Aenean nec eros. Vestibulum ante ipsum primis in faucibus orci luctus et ultrices posuere cubilia curae. Suspendisse sollicitudin velit sed leo.

Chuyên mục
  • Bài giảng
  • Các loại khác
  • Chia sẻ
  • Chưa phân loại
  • GH Hoàn Vũ
  • GH Việt Nam
  • Giáo dục
  • Hạnh các Thánh
  • HĐGM Việt Nam
  • Kinh Thánh
  • Phim giáo dục
  • Phụng vụ
  • Sách
  • Suy niệm Chúa nhật
  • Suy niệm hàng ngày
  • Tài liệu giáo dục
  • Tài liệu phụng vụ
  • Thần học
  • Thánh ca
  • Thánh lễ
  • Thánh lễ trực tuyến
  • Thư chung
  • Thư viện
  • Tin tức
  • Triết học
  • Tư liệu
  • UBGD Công giáo
  • uncategorized
  • Video
From Gallery
Stay Connected
UyBanGiaoDucHDGM.net
  • Trang chủ
  • Thư chung
    • HĐGM Việt Nam
    • UBGD Công giáo
  • Tin tức
    • GH Việt Nam
    • GH Hoàn Vũ
  • Phụng vụ
    • Thánh lễ
    • Thánh lễ trực tuyến
    • Suy niệm hàng ngày
    • Suy niệm Chúa nhật
    • Tài liệu phụng vụ
  • Giáo dục
    • Chia sẻ
    • Tài liệu giáo dục
  • Thư viện
    • Sách
      • Kinh Thánh
      • Triết học
      • Thần học
      • Các loại khác
    • Video
      • Bài giảng
      • Thánh ca
      • Phim giáo dục
      • Hạnh các Thánh
      • Tư liệu
  • Liên hệ
Give Online

Tác giả: Anmai

Home / Anmai
29Tháng Tư
2020

Phụ nữ cần hiện diện nhiều hơn trong việc đào tạo linh mục

29/04/2020
Anmai
GH Hoàn Vũ, Tin tức
0

Theo nguyệt san “Donne Chiesa Mondo” số tháng 5, ấn bản online ngày thứ bảy 25.04 của Osservatore Romano, Đức Hồng y Marc Ouellet, Bộ trưởng Bộ Giám mục, lưu ý các khía cạnh khác nhau liên quan đến vai trò của phụ nữ trong việc đào tạo linh mục, trong các cộng đoàn giáo xứ và, bao quát hơn, trong đời sống của Giáo Hội.

Rõ ràng là phụ nữ chiếm phần lớn trong số những người lãnh nhận các hoạt động mục vụ của linh mục cũng như cộng tác với linh mục trong các hoạt động đó. Số 151 của Ratio fundamentalis 2016 có viết: sự hiện diện của phụ nữ có giá trị riêng trong tiến trình đào tạo chủng viện, kể cả trong việc nhìn nhận sự bổ trợ giữa nam nữ. Nhưng đối với Đức Hồng y Marc Ouellet, Bộ trưởng bộ Giám mục, vẫn còn nhiều việc phải làm. Vẫn còn là mô hình giáo sĩ. Cần phải có một cuộc cách mạng văn hóa.

Romilda Ferrauto thực hiện cuộc phỏng vấn:

ĐHY đã cổ võ sự hiện diện của phụ nữ trong việc đào tạo các linh mục và trong việc đồng hành thiêng liêng. Xin ĐHY cho biết tại sao và nhằm mục đích gì?

Phụ nữ có thể tham gia [tiến trình đào tạo] bằng nhiều cách: dạy thần học, triết học, linh đạo. Họ cũng có thể là thành phần của ban đào tạo, đặc biệt là trong việc phân định ơn gọi. Trong lãnh vực này, chúng ta cần ý kiến của các phụ nữ, cần trực giác và khả năng của họ trong việc nắm bắt những khía cạnh nhân bản nơi các ứng viên, khả năng trưởng thành tình cảm hay tâm lý của các ứng viên. Về mặt đồng hành thiêng liêng, chắc chắn phụ nữ có thể trợ giúp, nhưng tôi tin rằng một linh mục đồng hành cho ứng viên linh mục thì tốt hơn. Thay vào đó, phụ nữ có thể đồng hành trong việc đào tạo nhân bản, mà theo tôi, đây là phương diện chưa khai triển đủ trong các chủng viện. Cần đánh giá mức độ tự do của các ứng viên, khả năng thống nhất [bốn chiều kích đào tạo], khả năng thiết lập chương trình sống và cả căn tính tâm lý xã hội và tâm lý giới tính của các ứng viên.

Việc đào tạo linh mục dường như vẫn còn thiếu sót trong lãnh vực huấn luyện tình cảm. Có một câu hỏi nhạy cảm khác: chủ nghĩa giáo sĩ trị, tinh thần phân biệt đẳng cấp của các linh mục, đôi khi cả cảm thức được miễn trừ hình phạt. Theo ĐHY, đối với những điểm mấu chốt này, sự hiện diện của phụ nữ trong ban đào tạo có thể trợ giúp gì hay không?

Tôi tin rằng kinh nghiệm hợp tác bình đẳng với phụ nữ giúp ứng sinh hoạch định tác vụ tương lai của mình và nhận ra cách thức tôn trọng và cộng tác với phụ nữ. Nếu không được bắt đầu ngay trong thời gian đào tạo, linh mục có nguy cơ sống mối tương quan giáo sĩ trị đối với phụ nữ.

Ratio fundamentalis 2016, do Bộ Giáo sĩ ban hành, đề nghị việc đào tạo linh mục toàn diện, có khả năng thống nhất các chiều kích nhân bản, thiêng liêng, tri thức và mục vụ. Trong chiều hướng này, sự hiện diện của phụ nữ mang tính “bổ sung” hay “nền tảng”?

