2020
Henry Kissinger: “Trật tự thế giới sẽ không bao giờ trở lại như cũ”
Henry Kissinger, Ngày 10 tháng 10 – 2017. Kevin Lamarque/Reuters
Đối với cựu Ngoại trưởng của Tổng thống Richard Nixon và Gerald Ford, đại dịch củng cố ý tưởng về một quyền lực địa phương mạnh mẽ vào thời mà sự thịnh vượng không có biên giới.
Bầu khí siêu hiện thực của đại dịch Covid-19 làm tôi nhớ lại cảm giác của tôi khi còn là chàng trai trẻ trong Sư đoàn bộ binh 84 ở trận chiến Ardennes (1). Hôm nay, cũng như cuối năm 1944, tôi có cảm giác một nguy hiểm sắp xảy ra, không nhắm vào một người nào cụ thể, nhưng nó bất ngờ đánh và gieo tác hại khủng khiếp. Tuy nhiên có một sự khác biệt cơ bản giữa thời gian xa xôi này và thời buổi bây giờ của chúng ta. Sức chịu đựng của Mỹ lúc đó được củng cố bằng một mục tiêu tối hậu là chiến đấu cho quốc gia. Ngày nay, trong một nước chia rẽ, một chính quyền hiệu quả và có tầm nhìn xa là điều cần thiết để vượt lên các thách thức có tầm vóc quy mô và phạm vi toàn thế giới chưa từng thấy này. Giữ lòng tin người dân là điều thiết yếu cho sự đoàn kết, cho quan hệ giữa các nước, cho hòa bình và cho sự ổn định quốc tế. Các quốc gia củng cố sự thống nhất của họ và phát triển dựa trên niềm tin vào các thể chế của họ có thể lường trước được các thiên tai, ngăn chặn tác động của nó và khôi phục lại sự ổn định.
Một vắc-xin có thể có trong vòng từ mười hai đến mười tám tháng
Khi đại dịch Covid-19 kết thúc, chính phủ của nhiều quốc gia sẽ bị xem như thất bại. Không quan trọng để biết liệu sự phán xét này có khách quan hợp pháp không. Thực tế là sau coronavirus, thế giới sẽ không bao giờ trở lại như cũ. Tranh luận về quá khứ bây giờ chỉ làm phức tạp thêm công việc. Covid-19 đã tấn công với một tầm mức rộng lớn và hung dữ chưa từng thấy. Sự lây lan của nó theo cấp số nhân: số ca bị nhiễm ở Mỹ gấp đôi mỗi năm ngày. Cho đến bây giờ không có thuốc chữa. Thiết bị y tế không đủ để đối phó với tầm mức lây lan lớn lao. Các phòng chăm sóc tích cực quá tải. Không đủ thử nghiệm để đo mức độ nhiễm trùng, đó là chưa nói đến việc chận đứng sự lây lan của nó.
Một vắc-xin có thể có trong vòng từ mười hai đến mười tám tháng. Chính quyền Mỹ đã thực hiện một công việc hiệu quả là ngăn chặn một thảm họa cận kề. Thử nghiệm cuối cùng là liệu có chận được sự lây lan không, theo cách để người dân giữ lòng tin vào khả năng cai trị của chính quyền Mỹ. Nỗ lực giải quyết cuộc khủng hoảng, dù to lớn và cần thiết như thế nào, cũng không nên làm lu mờ nhiệm vụ song song để đảm bảo sự chuyển tiếp qua một thứ trật hậu-coronavirus.
Các nhà lãnh đạo đang đối diện với cuộc khủng hoảng trên tầm mức Quốc gia, nhưng tác động phá nát của con vi-rút tạo ra trên xã hội chúng ta không có biên giới. Nếu sự đe dọa trên sức khỏe con người là tạm thời – chúng ta hy vọng vậy – thì các xáo trộn chính trị, kinh tế nó tạo ra có thể trải dài trên nhiều thế hệ. Không một quốc gia nào kể cả Mỹ, trong nỗ lực quốc gia riêng của mình, có thể đánh bại vi-rút. Đáp ứng cho nhu cầu trong lúc này, cuối cùng phải phối hợp với tầm nhìn chung và một chương trình hợp tác quốc tế. Nếu chúng ta không thể dẫn cả hai để cùng đương đầu, thì chúng ta sẽ đối diện với các tác động tiêu cực tệ nhất của mỗi bên.
