2020
Người trẻ cầu nguyện nhiều hơn trong thời gian phong tỏa vì Covid-19
Một cuộc khảo sát mới về đức tin trong thời gian đại dịch Covid-19 cho thấy rằng 24% người trẻ từ 18-24 tuổi ở Ailen đang cầu nguyện nhiều hơn bình thường và 27% công chúng đã xem hoặc nghe ít nhất một nghi lễ tôn giáo trong thời gian phong tỏa.
Cuộc thăm dò được thực hiện bởi tổ chức nghiên cứu Amarach theo yêu cầu của Viện Iona, một tổ chức nghiên cứu và bảo vệ Kitô giáo, để xem xét việc thực hành tôn giáo vào đầu tháng 4, khi các nhà thờ bị đóng cửa.
37% vẫn cầu nguyện bình thường
Cuộc thăm dò này cho thấy dù không thể tham dự Thánh lễ hay các nghi lễ tôn giáo khác, việc tham dự các nghi lễ tôn giáo vẫn tương đối cao. Kết quả cho thấy 37% người dân nói rằng họ đang cầu nguyện như bình thường; trong khi số người tham dự trực tuyến ít nhất một cử hành tôn giáo ở độ tuổi từ 18-24 là 24% thì ở độ tuổi 55 là 44%; trung bình có 18% tín hữu cầu nguyện nhiều hơn bình thường; 85% tin rằng gia đình sẽ được đề cao hơn sau thời gian phong tỏa, 75% nghĩ rằng người già sẽ được đề cao hơn và 31% tin rằng người dân sẽ sống chiều kích thiêng liêng hơn.
Kết quả đáng khích lệ
Trước khi đại dịch xảy ra, khoảng 30% người dân Ai Len tham dự Thánh lễ hay cử hành tôn giáo mỗi tuần. Ông David Quinn, giám đốc viện Iona cho biết: “Cuộc thăm dò hỏi mọi người xem họ có theo dõi một cử hành tôn giáo trực tuyến trên Tivi hay nghe trên đài phát thanh không, 27% công chúng nói rằng họ có. Đó là khá nhiều, ngang bằng với số lượng đi lễ mỗi tuần. Tôi thấy điều đó thực sự thú vị và đáng khích lệ.”
Gốc rễ đức tin vẫn còn sâu sắc hơn chúng ta tưởng nghĩ
Ông Quinn nói thêm rằng trong khi các linh mục cử hành và phát trực tuyến các Thánh lễ trong các nhà thờ trống vắng và tự hỏi có bao nhiêu người đang tham dự, hay các ngài đã mất cộng đoàn của mình, thì kết quả thăm dò là điều khích lệ các ngài. Ông nhận định rằng gốc rễ của đức tin có thể là sâu sắc hơn chúng ta nghĩ. Một điều đáng mừng nữa là số người được hỏi đánh giá cao gia đình và người cao niên hơn.
Thiếu chăm sóc y tế cho các nhà dưỡng lão
Nhân dịp này, ông Quinn cũng phê bình cách thức chính phủ chăm sóc các bệnh nhân virus corona tại các nhà dưỡng lão ở Ai Len. Những lo ngại đã được đặt ra về việc chậm trễ đáp ứng các nhu cầu của các viện dưỡng lão khi virus lây lan đã cho xã hội thấy những cư dân dễ bị tổn thương. (The Tablet 28/04/2020)
Nguồn: vaticannews.va/vi
2020
ĐTC Phanxicô: Ngày nay nhiều Kitô hữu bị bách hại hơn cả trong những thế kỷ đầu
Đức Thánh Cha đau lòng khi thấy rằng ngày nay nhiều anh chị em vẫn còn chịu bách hại và mời gọi các tín hữu gần gũi với họ. Ngài khuyến khích các tín hữu kiên cường làm men, làm muối cho Tin Mừng, đừng để cho hương vị Kitô hữu bị mất đi. Chúa Kitô luôn đồng hành với chúng ta trong thử thách.
Trong buổi tiếp kiến chung được truyền hình trực tiếp từ Dinh Tông tòa vào sáng thứ Tư 29/04, Đức Thánh Cha đã giải thích Mối phúc cuối cùng trong tám Mối phúc: “Phúc cho ai bị bách hại vì lẽ công chính, vì Nước Trời là của họ” (Mt 5,10). Sống theo các Mối phúc có thể khiến chúng ta bị thế giới chối từ, bách hại. Tuy nhiên, cuối cùng, bách hại lại là nguyên nhân giúp chúng ta được hưởng niềm vui trên thiên quốc. Con đường Mối phúc là hành trình phục sinh, đưa chúng ta từ sự ích kỷ đến cuộc sống theo Chúa Thánh Thần hướng dẫn. Cuộc đời các thánh cho chúng ta thấy rằng bách hại giúp các Kitô hữu được giải thoát khỏi sự thỏa hiệp với thế gian.