Tôi tin rằng bản văn này cần được mở rộng và phát triển hơn nữa. Chúng ta luôn mang quan niệm giáo sĩ trị trong việc đào tạo, tuy vẫn nỗ lực để tiến bộ nhưng lại tiếp tục những gì đã làm. Còn nhiều yếu tố liên quan đến đào tạo nhân bản, nhưng tôi tin rằng những gì liên quan nhằm bổ sung phụ nữ vào việc đào tạo thì còn nhiều thiếu sót.

Người ta thường nghe nói rằng cần phải cho các phụ nữ đảm nhận trách nhiệm. Chắc chắn đây là điều quan trọng. Nhưng nếu tôi hiểu rõ, phải chăng trước hết ĐHY ước muốn một cuộc cách mạng văn hóa? Có lẽ là một sự thay đổi não trạng chăng?

Vâng, chính xác. Trong một tham luận mới đây của tôi ở Hội nghị khoáng đại về Giáo dục Công giáo, tôi đã thừa nhận giá trị sáng tạo trong lời tựa tài liệu Veritatis gaudium (Niềm Vui Chân Lý) của Đức Thánh Cha (Tông hiến về các đại học và các phân khoa Giáo Hội, ngày 29.01.2018) để đổi mới những nghiên cứu cao cấp. Tuy nhiên tôi đã lưu ý rằng chiều kích đặt vấn đề về phụ nữ và lời giải đáp của Giáo Hội vẫn còn thiếu sót. Đây không chỉ là sự thăng tiến phụ nữ mà còn là xem phụ nữ như thành phần toàn vẹn của tất cả tiến trình đào tạo. Lẽ ra cần phải có ít là một ám chỉ đến điều đó, trong văn bản có tầm quan trọng như thế này, một văn bản hướng đến tương lai. Điều này chứng tỏ chúng ta vẫn còn dậm chân tại chỗ! Lúc tôi phát biểu tại phiên họp khoáng đại của hội nghị về Giáo dục Công Giáo, có các vị viện trưởng các đại học ở Roma; có nhiều phụ nữ nhưng tỉ lệ là một trên mười. Còn nhiều điều phải làm trong các nghiên cứu cao cấp của các đại học Công giáo. Cuộc cách mạng văn hóa có nghĩa là phải thay đổi não trạng. Quay lại với việc đào tạo linh mục, một linh mục có thể được chuẩn bị để giảng giải tốt, hoàn thành các phận vụ phải làm. Tuy nhiên mục vụ trước hết là việc chăm sóc con người. Và việc quan tâm đến con người là một phẩm chất nữ tính tự nhiên. Điều đáng nói đó là phụ nữ có sự nhạy cảm đối với con người, ít ra là về mặt chức năng. Đức Thánh Cha Phanxicô, trong tất cả những cải tổ mục vụ của ngài, mời gọi chúng ta chú tâm đến dân chúng và đòi hỏi chúng ta phải làm sao đồng hành với họ để giúp họ tiến triển. Cho đến nay điều chúng ta quan tâm nhất là tính chính thống, là hiểu rõ giáo lý, dạy tốt giáo lý. Nhưng vấn đề là tất cả dân chúng đáng thương này phải tiếp thu giáo lý đó… Chúng ta làm thế nào để đồng hành với họ?

Các mối tương quan giữa linh mục và phụ nữ còn chịu tác động bởi nhiều điều kiện. Thường “dè chừng” lẫn nhau. Trước đây ĐHY đã nói đến nỗi khó khăn khi phải thiết lập một mối tương quan bình đẳng. Khó khăn đó xuất phát từ đâu? Có phải từ thiếu sót nào đó trong việc đào tạo linh mục hay không?

Có lẽ vấn đề mang tính chất sâu xa hơn, do cách thức đối xử với phụ nữ trong các gia đình. Có dè chừng bởi vì có sợ hãi… từ phía nam giới đối với phụ nữ hơn từ phía nữ giới đối với nam giới. Với một linh mục, với một chủng sinh, phụ nữ bị coi là mối nguy hiểm! Trong khi, thực tế, những người nam không có mối tương quan hài hòa với phụ nữ mới là mối hiểm nguy thực sự. Đó là nỗi hiểm nguy trong tác vụ linh mục, là nỗi hiểm nguy chúng ta cần phải triệt để thay đổi. Do đó trong thời gian đào tạo, điều quan trọng là phải có sự gặp gỡ, so sánh, trao đổi. Điều này giúp ứng sinh tương tác cách tự nhiên với nữ giới cũng như giúp họ đương đầu với thách thức trước sự hiện diện của phụ nữ, trước sức hấp dẫn của phụ nữ. Điều đó phải được dạy và học ngay từ khởi đầu, đừng cô lập các linh mục tương lai kẻo rồi họ bị ngỡ ngàng bởi thực tại và đến lúc đó họ có thể mất tự chủ.

Nhiều người nghĩ rằng nếu phụ nữ được tham dự nhiều hơn vào việc đào tạo (và vào đời sống) linh mục, cuộc khủng hoảng lạm dụng tình dục sẽ không đạt tới mức độ thê thảm như đã thấy. Có đúng thế chăng hoặc đây có là một kiểu mẫu hay chăng?

Chắc chắn có một phần sự thật trong đó. Bởi lẽ đàn ông là một hữu thể có tình cảm. Nếu thiếu sự tương tác giữa hai giới, sẽ có nguy cơ phát triển sự bù trừ… Có thể là bù trừ trong việc ăn uống, hoặc được tỏ bày trong cách hành xử quyền bính, hoặc trong các mối tương quan đóng kín, sự đóng kín này trở thành thao túng, kiểm soát… và có thể dẫn đến lạm dụng lương tâm và lạm dụng tình dục. Tôi tin rằng đối với linh mục, việc học cách tương quan với phụ nữ, trong lãnh vực đào tạo, là một yếu tố nhân bản giúp cân bằng nhân cách và tình cảm của người nam.