Các chương trình phải tìm cách giảm thiểu các tác động của sự hỗn loạn sắp xảy ra cho người dân dễ bị tổn thương nhất
Rút bài học từ sự phát triển Kế hoạch Marshall và Dự án Manhattan, nước Mỹ phải nỗ lực rất lớn trong ba lĩnh vực.
Lãnh vực đầu tiên, củng cố sức đề kháng toàn cầu đối với các bệnh truyền nhiễm. Các chiến thắng khoa học như vắc-xin chống bệnh sốt tê liệt, bệnh đậu mùa hay hứa hẹn kỹ thuật trong việc chẩn đoán y khoa nhờ thông minh nhân tạo đã làm chúng ta rơi vào tình trạng ngủ mê nguy hiểm. Chúng ta cần phát triển các kỹ thuật và công nghệ mới để kiểm soát các bệnh nhiễm trùng và tìm ra vắc-xin phù hợp cho đại đa số quần chúng. Các thành phố, tiểu bang và khu vực phải chuẩn bị để bảo vệ người dân của mình chống đại dịch bằng cách dự trữ, lập kế hoạch hợp tác và nghiên cứu.
Lãnh vực thứ nhì, chúng ta hãy cố gắng chữa lành các vết thương của nền kinh tế toàn cầu. Các nhà lãnh đạo đã học được bài học từ cuộc khủng hoảng tài chánh năm 2008. Cuộc khủng hoảng kinh tế hiện nay phức tạp hơn: tốc độ chậm lại do coronavirus, do sự nhanh chóng và tầm rộng lớn của nó, khác với tất cả những gì chúng ta đã biết trong lịch sử. Và các biện pháp y tế công cộng cần thiết như cách ly, đóng cửa trường học, đóng cửa hãng xưởng làm nặng thêm cho tình trạng kinh tế. Vì thế phải tìm các chương trình để làm nhẹ tác động hỗn loạn sắp tới trên người dân có hoàn cảnh bấp bênh nhất.
Việc từ bỏ sự cân bằng giữa quyền lực và tính hợp pháp trên toàn cầu sẽ dẫn đến sự tan rã của hợp đồng xã hội ở mức độ quốc gia và quốc tế
Lãnh vực thứ ba, giữ các nguyên tắc của trật tự thế giới tự do. Truyền thuyết thành lập chính quyền hiện đại như một thành phố kiên cố được các nhà lãnh đạo quyền lực bảo vệ, đôi khi chuyên chế, đôi khi nhân từ nhưng luôn đủ mạnh để bảo vệ người dân khỏi kẻ thù bên ngoài. Các tư tưởng gia thời Khai sáng đã củng cố khái niệm này, họ cho rằng mục đích của Nhà nước hợp pháp là cung cấp các nhu cầu căn bản cho người dân: an ninh, trật tự, phúc lợi kinh tế và công lý, vì cá nhân không thể tự mình bảo đảm cho mình những chuyện này. Đại dịch đã tạo nên sự tái sinh thành phố kiên cố ở thời mà sự thịnh vượng tùy thuộc vào thương mại toàn cầu và sự đi lại của người dân.
Các nền dân chủ phải bảo vệ và duy trì các giá trị của thời Khai sáng. Việc từ bỏ toàn cầu sự cân bằng giữa quyền lực và tính hợp pháp sẽ dẫn đến sự tan rã của hợp đồng xã hội ở mức độ quốc gia và quốc tế. Dù vậy, câu hỏi ngàn năm của tính hợp pháp và quyền lực này không thể giải quyết cùng một lúc với nỗ lực chống lại bệnh dịch Covid-19. Kềm chế là cần thiết cả với chính trị nội bộ và ngoại giao quốc tế.
Chúng ta chuyển từ trận chiến Ardennes qua một thế giới thịnh vượng ngày càng tăng và phẩm giá con người ngày càng cao. Bây giờ chúng ta sống trong một thời điểm quyết định. Thách thức lịch sử cho các nhà lãnh đạo là vừa quản lý cuộc khủng hoảng vừa xây dựng tương lai. Một thất bại sẽ có thể làm thế giới cháy.
Giuse Nguyễn Tùng Lâm dịch
1.Cuộc chiến Ardennes là tên của các trận đánh mùa đông năm 1944-1945 (ngày 15-12-1944 đến 25-1-1945), một trong các trận chiến đẫm máu của Thế chiến Thứ hai.