Bài giáo lý của Đức Thánh Cha
Anh chị em thân mến, chào anh chị em!
Với buổi tiếp kiến hôm nay, chúng ta kết thúc cuộc hành trình các Mối phúc theo Tin Mừng. Như chúng ta đã nghe, Mối phúc cuối cùng loan báo niềm vui cánh chung của người bị bách hại vì công lý.
Mối phúc này loan báo về hạnh phúc giống như được loan báo trong Mối phúc đầu tiên: nước Trời dành cho những người bị bách hại giống như dành cho người có tinh thần nghèo khó; như thế chúng ta hiểu rằng chúng ta đã đi đến điểm cuối của một hành trình duy nhất đã được loan báo trong các Mối phúc trước đó.
Các Mối phúc là hành trình từ sự ích kỷ cá nhân đến
Tinh thần nghèo khó, sự than khóc, hiền lành, khao khát sự thánh thiện, lòng thương xót, tâm hồn trong sạch và kiến tạo hòa bình có thể đưa đến sự bách hại vì Chúa Kitô, nhưng sự bách hại này cuối cùng lại là nguyên nhân của niềm vui và phần thưởng lớn lao trên thiên đàng. Con đường của các Mối phúc là một hành trình Phục sinh, đi từ một cuộc sống theo thế gian đến cuộc sống theo Thiên Chúa, từ một cuộc sống được dẫn dắt bởi xác thịt – nghĩa là bởi sự ích kỷ – đến cuộc sống được Chúa Thánh Thần hướng dẫn.
Lối sống Tin Mừng gây khó chịu cho thế gian
Thế gian, với những thần tượng của nó, những thỏa hiệp và ưu tiên của nó, không thể chấp nhận lối sống này. “Các cấu trúc tội lỗi”, những thứ thường được tạo ra bởi não trạng của con người và xa lạ với Thánh Thần chân lý, Đấng mà thế gian không thể chấp nhận (x. Ga 14,17), chỉ có thể chối bỏ tinh thần nghèo khó hay hiền lành hay trong sạch và tuyên bố rằng lối sống theo Tin Mừng là một sai lầm và là vấn đề, và do đó là điều gì đó cần gạt ra ngoài lề. Thế giới nghĩ rằng: đây là những người duy tâm hoặc cuồng tín … Họ nghĩ như thế.
Nếu thế gian dựa trên tiền bạc, thì bất cứ ai chứng tỏ rằng cuộc sống có thể được viên mãn trong việc trao tặng và từ bỏ, đều trở thành sự phiền toái đối với hệ thống của lòng tham lam. Từ “phiền toái” này là chìa khóa, bởi vì chứng tá Kitô giáo duy nhất, điều mang lại nhiều điều tốt đẹp cho nhiều người bởi vì họ sống theo nó, lại gây phiền toái cho những người theo não trạng thế gian. Họ thấy nó như một lời trách móc. Khi sự thánh thiện xuất hiện và cuộc sống của con cái Chúa nổi bật lên, trong vẻ đẹp đó có một điều không thoải mái, đòi hỏi phải chọn lựa: hoặc để cho chính mình bị tra vấn và mở lòng ra với điều tốt hoặc từ chối ánh sáng đó và trở nên cứng lòng, thậm chí đến mức chống đối và giận dữ (x. Kn 2,14-15).
Sự thù ghét Kitô hữu của các chế độ độc tài ở châu Âu
Thật là đáng tò mò … thu hút sự chú ý khi nhìn thấy trong các cuộc bách hại các vị tử đạo, sự thù địch gia tăng đến trở thành oán giận như thế nào. Chỉ cần nhìn những cuộc bách hại trong thế kỷ cuối cùng của các chế độ độc tài châu Âu: người ta đã thịnh nộ chống lại Kitô hữu, chống lại chứng tá Kitô giáo và chống lại chủ nghĩa anh hùng của Kitô hữu như thế nào.