ĐHY đã nhiều lần nói rằng vấn đề phụ nữ đòi hỏi từ phía Giáo Hội một sự đầu tư quan trọng, nhưng đã không được làm đủ. Tại sao chúng ta không nhận thức được tính khẩn cấp của vấn đề này?

Bốn mươi năm qua, xã hội được ghi dấu bởi những biến chuyển lớn, ít ra là ở phương Tây. Việc có được ý thức về sự hiện diện của phụ nữ trong thế giới lao động, trong đời sống công cộng vẫn còn là điều mới mẻ, có thể nói là như vậy. Giáo Hội bước đi chậm chạp. Chúng ta đã chậm trễ và cần phải thu ngắn khoảng cách vì xã hội đã tiến xa hơn. Giáo Hội cũng đã góp phần kìm hãm việc đòi hỏi phải đạt tới một sự bình đẳng hoàn toàn, về mặt thừa tác, như thể sự khác biệt giới tính chẳng có chút giá trị nào. Cả ở đây chúng ta cũng đối diện với sự áp đặt ý thức hệ thừa nhận nam giới. Thực sự chúng ta cần sáng tạo sao cho phụ nữ hiện diện nhiều hơn, chẳng hạn trong lãnh vực tiên báo, trong việc làm chứng tá và cả trong quản trị. Trong nhiều bộ có các phụ nữ làm chưởng ấn, họ điều phối hoạt động mục vụ. Nhưng vấn đề là mô hình Giáo Hội học mang tính giáo sĩ. Trong Giáo Hội có những người có vai trò hàng đầu: rao giảng Lời Chúa, ban các Bí tích, như thể các linh mục là thực tại chủ yếu của Giáo Hội, nhưng không phải là như thế. Trung tâm của Giáo Hội không phải là thừa tác vụ, mà là Bí tích Rửa tội, nghĩa là đức tin. Và chứng tá của đức tin chính là nơi mà phụ nữ có thể chiếm lĩnh một vị trí đặc biệt.

ĐHY trả lời thế nào cho các phụ nữ Công giáo bất bình vì sự tán dương thiên tài phụ nữ, tán dương một số mẫu mực của nữ tính?

Ai đó đã viết rằng người ta đi từ thù ghét phụ nữ đến tích cực thần thoại hóa phụ nữ! Cả hai thái độ đều sai lầm và rốt cuộc cũng giống nhau vì thiếu cái nhìn sâu xa. Về điểm này, tôi nghĩ rằng ngay cả suy tư thần học cũng có những bước phải vượt qua, kể cả suy tư nhân loại học và suy tư linh đạo về phụ nữ hay về mối tương quan nam-nữ. Suốt nhiều thế kỷ, khoa chú giải đã xây dựng học thuyết Imago Dei, Hình ảnh của Thiên Chúa một cách hết sức trừu tượng. Tại sao? Bởi vì Thiên Chúa thì thiêng liêng. Nhưng ý nghĩa bản văn Sáng thế là sự năng động của tình yêu giữa đàn ông và đàn bà vốn là hình ảnh của Thiên Chúa. Nghĩa là, một đôi với tư cách là một đôi. Giờ đây, các nhà chú giải đã khai triển tư tưởng này. Nhưng để đưa tư tưởng này vào văn hóa cần phải thấu triệt những gì là đàn ông và đàn bà.

Sự vượt trội của phụ nữ giữa những người tích cực tham gia sinh hoạt cộng đoàn giáo xứ rút cục là điều ai cũng biết, thế thì từ đâu lại có ý tưởng cho rằng Giáo Hội là một thực tại nam giới? Có lẽ bởi vì thừa tác vụ chức thánh được dành riêng cho nam giới và điều này, dù có nói thế nào, ngay từ đầu đã khiến phụ nữ trở nên thấp kém trong Giáo Hội, giam cầm phụ nữ vào những bổn phận kém “cao quý” hơn?

Cám ơn anh đã đặt câu hỏi quan trọng này. Câu trả lời đó là: bởi vì mô hình giáo sĩ. Nếu phụ nữ không có quyền chức, họ không tồn tại. Trong khi trách vụ chỉ là thứ yếu và rất phụ thuộc vì nó phục vụ cho Bí tích Rửa tội, nó phải làm sống động tử hệ thiêng liêng trong tâm hồn con người. Chính đây mới là Giáo Hội! Và tất cả những gì còn lại, rao giảng Lời Chúa, ban Bí tích, đều dùng để làm sống động thực tại cốt lõi này. Đức Thánh Cha Phanxicô nói điều đó khi lặp lại ý tưởng của Hans Urs von Balthasar. Ngài nói rằng trong Giáo Hội, Đức Maria trổi vượt hơn Phêrô, bởi vì Mẹ thể hiện chức tư tế của Phép rửa trong ý nghĩa tròn đầy nhất của nó, Mẹ là đấng trung gian trao ban Ngôi Lời nhập thể cho nhân loại. Và do đó, khuôn mẫu của Giáo Hội là nữ giới bởi lẽ đức tin là sự tiếp nhận Lời và ở nền tảng của sự tiếp nhận ân sủng chính là nữ giới. Đức Maria là biểu tượng của điều đó. Đây chính là Giáo Hội học mà tôi gọi là “lễ cưới”, bởi vì khi nói lễ cưới tôi đặt tình yêu ở bình diện cao nhất. Điều này có giá trị không chỉ đối với các đôi hôn phối nhưng ngay cả đối với đời sống thánh hiến, đời sống linh mục và thừa tác vụ, tất cả được hợp nhất trong mối quan hệ hôn phối giữa Đức Kitô và Giáo Hội. Chính Giáo Hội mạc khải cho thế giới mầu nhiệm Thiên Chúa là tình yêu. Romilda Ferrauto

Phaolô Nguyễn Quốc Hưng dịch từ vaticannews.va/it

Read More
29Tháng Tư
2020

Bệnh nhân covid-19 trăn trối với cô y tá: “Tôi sẽ phù hộ cho cô vì những gì cô đã làm”

29/04/2020
Anmai
GH Hoàn Vũ, Tin tức
0

– Một y tá đã cố gắng hết mình để giúp đỡ một bệnh nhân đang hấp hối vì nhiễm virus corona và nhận lại một di sản quý giá.