2020
Lời thú tội của một linh mục tuyên úy quân đội đối diện với tử thần
Tuyên úy quân đội, đã quen với hiện trường, an ủi các tang gia, linh mục Christian Venard là người đã quen với tử thần. Vậy mà…
Tôi đã chết ngày thứ tư 7 tháng 9 năm 2011.
Đã có một vài lần tôi cảm thấy lưỡi hái tử thần rất gần với tôi. Khi sáng sớm đến hiện trường, ở những nơi chiến tranh. Hấp dẫn và tàn nhẫn, hái đi tất cả trên đường đi của nó; trên máy bay trực thăng cửa mở; giữa tàn tích tro rụi ở Kosovo; nguy hiểm và thu mình trong các cánh đồng ở Afghanistan bí ẩn; trong tiếng động ồn ào và thơm ngát ở châu Phi xa xuôi hay vùng sa mạc cận Sahara… Theo tiếng gọi tận hiến đời mình, tự nguyện dâng lên Chúa, nếu có thể sẽ thoát được và lớn lên cao hơn! Và vẫn còn giữ được đức tin, đức cậy, đức ái. Tâm hồn hiến dâng của một người được rửa tội, hơn nữa của một linh mục. Lạy Chúa, con xin dâng Chúa đời con cho đến hy sinh cuối cùng, với niềm vui bởi vì sẽ là ân sủng khi sống trong nghịch lý này của tình yêu: hiến mạng sống mình cho người mình yêu!
Trong ngây thơ của một linh mục tuyên úy quân đội trẻ, đã một lần ở trong lửa, tôi nghĩ tôi đã thuần với tử thần, cái chết đã trở thành quen thuộc với tôi. Nhưng ngòi chích đau đớn của nó tôi cảm nhận không phải ở các vùng đất xa lạ, xa xuôi đẫm máu vì các cuộc xung đột, nhưng tại đây, tại nước Pháp của tôi. Lần đầu tiên, đáng sợ hơn nữa khi người bạn thơ ấu của tôi qua đời, tôi đã chủ tế hôn lễ của anh, thiếu tá Thibaut Miloche, anh đã chết anh hùng ở Afghanistan. Cha chúng tôi học cùng lớp ở trường quân đội Saint-Cyr: Đất Phi châu! Tại đó, trước quan tài mở của anh, cầm tay hai con của anh ở nhà quàn Batignoles, mà sau này tôi biết là nhờ anh, nơi đã quàn người em ruột đi lính của tôi, các cháu mà tôi tháp tùng. Ở đó, tử thần, cái chết đã cho tôi thấy các mong manh riêng của tôi, vạch ra cho tôi thấy sự tàn phá nó có thể gây ra. Ở đó, tử thần gạt đi các xác quyết của tôi, đột nhập vào tâm hồn tôi để lại một lỗ hỗng không thể tưởng tượng được. Sau đó tôi đã thấy người chết… Tôi đã tháp tùng người thân, trẻ em, người vợ, người anh, người chị, người cha, người mẹ… Lòng tôi vẫn thường khóc khi các gương mặt này, các đau đớn này ùa về dù tôi muốn quên đi.
Cái chết đã đánh gục tôi một sáng tháng 9 năm 2011. Cầm tay lái mà theo lẽ là chồng của Sandra, vợ của Valéry Tholy lái, anh vừa chết vài giờ trước đây trong cuộc chiến ở Afghanistan, tôi đến trường ba đứa con của anh: chín, bảy và năm… Tôi chết trân trước cảnh tượng không thể chịu nổi, Sandra ngã gục xuống đất ở ngôi trường Montauban, ba đứa con nằm úp trên người mẹ. Tôi muốn chết thay cho Valéry. Tôi muốn cho Chúa tất cả để Ngài đem anh về đây, bây giờ – và xin Chúa nhận tôi thay cho anh. Một bất lực khủng khiếp đã không được chết thay cho Valéry. Tử thần đã thắng và nếu thể xác tôi còn sống, thì trong tâm trí tôi, cái chết đã có chỗ. Bây giờ tôi đã có một trước và một sau biến cố này. Sau mặc cảm tội lỗi, sau sự ngây thơ ban đầu đã vỡ, từng chút một thất vọng lấn chiếm tâm hồn tôi.