Bách hại giúp Kitô hữu thoát khỏi thỏa hiệp với thế gian
Nhưng điều này cho thấy rằng thảm kịch bách hại cũng là nơi giải thoát khỏi sự lệ thuộc vào thành công, vào vinh quang giả tạo và thỏa hiệp với thế giới. Điều gì làm cho những người bị thế giới chối bỏ vì Chúa Kitô được vui mừng? Họ vui mừng vì đã tìm được điều quý giá, giá trị hơn cả thế giới. Thực tế, “được cả thế giới mà phải thiệt mất mạng sống, thì người ta nào có lợi gì?” (Mc 8,36).
Ngày nay có nhiều vị tử đạo hơn trong các thế kỷ đầu tiên
Thật đau lòng nhắc lại rằng, tại thời điểm này, có rất nhiều Kitô hữu phải chịu những cuộc bắt bớ ở nhiều khu vực trên thế giới, và chúng ta phải hy vọng và cầu nguyện rằng cơn hoạn nạn của họ sẽ chấm dứt càng sớm càng tốt. Ngày nay có nhiều vị tử đạo hơn trong các thế kỷ đầu tiên. Chúng ta hãy tỏ sự gần gũi với những anh chị em này: chúng ta là một thân thể, và những Kitô hữu này là những chi thể đang bị thương tích đổ máu trong thân thể của Chúa Kitô là Giáo hội.
Chú ý đến nguy cơ “đánh mất hương vị” của Kitô hữu
Nhưng chúng ta cũng phải cẩn thận để không đọc Mối phúc này theo nghĩa bi quan, tự thương hại. Thật ra, không phải sự khinh miệt của con người lúc nào cũng đồng nghĩa với sự bách hại: không lâu sau khi nói về các Mối phúc, Chúa Giêsu nói rằng các Kitô hữu là “muối của trái đất”, và ngài cảnh giác chống lại nguy cơ “đánh mất hương vị”, khi đó muối “đã thành vô dụng và chỉ còn việc quăng ra ngoài cho người ta chà đạp” (Mt 5,13). Do đó, cũng có sự khinh miệt do lỗi của chúng ta, khi chúng ta đánh mất hương vị của Chúa Kitô và Tin Mừng.
Cần phải trung thành với con đường khiêm hạ của các Mối phúc, bởi vì đó là con đường để thuộc về Chúa Kitô chứ không phải thuộc về thế gian. Cần nhớ lại hành trình của thánh Phaolô: khi ngài nghĩ mình là một người công chính, thì ngài lại là một kẻ bách hại, nhưng khi khám phá ra mình là một kẻ bách hại thì ngài lại trở thành con người của tình yêu, người đối mặt cách hạnh phúc với những đau khổ của cuộc bách hại mà ngài phải chịu (x. Cl 1,24).
Chúa Giêsu luôn ở bên chúng ta trong các cuộc bách hại
Nếu Thiên Chúa ban cho chúng ta ân sủng, làm cho chúng ta giống với Chúa Kitô bị đóng đinh và, liên kết chúng ta với cuộc thương khó của Người, thì việc bị loại trừ và bách hại là biểu hiện của cuộc sống mới. Cuộc sống này giống như của Chúa Kitô, Đấng vì loài người chúng ta và vì ơn cứu độ của chúng ta đã “bị con người khinh miệt và khước từ” (x. Is 53,3; Cv 8,30-35). Được đón nhận Chúa Thánh Thần của Người có thể giúp trái tim chúng ta tràn đầy tình yêu để hiến dâng sự sống cho thế giới mà không cần thỏa hiệp với những lừa dối của nó và chấp nhận sự chối từ của nó. Thỏa hiệp với thế gian là điều nguy hiểm: Kitô hữu luôn bị cám dỗ thỏa hiệp với thế gian, với tinh thần của thế gian. Từ chối sự thỏa hiệp và đi theo con đường của Chúa Giêsu Kitô là cuộc sống của Nước Trời, niềm vui lớn nhất, niềm vui đích thực. Và rồi, trong những cuộc bách hại, luôn có sự hiện diện của Chúa Giêsu, Đấng đồng hành với chúng ta; sự hiện diện của Chúa Giêsu an ủi chúng ta và sức mạnh của Chúa Thánh Thần giúp chúng ta tiến bước. Chúng ta đừng nản lòng khi một cuộc sống theo Tin Mừng đưa đến những cuộc bách hại: có Chúa Thánh Thần nâng đỡ chúng ta trên con đường này.