Thị trưởng vùng Volvera, một thị trấn nhỏ ở miền bắc Italy, đã công bố câu chuyện cực kì cảm động mà một cô y tá đã nói với ông tại bệnh viện địa phương San Luigi. Cô ấy không muốn mô tả những gì các phương tiện truyền thông đang truyền tải: những con số, những số liệu thống kê, những nghị định và lệnh cấm. Cô ấy muốn chia sẻ điều hiển nhiên khác ở khía cạnh về các bệnh nhân dương tính với COVID và nhân viên chăm sóc sức khỏe. COVID không chỉ là một loại virus nguy hiểm.

Lời kể của cô ấy là một cái nhìn thoáng qua về những gì đang xảy ra trong các phòng chăm sóc đặc biệt của các bệnh viện trên khắp thế giới. Trước hết, cô là nhân chứng cho thảm kịch khiến bệnh nhân, người nhà và nhân viên y tế cùng trải nghiệm trong đau khổ tột cùng, nhưng đó cũng là những tia sáng làm nảy sinh hy vọng.

Chúng ta không cho phép vi-rút cướp đi nhân phẩm của chúng ta

Trong các bệnh viện, nơi thần chết lơ lửng như một mối đe dọa chưa từng có, cuộc chiến liên tục này không chỉ để cứu sống những sinh mạng, mà còn vì lý do không kém phần khó khăn và ít nhận thấy, đó là để bảo vệ phẩm giá của con người, vì lợi ích của tất cả chúng ta.

COVID-19 có khả năng làm cho người bệnh cảm thấy bị mất kiểm soát bản thân đến mức họ cần gắn dây và máy thở. Họ thấy mình ở trong một tình huống dường như lên án người thân vì đã khiến người thân có cảm giác tội lỗi tột độ vì đã vắng mặt trong thời khắc thiêng liêng lúc họ qua đời.

Những tình huống này dường như làm tê tái trái tim các bác sĩ và y tá, những người đang cố gắng cứu chữa họ. Để có thể tập trung hết sức mình trong công việc, các bác sĩ và y tá buộc lòng phải tránh ánh mắt của họ.

Một cuộc gọi video để nói lời từ biệt

Tất cả những nỗi đau này được mô tả ở phần giữa của bức thư kể về một bà mẹ có bốn người con. Bà tuyệt vọng tìm cách nhìn vào mắt cô y tá, cố gắng làm dịu trái tim cô ấy qua việc khẩn khoản cô y tá cho phép bà thực hiện bổn phận làm mẹ, cầu xin được đối xử như một con người ngay cả khi chết. Nỗi đau được mô tả khi bà thực hiện cuộc gọi video cho bốn đứa con, trong đó bác sĩ thông báo cho bà và bốn đứa con về tình hình nghiêm trọng của bà.

Cô y tá, trước sự tuyệt vọng này, sử dụng điện thoại thông minh của mình để thực hiện một cuộc gọi video để bà có thể nói lời vĩnh biệt với gia đình. Họ nhìn thấy nhau lần cuối, với những giọt nước mắt và những lời yêu thương vô hạn.

Sau đó, cô y tá,  người viết một lá thư, nói rằng: “Bệnh nhân chết. Bạn quyết định bước ra ngoài và để phần còn lại cho đồng nghiệp của bạn. Và bạn thấy rằng, theo thủ tục, họ phun thuốc khử trùng cho bà ấy, bọc bà ấy trong một tấm trải giường và đưa bà ấy đến nhà xác. Một mình, chỉ một mình, những thứ đồ cá nhân của bà ấy, được gom lại trong một túi màu đen ba lớp, sẽ bị thiêu hủy”

“Cảm ơn cô, tôi sẽ phù hộ cho cô vì những gì cô đã làm cho tôi.”

Khi chiếc xe tang mang theo quan tài rẽ về bên trái và chiếc xe của bệnh nhân chỉ có một đứa con trai có mặt trong nhà xác để nhận quan tài rẽ về bên phải, mọi thứ dường như mất đi và vô nghĩa. Virus đã chiến thắng; nó đã tiếp tục tiêu diệt thêm một mạng sống khác nữa rồi. Tuy nhiên, nó đã không thành công trong việc làm tiêu tan một cái chết có ý nghĩa sâu sắc đến như vậy.

Một di sản quý giá vẫn còn cho những người tiếp tục sống. Cô y tá kể lại chi tiết: “Một bệnh nhân nắm lấy tay tôi và nói, ‘Cảm ơn cô. Tôi sẽ phù hộ cho cô vì những gì cô đã làm cho tôi.’ Bạn sẽ rất khó cầm được nước mắt trong tình huống này.”

Những lời này được vang lên với phước lành và hy vọng cho tất cả mọi người, kể cả những người có và không có niềm tin. Trước thảm kịch vô cùng lớn lao này, sự cứu độ duy nhất là tính nhân đạo của chúng ta, nó như là món quà mà chúng ta nhận ra cả niềm vui và nỗi đau trong ánh mắt của những người khác, chúng ta nhận ra tâm hồn của họ có những nét tương đồng như chính chúng ta.