Cũng ở Montauban, cầm tay các đồng đội của tôi đang trút hơi thở cuối cùng, Abel Chennouf và Mohamed Legouad bị tên sát nhân khủng bố Merah sát hại. Tử thần ở đó, người bạn trung thành, phát sinh từ sự điên rồ ác ý của người có tâm trí xáo trộn theo một tôn giáo không được hấp thụ đúng, là tác giả âm thầm trên đất Pháp này… Tôi đã chết: trong vô thức tôi nghĩ tôi đã chế ngự được nó! Một phán đoán sai lầm. Từ đó, với sự kiên trì của nó, tử thần tiếp tục làm công việc hủy hoại nội tâm tôi. Chỉ có ân sủng của đức tin thừa hưởng của tổ tiên, của rất nhiều tình thương bạn bè, ý thức trách nhiệm sâu sắc phải thực hiện, một tiếng tăm truyền thông khiêm tốn giúp tôi đứng vững không bị ngã gục, để làm chứng cho sự hy sinh của các bạn chiến đấu.
Trong các tháng gần đây, ban tuyên úy công giáo quân đội dủ lòng tội nghiệp tôi, buộc tôi phải đi bác sĩ tâm thần trong quân đội. Từ đó tôi được chữa trị, bắt buộc nghỉ ngơi, bắt phải rút lui để “ổn định tinh thần”… Nhưng tâm hồn tôi vẫn đau khổ khát khao muốn gặp những người tôi đã gặp. Lời bài hát “Nó không dự trù trước, nó đến” (Ça ne prévient pas, ça arrive) của nữ danh ca Barbara thống thiết vang vọng trong tai tôi:
Nó đến từ xa
Nó đi từ bờ này qua bờ kia
Tiếng nói nơi khóe miệng
Rồi một sáng, khi thức dậy
Gần như chẳng còn gì
Nhưng nó ở đó, nó làm mình thiu thiu ngủ
Ruột thắt quặn
Cái ác của sự sống
Cái ác của sự sống
Phải sống với nó…”

Dù muốn dù không, sống để chết với nó. Trong quyển sách danh tiếng Con đường mấy ai đi của nhà tâm lý học Mỹ Scott Peck, ông đã viết Đời là khó khăn. Mỗi ngày phải lặp đi lặp lại nhiệm vụ gay go, phải sống với chân trời duy nhất là chân trời Đức tin: rồi thì Ngài sẽ đến tìm tôi, để tôi được Bình an. An nghỉ Bình an! Ôi, xin Chúa Giêsu hãy đến!
Viết để tưởng niệm những ai tôi đã tháp tùng trong cái chết và để làm chứng, cái chết tâm lý không phải là một vết thương vô hình của những người chiến đấu! Nhưng nhất là, trong giai đoạn đại dịch Covid-19 khủng khiếp này để vinh danh những người chiến đấu với cái chết và đối diện với nó mỗi ngày, các nhân viên làm việc ở bệnh viện, các bác sĩ, y tá, các lực lượng an ninh, những người làm việc trong bóng tối, những người làm việc cho anh em mình và cho Tổ quốc.
Marta An Nguyễn dịch
2020
Các linh mục Pháp can thiệp với Tổng thống để thánh lễ bắt đầu lại ngày 11 tháng 5
Trên một trăm linh mục can thiệp với Tổng thống Pháp để thánh lễ bắt đầu lại ngày 11 tháng 5, Trở lại với thánh lễ là điều giáo dân Pháp đang mong chờ. Trên báo Le Figaro ra ngày thứ sáu 24 tháng 4, 130 linh mục viết kiến nghị xin Tổng thống Emmanuel Macron cho phép họ dâng thánh lễ cho giáo dân kể từ ngày 11 tháng 5, họ cam kết tôn trọng các quy định về sức khỏe như đã ấn định.
Từ vài ngày nay, người công giáo Pháp đặt câu hỏi về việc dâng thánh lễ cho giáo dân lại. Ngày thứ ba 21 tháng 4, Tổng thống Emmanuel Macron nói bóng gió sẽ mở cửa các nơi thờ phượng “vào giữa tháng 6”, trong khi nhà nước cho phép một số tiệm buôn và trường học được mở cửa kể từ ngày 11 tháng 5, người công giáo mong mở cửa nhà thờ vào giữa tháng 5 và tuân thủ các quy tắc về sức khỏe.