Hồng Thủy – Vatican News
2020
ĐTC quan tâm và gần gũi với những người bị nhiễm virus corona ở miền Amazon
Đức Thánh Cha Phanxicô đã điện thoại cho Đức tổng giám mục Leonardo Steiner của Manaus ở miền Amazon của Brazil để bày tỏ sự quan tâm và gần gũi của ngài đối với những người bị nhiễm virus corona ở đây.
Thông cáo của tổng giáo phận Manaus cho biết Đức Thánh Cha đã điện thoại cho Đức tổng giám mục Steiner để thể hiện tình liên đới, gần gũi, chăm sóc đối với cư dân của thành phố Manaus, và những người nghèo và người bản địa trong vùng.
Theo báo cáo giám sát Covid-19 hàng ngày được thực hiện bởi Repam (Mạng lưới liên Giáo hội miền Amazon), khu vực Manaus là khu vực chịu ảnh hưởng nặng nề nhất của đại dịch ở miền Amazon.
Đức cha Steiner đã cám ơn những lời an ủi và chia sẻ của Đức Thánh Cha. Đức cha cũng chia sẻ với Đức Thánh Cha những việc tổng giáo phận đang làm để chăm sóc cho những người sống trên đường phố, phân phát thức ăn cho người nghèo, đến với người đau khổ và chăm sóc người di dân.
Vào cuối cuộc trò chuyện, Đức Thánh Cha đã cám ơn tổng giáo phận, các tín hữu, tu sĩ và linh mục vì những việc họ đang làm để xoa dịu nỗi đau. Đức Thánh Cha hứa cầu nguyện cho những người quá cố và gia đình của họ và chúc lành cho miền Amazon.
Hệ thống chăm sóc sức khỏe ở Manaus bị áp lực do tình trạng khẩn cấp Covid-19. Phòng chăm sóc đặc biệt trong bệnh viện hết chỗ và chính quyền đã bắt đầu chôn các nạn nhân virus corona trong các ngôi mộ tập thể do số nạn nhân quá đông. Hồng Thủy – Vatican News
2020
5 vị linh mục không thể phục vụ đoàn chiên như mong ước
Người tín hữu nhớ Thánh Lễ, nhưng các linh mục cũng đau khổ. Các ngài nhớ giáo dân của mình. Quý cha thân mến, những vị thánh này là gương mẫu cho quý cha.
Trong vòng một tháng qua, người Công giáo ở Mỹ đã không thể tham dự; ở một vài nơi khác trên thế giới, việc này còn diễn ra từ lâu hơn. Và trong khi chúng ta có thể tự cảm thấy ghen tị với các linh mục vì các ngài được lãnh nhận Mình Thánh Chúa như chúng ta thấy trong các thánh lễ online, người giáo dân cần biết rằng những vị linh mục của chúng ta cũng không thích dâng lễ một mình. Các ngài không đi tu để trở thành những vị ẩn sĩ và không muốn chỉ cử hành Hy Tế Thánh trong Thánh Lễ cho chính mình. Các ngài muốn trao ban Thánh Thể cho chúng ta, lắng nghe lời thú tội, rửa tội cho trẻ em và hướng đến sự tiếp đón sau đó.
Và vì vậy trong tuần này, tôi muốn nói về những vị thánh là mẫu gương cho các linh mục trong chúng ta.
Quý cha thân mến, cảm ơn quý cha về sự tuân phục, niềm tin, sự sáng tạo trong linh mục đoàn và tình phụ tử thiêng liêng của quý cha. Con gửi đến quý cha những đấng cầu bầu này, những linh mục thánh thiện đã bị tách khỏi giáo dân của mình, đã không thể phục vụ theo đường lối mà các ngài mong muốn. Mong những bằng chứng của sự thánh thiện nơi các ngài khích lệ quý cha và sự cầu bầu của các ngài nâng đỡ quý cha, nhờ đó thời gian xa cách giáo dân cũng có thể là thời gian cho nguồn ân sủng vô hạn.
Chân phước Cyprian Michael Iwene Tansi (1903-1963) là một cha xứ ở Nigeria. Ngài đã giúp đỡ giáo dân xây những căn nhà, đã đạp xe từ làng này sang làng khác, nghe lời thú tội trong nhiều giờ không ngừng, bảo vệ cho quyền lợi của người phụ nữ, và mang nhiều linh hồn về với Chúa Giêsu. Ngài đã là một chứng nhân tốt lành, 70 người nam từ các giáo xứ của ngài đã trở thành linh mục. Những cha Tansi đã cảm thấy một lời mời gọi đến cuộc sống viện tu, nên ngài rời khỏi giáo xứ của mình và trở thành một đan sĩ ở Anh, hy vọng rằng một ngày nào đó ngài có thể trở lại châu Phi. Vị linh mục đã từng có được rất nhiều hoa trái bỗng nhiên trở thành một tập sinh, được yêu cầu không làm gì khác ngoài việc học, và bị ngăn cấm ngay cả việc giải tội. Trong nhiều năm, ngài không được thi hành sứ vụ mục tử, và dù cuối cùng ngài cũng được phép giải tội lại, ngài đã chết trước khi có thể trở lại châu Phi.