Đây là bài viết của thị trưởng Ivan Marusich, người sao chép đầy đủ thư của cô y tá: Trong những thời điểm khó khăn này, chúng ta hãy nhớ rằng chúng ta là ai và nhân phẩm của mỗi người trong chúng ta không thể thay đổi. Chúng ta là con cái Chúa, là anh chị em trong Đức Kitô. Ngay cả sự sỉ nhục và vô nhân đạo của một đại dịch cũng không thể thay đổi điều đó. Chúng ta đừng quên tìm kiếm khuôn mặt của Chúa Kitô trong những người khác. Silvia Lucchetti
Văn Quyết dịch từ Aleteia

Read More
29Tháng Tư
2020

Coronegotis hay là cuộc nổi loạn của các thiên thần

29/04/2020
Anmai
Phim giáo dục, Thư viện, Video
0

Thánh Thần giơ cái túi lên, lấy ra một nhúm bột màu trắng tinh và nói tiếp: Đây là bột … thần kỳ Coronegotis. Nó vô hại, nó chỉ là một chất xúc tác „made in Paradise“ thôi. Vì là chất xúc tác nên nó sẽ phản ứng tuỳ hoàn cảnh và cá nhân. Nó hiện có màu trắng, nhưng nếu tiếp xúc với nhân loại thì nó đổi màu. Nếu ai đó vẫn tiếp tục sống theo kiểu mấy đệ mô tả, tham lam, ích kỷ, bạo lực, lãng phí, thực dụng, vâng vâng, tức là họ chứng tỏ họ không cần mấy đệ, và gián tiếp không cần Paradise nữa, thì bột Coronegotis sẽ chuyển sang một chủng mới tên là Coropositivis. Khi chuyển sang Coropositivis thì nó sẽ có màu đỏ. Còn nếu thực sự nếu họ không phải vậy và họ vẫn còn sức đề kháng trước những tình trạng như các đệ mô tả như thế, thì Coronegotis sẽ chuyển sang một chủng mới tên là Coronegativis và nó sẽ có màu xanh lá cây. Khi nó màu xanh thì ta hiểu ngược lại, tức là nhân loại vẫn cần mấy đệ và họ ý thức hơn về bản chất cao đẹp của họ.

 

Read More
29Tháng Tư
2020

Văn kiện mới của Ủy Ban Thần học Quốc Tế: Tính Hỗ Tương giữa Đức Tin và Các Bí Tích trong Nhiệm Cục Bí Tích

29/04/2020
Anmai
GH Hoàn Vũ, Tin tức
0
Văn kiện mới của Ủy Ban Thần học Quốc Tế: Tính Hỗ Tương giữa Đức Tin và Các Bí Tích trong Nhiệm Cục Bí Tích
 
 
Liên tiếp mấy tháng nay,Ủy Ban Thần Học Quốc tế, trực thuộc Bộ Giáo Lý Đức Tin, cho công bố ba văn kiện quan trọng: Tính Đồng nghị trong Đời sống và Sứ mệnh của Giáo Hội (Vietcatholic 16-12-2018 tới 8-2-2019), Tự do Tôn Giáo (Vietcatholic 25-12-2019 tới 18-01-2020) và Tính Hỗ Tương giữa Đức Tin và Các Bí Tích trong Nhiệm Cục Bí Tích (đầu tháng 3, 2020).
 
Lý do của văn kiện
 
Nhân cơ hội công bố văn kiện sau cùng, Edward Pentin đã phỏng vấn linh mục Thomas Weinandy, thuộc Tiểu Ban soạn thảo văn kiện. Linh mục cho biết các lý lẽ đứng đàng sau văn kiện. Hiện đang có vấn đề nghiêm trọng trong Giáo Hội: những người tham dự các bí tích thường có rất ít hay không có đức tin nào cả; các cha mẹ muốn con cái được rửa tội nhưng chính mình thì rất ít đức tin và thỉnh thoảng lắm mới tới nhà thờ. Họ chỉ là Công Giáo cho có tên.
 
 
 
 
Cha gọi họ là các người Công Giáo của Lễ Giáng Sinh và Lễ Phục Sinh, chỉ tham dự Thánh Lễ vào 2 dịp lễ trọng này và rước lễ, nhưng không bao giờ xưng tội.
 
Vấn đề nghiêm trọng hơn nữa là các cặp muốn cưới nhau trong Giáo Hội Công Giáo, nhưng không phải là những người Công Giáo thực hành đạo. Họ không bao giờ được dưỡng dục thành người Công Giáo và biết rất ít hay không biết gì cả về đức tin của mình.
 
Thường thì các cặp trên chỉ muốn một nhà thờ hoành tráng trong đó, cô dâu tha thướt trong bộ áo cưới diễn hành từ cuối nhà thờ lên bàn thờ giữa tiếng nhạc du dương. Đôi khi làm thế chẳng phải vì họ thích cho bằng làm vui lòng cha mẹ.
 
Chính vì các lý do trên, Ủy Ban Thần Học Quốc Tế quyết định nghiên cứu mối liên hệ giữa đức tin và các bí tích. Ủy Ban nhấn mạnh tầm quan trọng của đức tin trong mối tương quan với các bí tích. Mối tương quan này có tính cố hữu: đức tin và các bí tích gắn bó mật thiết với nhau. Cha cho rằng chỉ khi nào ta thực sự tin vào đức tin của Giáo Hội trong tín lý và luân lý, việc nhận lãnh các bí tích mới có ơn ích thực sự.
 
Tính thành hiệu và tính hữu hiệu của bí tích
 
Tiến sĩ Jeff Mirus cho rằng đây là một văn kiện phong phú, nắm rất vững ý nghĩa các bí tích, nhất là bí tích hôn phối và việc tuyên bố hôn nhân vô hiệu.
 
