vô cùng lớn lao này, sự cứu độ duy nhất là tính nhân đạo của chúng ta, nó như là món quà mà chúng ta nhận ra cả niềm vui và nỗi đau trong ánh mắt của những người khác, chúng ta nhận ra tâm hồn của họ có những nét tương đồng như chính chúng ta.

Đây là bài viết của thị trưởng Ivan Marusich, người sao chép đầy đủ thư của cô y tá: Trong những thời điểm khó khăn này, chúng ta hãy nhớ rằng chúng ta là ai và nhân phẩm của mỗi người trong chúng ta không thể thay đổi. Chúng ta là con cái Chúa, là anh chị em trong Đức Kitô. Ngay cả sự sỉ nhục và vô nhân đạo của một đại dịch cũng không thể thay đổi điều đó. Chúng ta đừng quên tìm kiếm khuôn mặt của Chúa Kitô trong những người khác. Silvia Lucchetti
Văn Quyết dịch từ Aleteia

Read More

Điều hướng bài viết

  • Previous page
  • Page 1
  • …
  • Page 1.861
  • Page 1.862
  • Page 1.863
  • …
  • Page 2.056
  • Next page
Bài viết mới nhất
ĐỨC THÁNH CHA: CÁC CỘNG ĐOÀN GIÁO HỘI PHẢI LÀ NHỮNG NƠI AN TOÀN CHO MỌI NGƯỜI
22/06/2026
CÔNG NGHỊ HỒNG Y BÀN VỀ THẾ GIỚI, THÔNG ĐIỆP VÀ THƯỢNG HỘI ĐỒNG
12/06/2026
GIỚI THIỆU SỔ TAY HÀNH HƯƠNG “CON ĐƯỜNG TRÁI TIM - HÀNH HƯƠNG VÀO TRÁI TIM SỨ MẠNG LOAN BÁO TIN MỪNG”
12/06/2026
Video nổi bật
https://www.youtube.com/watch?v=Td144YDsaGo
Sự kiện sắp tới

There are no upcoming events at this time.

Ủy ban Giáo dục Công giáo – Trực thuộc Hội Đồng Giám Mục Việt Nam.

Liên hệ

72/12 Trần Quốc Toản, Phường 8, Quận 3, TP.HCM Get Directions

Phone: +84 931 436 131

Email: [email protected]

Ban chuyên môn
  • Ban Tài liệu và Truyền thông
  • Ban Giáo chức
  • Ban Kỹ năng và Giá trị sống
  • Ban Khuyến học
  • Ban Học viện Thần học
  • Ban Hội Học sinh – Sinh viên
Chuyên mục
  • Tin tức
  • Thư chung
  • Giáo dục
  • Phụng vụ
  • Thư viện
Bản quyền © 2020 thuộc về Ủy Ban Giáo Dục HĐGM VN. Design by JT.