Thánh Pacificus of San Severino (1653-1721) là một linh mục dòng Phanxicô, một nhà giảng thuyết khôn ngoan, đã rong ruổi khắp vùng quê mà rao giảng cho đến khi đôi chân đầy vết thương và gần như không thể đi lại. Do đó, ngài lui về tòa giải tội, nơi ngài vui mừng phục vụ giáo dân của ngài qua việc giải tội sáu giờ một ngày – cho đến khi ngài mất khả năng nghe. Sau đó, ngài hài lòng với việc cử hành Thánh Lễ, cho đến khi thị lực của ngài cũng mất đi. Pacificus bất lực trong mọi phương cách trần thế. Ngài dành 30 năm tiếp theo trong đau khổ và cô độc, nhưng với lời cầu nguyện và việc lãnh đạo cộng đoàn của mình, ngài tiếp tục phục vụ giáo dân ngay cả khi ngài không thể cử hành các bí tích cho họ.
Chân phước Peter Kibe (1587-1639) là một Kitô Hữu người Nhật đã nhiều lần bị từ chối gia nhập dòng Tên vì dân tộc của mình. Cuối cùng, ngài đi đến Rôma để trở thành linh mục dòng Tên, sau đó dành tám năm di chuyển để trở về Nhật Bản. Ngài đã bị giông bảo cuốn đi, bị cướp biển săn đuổi, và bị từ chối trên những chiếc tàu đi về Nhật Bản trước khi ngài làm một chiếc thuyền cho riêng mình để đi trong chặng cuối của hành trình. Cuối cùng, ngài đến được Nhật Bản, nơi mà ngài đã phục vụ Hội Thánh Hầm Trú Nhật Bản trong vòng chín năm trước khi ngài bị nộp và bị giết chết.
Thánh John Roberts (1577-1610) là một tân tòng xứ Wales và là một linh mục dòng Biển Đức, bí mật ở Anh, không bao giờ bỏ mặt giáo dân của mình. Bị bắt vì là linh mục, ngài bị trục xuất khỏi Anh nhưng đã trở lại để phục vụ những nạn nhân của dịch bệnh. Bị bắt lần thứ hai, ngài bị trục xuất lần nữa, nhưng đã trở lại Anh gần như tức khắc để tiếp tục phục vụ như một linh mục bí mật. Ngài bị bắt lần thứ ba, bị cầm tù trong vòng bảy tháng trước khi tiếp tục bị trục xuất – và ngài trở lại. Bị bắt lần nữa, ngài trốn thoát khỏi tù và tiếp tục sứ vụ. Bị bắt lần thứ năm, ngài bị trục xuất lần nữa nhưng đã lén trở lại đất nước. Roberts bị bắt lần thứ sáu (trong tám năm) và cuối cùng bị giết chết, một vị mục tử đã yêu đoàn chiên đến cùng.
Thánh Theophilus the Penitent (d. 538) không phải một người để bắt chước – ít nhất không phải trong sự phản ứng ban đầu của ngài trước nghịch cảnh. Là giám mục phó của Adana, Thổ Nhĩ Kỳ, ngài được chọn trở thành giám mục nhưng đã từ chối với sự khiêm nhường. Không may thay, sự khiêm nhường của ngài không đủ mạnh để chịu đựng sự vu cáo. Khi ngài bị buộc tội trộm cắp và bị loại khỏi linh mục đoàn, Theophilus đã rất liều lĩnh để được minh oan, ngài đã tìm một thầy đồng để giúp ngài làm giao kèo với ma quỷ, từ bỏ Chúa Giêsu và bán linh hồn mình thông qua một bản giao kèo ký bằng máu. Nhiều người có thể nói: đó là một phản ứng tột độ để có thể phục vụ trở lại như một linh mục, nhưng ý định không vâng phục và đánh lừa giám mục thì không khác nhau như chúng ta nghĩ. May thay, Theophilus có một lương tâm ngay thẳng và sớm ăn năn, thú tội cách công khai, và qua đời ba ngày sau đó.