Cũng như Cha Weinandy, Tiến sĩ cho rằng ngày nay, rõ ràng có cuộc khủng hoảng về cách tri nhận và lãnh nhận các bí tích: tâm thức hiện đại không có tầm nhìn bí tích về thực tại và số người Công Giáo lãnh nhận bí tích mà ít được hay không được huấn giáo về chúng hết sức đông đảo. Cộng hai khía cạnh ấy lại với nhau, ta có thể thấy sự kiện rất thông thường này là các bí tích được lãnh nhận mà không những không có sự hiểu biết rõ ràng về ý nghĩa bí tích và tính hữu hiệu của chúng, mà bản thân còn ít hiểu biết và cam kết với chính đức tin nữa.
 
Thế nhưng, trong các bí tích, có sự nối kết giữa sức mạnh và ơn thánh của Chúa Kitô mà chúng trao ban, và đức tin mà với nó, chúng ta lãnh nhận chúng. Đức tin này là điều chủ yếu để ta lãnh nhận cách hữu hiệu bất cứ bí tích nào. Đó là điều Giáo Hội vốn coi là tính hữu hiệu (fruitfulness) do đức tin đem lại cho việc lãnh nhận các bí tích. Chứ thực ra, khi được cử hành đúng theo ý hướng của Giáo Hội, các bí tích thành hiệu (valid), bất kể đức tin của người cử hành và lãnh nhận có ra sao.
 
Giáo lý ấy vốn đã được Giáo Hội giảng dạy từ trước đến nay. Điều văn kiện của Ủy Ban Thần Học Quốc Tế muốn nhấn mạnh là: không thể nói tới một đức tin chỉ có tính chủ quan (thần học gọi là fides qua) mà không có sự nối kết nội tại với chân lý của Thiên Chúa (thần học gọi là fides quae) từng được lưu truyền trong mặc khải và được giữ gìn trong Giáo Hội.
 
Bởi thế, có “một sự hợp nhất sâu xa giữa hành vi nhờ đó chúng ta tin và nội dung mà chúng ta nhất trí với… Trong quan niệm Kitô giáo, không thể nghĩ tới đức tin mà không có việc phát biểu bằng bí tích (chống lại việc tư riêng hóa hoàn toàn có tính duy chủ quan), cũng không có thực hành bí tích mà thiếu đức tin của Giáo Hội (chống chủ nghĩa duy nghi thức). Khi đức tin loại bỏ việc đồng nhất hóa với việc tuyên xưng [tuyên đọc kinh tin kính] và đời sống Giáo Hội, đức tin này không còn là việc hội nhập vào Chúa Kitô nữa (số 51).
 
Tiến sĩ Mirus lưu ý đặc biệt đến phép rửa tội trẻ em, là phép không đòi đức tin tích cực tức khắc của người được rửa tội. Về việc này, của Ủy Ban Thần Học Quốc Tế giải thích như sau: “Phép rửa trẻ sơ sinh đã được chứng thực từ thời xa xưa. Nó được biện minh trong ước muốn của cha mẹ, những người muốn cho con cái họ được tham dự vào ơn thánh bí tích, được kết hợp chặt chẽ với Chúa Kitô và Giáo Hội, trở nên thành viên của cộng đồng con cái Thiên Chúa vì chúng vốn thuộc gia đình, vì phép rửa là phương tiện hữu hiệu của ơn cứu rỗi, tha thứ tội lỗi, bắt đầu với tội nguyên tổ, và thông truyền ơn thánh” (số 91).
 
Nhưng làm sao hữu hiệu nếu không có đức tin tích cực?
 
Ủy ban trả lời rằng đứa trẻ không ký nhận một cách hữu thức tư cách thành viên của nó trong gia đình tự nhiên… [nhưng] nếu việc xã hội hóa diễn biến bình thường, nó sẽ làm điều đó khi lớn lên, với lòng biết ơn. Với phép rửa trẻ sơ sinh, người ta nhấn mạnh rằng đức tin trong đó chúng ta chịu phép rửa là đức tin của Giáo Hội, việc chúng ta lớn lên trong đức tin diễn ra nhờ việc được lồng vào cái “chúng tôi” của cộng đồng… Dịp này, cha mẹ hành động như các đại diện của Giáo Hội; chính Giáo Hội đón nhận các trẻ em này vào lòng mình. Vì thế, phép rửa trẻ em được biện minh do trách nhiệm giáo dục trong đức tin được cha mẹ và ông bà cam kết, song song với trách nhiệm giáo dục chúng trong các phạm vi khác của cuộc sống (số 91).
 
Vấn đề ở đây là trên thực tế có quá nhiều người lớn mang con đến rửa tội chỉ là để đánh dấu một biến cố đáng mừng vui trong đời, mà không hề có đủ đức tin để sống thực trách nhiệm họ đảm nhận.
 
Vấn đề quan tâm của ba vị giáo hoàng gần đây nhất
 
Tiến sĩ Mirus không trưng dẫn đoạn nào của văn kiện để giải đáp trường hợp trên. Tuy nhiên, ông chú ý nhiều hơn đến việc văn kiện này nói về mối tương quan giữa đức tin và bí tích hôn phối. Đây là phần dài nhất của văn kiện, đề cập đến khía cạnh phức tạp nhất của mối tương quan, tức tính thành hiệu của bí tích này trong thời kỳ có quá nhiều người tìm cách tuyên bố hôn nhân vô hiệu: nhân tố nào, nếu thiếu, sẽ vô hiệu hóa cuộc hôn nhân đã cử hành, tức cuộc hôn nhân đã cử hành được tuyên bố là vô hiệu.
 
Một cách cụ thể, văn kiện đề cập tới cuộc hôn nhân của các “người đã rửa tội nhưng không còn tin nữa”, những người mà Cha Weinandy gọi là Công Giáo của Lễ Giáng Sinh và Lễ Phục Sinh (xuân thu nhị kỳ). Đây là vấn đề từng làm bận tâm ba vị giáo hoàng liên tiếp: Đức Gioan Phaolô II, Đức Bênêđíctô XVI và Đức Đương Kim Phanxicô.
 