Nhiều giám mục đã công khai kêu gọi Tổng thống Pháp cho phép mở lại nhà thờ cùng lúc với các doanh nghiệp, và bây giờ hơn một trăm linh mục trong đó có cha Amar, cha Grosjean, cha Dedieu lên tiếng: “Chúng tôi rất cảnh giác, triệt để, cẩn thận, tuân thủ và tôn trọng.”
Trên diễn đàn báo Le Figaro ngày 24 tháng 4, các linh mục can thiệp mạnh với Tổng thống Pháp: “Giống như tất cả người dân Pháp và với tất cả giáo dân chúng tôi, từ 10 tuần nay chúng tôi đã tuân thủ lệnh cách ly để chống Covid-19. Chúng tôi rất cảnh giác, triệt để, cẩn thận, tuân thủ và tôn trọng các chỉ thị.” Các linh mục nhấn mạnh, họ đã làm tất cả trong khả năng để gần với mọi người, nâng đỡ các nhân viên chăm sóc, may áo choàng và khẩu trang, chuẩn bị bữa ăn cho những người thiệt thòi nhất”. Họ không ngần ngại bày tỏ sự khó hiểu của mình đối với đường hướng mà Tổng thống Emmanuel Macron dường như đang thực hiện liên quan đến việc mở cửa lại các nơi thờ phượng.
Các linh mục chất vấn: “Nếu đời sống kinh tế và xã hội bắt đầu lại từ ngày 11 tháng 5 thì không có lý do nào mà đời sống tôn giáo lại bị để qua một bên. Nếu các nhà máy, trường học, cửa hàng và giao thông công cộng tiếp tục, thì điều gì có thể biện minh cho việc để các nhà thờ chúng tôi trống rỗng và không có thánh lễ cho giáo dân?”
Hiện tại, không có quyết định chính thức nào của Nhà nước được thông báo về vấn đề này. Chắc chắn hàng ngàn tín hữu Pháp đang sốt ruột chờ phản ứng của Tổng thống Pháp.
Nguyễn Tùng Lâm dịch
2020
Ngày 1 tháng 5, nước Ý sẽ được dâng hiến cho Trái tim Vô Nhiễm Đức Mẹ
Hội đồng giám mục Ý cho biết, giữa lòng đại dịch, nhiều giáo dân xin dâng hiến nước Ý cho Đức Mẹ Maria.
Trong một thông báo của Hội đồng giám mục Ý cho biết, vào ngày đầu tháng 5, để đáp ứng đề xuất của giáo dân, “nước Ý sẽ dâng hiến cho Đức Mẹ, xin Mẹ Thiên Chúa che chở bảo vệ, như một là dấu chỉ của hy vọng và cứu rỗi.”
Một quyết định “cực kỳ biểu tượng”
Cụ thể buổi lễ sẽ được tổ chức lúc 21 giờ tối thứ sáu 1 tháng 5 tại đền thánh Santa Maria del Fonte, ở bang Bergame, đền thánh được xây dựng tại nơi Đức Mẹ hiện ra. Theo Hội đồng Giám mục, lựa chọn ngày và địa điểm “cực kỳ mang tính biểu tượng.” Vùng này đặc biệt bị coronavirus tác hại nặng và tháng 5 là tháng “truyền thống kính Đức Mẹ với tràng chuỗi Mân côi và các cuộc hành hương đến đền thánh. Dâng lên Đức Mẹ các người bệnh, các nhân viên y tế, các bác sĩ, các gia đình và các người đã qua đời.”
“Thường thường chính tín hữu đẩy các mục tử đi tới”
Trong một video kèm theo thông báo, Đức Hồng y Gualtiero Bassetti, giáo phận Pérouse và là chủ tịch Hội đồng giám mục Ý cho biết: “Các mục tử có nhiệm vụ hướng dẫn đàn chiên, nhưng thường thường chính đàn chiên lại thúc đẩy mục tử đi tới đàng trước.” Và đây là trường hợp này, ngài cho biết chính ngài nhận hơn ba trăm thư xin dâng toàn nước Ý cho Đức Mẹ. Ngài cho biết ngài đã rất xúc động trước đức tin và lòng mộ đạo được giáo dân bày tỏ trong các bức thư này. Và ngài không che giấu lòng biết ơn các giáo dân đã thúc đẩy mục tử của họ đi tới đàng trước.
Marta An Nguyễn dịch