Thực vậy, Đức Gioan Phaolô II dạy rằng nội tại cuộc hôn nhân trong Giáo Hội vốn có đặc tính của một thực tại siêu nhiên mà Kitô hữu nhất thiết thuộc về, không cần tham chiếu ý thức của họ về nó. Như thế, xem ra không có cơ sở nào trong việc lấy việc thiếu đức tin để tuyên bố một cuộc hôn nhân vô hiệu, và dù sao, một việc thiếu như thế cũng rất khó có thể chứng minh. Trong một bài diễn từ với Tòa Tối Cao Rôma năm 2003, ngài cho hay: Giáo Hội không khước từ cử hành cuộc hôn nhân cho những người có thiên hướng tốt chỉ vì họ “được chuẩn bị không đầy đủ theo quan điểm siêu nhiên, miễn là họ có ý hướng đúng trong việc kết hôn phù hợp với thực tại tự nhiên của hôn nhân”.
 
 
 
 
Ngài nói thêm : “Thực vậy, bên cạnh cuộc hôn nhân tự nhiên, người ta không thể mô tả một mô hình hôn nhân Kitô giáo khác, với các đòi hỏi siêu nhiên chuyên biệt”. Ngài còn nhấn mạnh rằng đòi hỏi đức tin nơi cô dâu chú rể tương lai như một đòi hỏi tối thiểu là trái với thánh truyền.
 
Trong khi đó, lúc còn đứng đầu Bộ Giáo Lý Đức Tin, Đức Hồng Y Ratzinger (tức Đức Bênêđíctô XVI sau này) đã tìm cách làm sáng tỏ việc có phải mọi cuộc hôn nhân giữa 2 người đã chịu phép rửa tự động (ipso facto) là một cuộc hôn nhân bí tích hay không, và liệu “việc thiếu đức tin” làm cho cuộc hôn nhân chưa hiện hữu hay không. Khi làm Giáo Hoàng, ngài kết luận rằng đức tin bản thân không bị đòi hỏi như điều kiện tối thiều cần thiết. Đòi hỏi duy nhất là “ý định làm điều Giáo Hội làm”. Tuy nhiên, vấn đề vẫn làm ngài suy nghĩ rất nhiều và ngài thấy cần phải nghiên cứu nó nhiều hơn nữa.
 
Đức Phanxicô cũng nhiều lần nhắc đến khó khăn này và đã đưa ra lời kêu gọi phải nghiên cứu thêm trong 2 Thượng Hội Đồng Giám Mục về Gia đình. Tuy nhiên, với thời gian, ngài nói rõ với Tòa Tối Cao Rôma: “yếu tố chủ chốt trong ưng thuận kết hôn không phải là phẩm chất đức tin của người ta” mà đúng hơn, tính thành hiệu của bí tích, theo chiều hướng này, chỉ có thể bị xâm hại “trên bình diện tự nhiên”. Thành thử “thiếu việc đào tạo về đức tin và sai lầm liên quan đến tính độc nhất, tính bất khả tiêu và tính bí tích của hôn nhân chỉ làm vô hiệu sự ưng thuận kết hôn nếu chúng ảnh hưởng đến ý chí người ta”.
 
Tất cả các điều trên được bàn chi tiết trong tiết 4.2 của bản văn, tức các số 143-182. Điều tiết này muốn nói là: vấn đề liên quan tới án vô hiệu không phải là phẩm chất đức tin của người ta, mà là cái hiểu và cam kết (ý chí) không siêu nhiên đối với ý nghĩa chân thực tự nhiên của hôn nhân nhân bản; hôn nhân này chính là thực tại mà bí tích được ban cho để ban ơn thánh và thăng hoa.
 
Điều đó trở nên sắc cạnh trong một nền văn hóa bất phân phái tính, quan niệm ra đủ thứ “hôn nhân” với đủ lối sống và thời gian kéo dài, một nền văn hóa đánh mất hết ý thức về bản chất nội tại của hôn nhân nhân bản như đã được ban cho chúng ta trong chính bản nhiên của nó.
 
Tóm lại, các cơ sở để tuyên bố hôn nhân vô hiệu chỉ có nếu một hay cả hai không hiểu hôn nhân là gì và do đó không cam kết trên bình diện nhân bản, một điều, lẽ dĩ nhiên, rất thông thường trong thời đại ta. Trí khôn con người ra tối tăm và ý chí của họ bị ảnh hưởng tiêu cực bởi nền văn hóa đến nỗi họ không muốn bước vào cuộc hôn nhân như nó được hiểu về mặt tự nhiên, điều này có thể là cơ sở để tuyên bố vô hiệu. Hơn nữa, đây là điều có thể thiết lập được qua cuộc điều tra nhân bản, không giống như “phẩm chất” đức tin của người ta, một điều xét cho cùng dấu kín, thiêng liêng và nội thẳm, trong mối tương quan với Thiên Chúa.
 
Nói tóm lại, theo Tiến sĩ Mirus, dù Ủy Ban Thần Học Quốc Tế không có kết luận nào về việc đức tin của người ta có thể tạo nên cơ sở để tuyên bố vô hiệu, nhưng Ủy ban có đề nghị: Giáo Hội nên “bác bỏ bí tích hôn nhân cho những người yêu cầu nó dưới các điều kiện này” (số 181). Các điều kiện này, như việc thiếu khả năng hay việc từ khước cam kết đối với cái hiểu đúng đắn về hôn nhân, có thể và phải được xác định thấu đáo trước việc cử hành bí tích.
 
Khía cạnh nhập thể đối thoại của bí tích
 
Christopher Wells của Vatican News thì đọc thấy khía cạnh nhập thể, hay khía cạnh đối thoại (dialogical) của bí tích trong Văn Kiện: nghĩa là, trong kế hoạch cứu rỗi của Người, Thiên Chúa đưa ra sáng kiến, nhưng con người cũng phải đáp ứng sáng kiến ấy. Ở đây của Ủy Ban Thần Học Quốc Tế có ý tránh cả quan niệm “mây khói” về đức tin muốn tách biệt nó khỏi các bí tích lẫn quan niệm coi bí tích tách biệt khỏi đức tin.
 
Về bí tích hôn nhân, theo Wells, văn kiện đề xuất luận đề cho rằng việc hoàn toàn không có đức tin bản thân làm cho tính thành hiệu của hôn nhân bí tích thành đáng hoài nghi nếu thiếu cái hiểu đúng đắn về bản chất của hôn nhân nhân bản. Nghĩa là việc thiếu sự hiểu biết này có thể xâm hại ý định tối thiểu muốn ký kết một cuộc hôn nhân tự nhiên, trong trường hợp này, bí tích cũng có thể đã không diễn ra.
 
Với luận đề trên, Ủy Ban Thần Học Quốc Tế muốn tránh các sai lạc của “chủ nghĩa tự động bí tích” (sacramental automatism) coi thường đức tin bản thân; và chủ nghĩa ưu tuyển (elitism) có những đòi hỏi quá trớn đối với mức độ đức tin cần thiết cho việc lãnh nhận bí tích một cách thành hiệu.
 
Cindy Wooden của tạp chí Crux lưu ý đến tính “hỗ tương”, cho rằng tính hỗ tương này có ý nói đến việc giáo huấn Công Giáo dạy rằng người ta phải có một mức độ đức tin nào đó mới có thể lãnh nhận hữu hiệu các bí tích, nhưng các bí tích cũng củng cố và làm phong phú đức tin.
 
Cần quan tâm hơn đến việc giáo dục người Công Giáo về bí tích và đức tin
 
Cô cũng cho rằng mặc dù Ủy Ban Thần Học Quốc Tế không cho rằng họ hoàn toàn giải quyết vấn đề thành hiệu của hôn nhân bí tích khi thiếu đức tin, nhưng họ nhấn mạnh rằng cần phải quan tâm nhiều hơn đến việc giáo dục người Công Giáo về ý nghĩa của đức tin, ý nghĩa bí tích và ý nghĩa của hôn nhân.
 
Cindy cũng lưu ý tới điều Ủy Ban Thần Học Quốc Tế nhấn mạnh “các bí tích luôn được cử hành trong đức tin của Giáo Hội vì chúng được trao phó cho Giáo Hội. Trong mọi và mỗi bí tích, đức tin của Giáo Hội đi trước đức tin của các tín hữu cá thể”.
 
Vì đức tin của Giáo Hội hoạt động trong các bí tích, nên Giáo Hội chủ trương rằng “đức tin bản thân của các bên ký kết không tạo nên tính bí tích của hôn phối”. Nhưng, đồng thời, “việc thiếu đức tin bản thân có thể xâm hại tính thành hiệu của bí tích”.
 
Đó là vấn đề liên quan tới các cuộc hôn nhân của những người tuy đã chịu phép rửa nhưng không còn tin nữa như trên đã nói. Họ thuộc hai loại: những người chịu phép rửa lúc còn thơ, nhưng sau đó không thực hành bất cứ hành vi đức tin bản thân nào, và những người chịu phép rửa nhưng cố ý bác bỏ đức tin một cách minh nhiên và không còn coi mình là Công Giáo hay Kitô hữu nữa.
 
Một cách cụ thể, Ủy Ban Thần Học Quốc Tế kết luận rằng các linh mục không nên chấp nhận lời yêu cầu làm đám cưới trong nhà thờ do những người đã chịu phép rửa nhưng không còn tin nào minh nhiên bác bỏ giáo huấn của Giáo Hội về tính bất khả tiêu và mục đích của hôn nhân.
 
 
Vũ Văn An
 
Read More

Điều hướng bài viết

  • Previous page
  • Page 1
  • …
  • Page 1.841
  • Page 1.842
  • Page 1.843
  • …
  • Page 2.036
  • Next page
Bài viết mới nhất
THƯ GỬI SINH VIÊN, HỌC SINH CÔNG GIÁO NHÂN DỊP MỪNG XUÂN BÍNH NGỌ
11/02/2026
THƯ GỬI SINH VIÊN, HỌC SINH CÔNG GIÁO NHÂN DỊP MỪNG LỄ CHÚA GIÁNG SINH 2025
20/12/2025
THƯ GỬI ANH CHỊ EM GIÁO CHỨC CÔNG GIÁO NHÂN NGÀY NHÀ GIÁO VIỆT NAM 20.11.2025  
17/11/2025
Video nổi bật
https://www.youtube.com/watch?v=Td144YDsaGo
Sự kiện sắp tới

There are no upcoming events at this time.

Ủy ban Giáo dục Công giáo – Trực thuộc Hội Đồng Giám Mục Việt Nam.

Liên hệ

72/12 Trần Quốc Toản, Phường 8, Quận 3, TP.HCM Get Directions

Phone: +84 931 436 131

Email: [email protected]

Ban chuyên môn
  • Ban Tài liệu và Truyền thông
  • Ban Giáo chức
  • Ban Kỹ năng và Giá trị sống
  • Ban Khuyến học
  • Ban Học viện Thần học
  • Ban Hội Học sinh – Sinh viên
Chuyên mục
  • Tin tức
  • Thư chung
  • Giáo dục
  • Phụng vụ
  • Thư viện
Bản quyền © 2020 thuộc về Ủy Ban Giáo Dục HĐGM VN. Design by JT.