2020
5 vị linh mục không thể phục vụ đoàn chiên như mong ước
Người tín hữu nhớ Thánh Lễ, nhưng các linh mục cũng đau khổ. Các ngài nhớ giáo dân của mình. Quý cha thân mến, những vị thánh này là gương mẫu cho quý cha.
Trong vòng một tháng qua, người Công giáo ở Mỹ đã không thể tham dự; ở một vài nơi khác trên thế giới, việc này còn diễn ra từ lâu hơn. Và trong khi chúng ta có thể tự cảm thấy ghen tị với các linh mục vì các ngài được lãnh nhận Mình Thánh Chúa như chúng ta thấy trong các thánh lễ online, người giáo dân cần biết rằng những vị linh mục của chúng ta cũng không thích dâng lễ một mình. Các ngài không đi tu để trở thành những vị ẩn sĩ và không muốn chỉ cử hành Hy Tế Thánh trong Thánh Lễ cho chính mình. Các ngài muốn trao ban Thánh Thể cho chúng ta, lắng nghe lời thú tội, rửa tội cho trẻ em và hướng đến sự tiếp đón sau đó.
Và vì vậy trong tuần này, tôi muốn nói về những vị thánh là mẫu gương cho các linh mục trong chúng ta.
Quý cha thân mến, cảm ơn quý cha về sự tuân phục, niềm tin, sự sáng tạo trong linh mục đoàn và tình phụ tử thiêng liêng của quý cha. Con gửi đến quý cha những đấng cầu bầu này, những linh mục thánh thiện đã bị tách khỏi giáo dân của mình, đã không thể phục vụ theo đường lối mà các ngài mong muốn. Mong những bằng chứng của sự thánh thiện nơi các ngài khích lệ quý cha và sự cầu bầu của các ngài nâng đỡ quý cha, nhờ đó thời gian xa cách giáo dân cũng có thể là thời gian cho nguồn ân sủng vô hạn.
Chân phước Cyprian Michael Iwene Tansi (1903-1963) là một cha xứ ở Nigeria. Ngài đã giúp đỡ giáo dân xây những căn nhà, đã đạp xe từ làng này sang làng khác, nghe lời thú tội trong nhiều giờ không ngừng, bảo vệ cho quyền lợi của người phụ nữ, và mang nhiều linh hồn về với Chúa Giêsu. Ngài đã là một chứng nhân tốt lành, 70 người nam từ các giáo xứ của ngài đã trở thành linh mục. Những cha Tansi đã cảm thấy một lời mời gọi đến cuộc sống viện tu, nên ngài rời khỏi giáo xứ của mình và trở thành một đan sĩ ở Anh, hy vọng rằng một ngày nào đó ngài có thể trở lại châu Phi. Vị linh mục đã từng có được rất nhiều hoa trái bỗng nhiên trở thành một tập sinh, được yêu cầu không làm gì khác ngoài việc học, và bị ngăn cấm ngay cả việc giải tội. Trong nhiều năm, ngài không được thi hành sứ vụ mục tử, và dù cuối cùng ngài cũng được phép giải tội lại, ngài đã chết trước khi có thể trở lại châu Phi.
Thánh Pacificus of San Severino (1653-1721) là một linh mục dòng Phanxicô, một nhà giảng thuyết khôn ngoan, đã rong ruổi khắp vùng quê mà rao giảng cho đến khi đôi chân đầy vết thương và gần như không thể đi lại. Do đó, ngài lui về tòa giải tội, nơi ngài vui mừng phục vụ giáo dân của ngài qua việc giải tội sáu giờ một ngày – cho đến khi ngài mất khả năng nghe. Sau đó, ngài hài lòng với việc cử hành Thánh Lễ, cho đến khi thị lực của ngài cũng mất đi. Pacificus bất lực trong mọi phương cách trần thế. Ngài dành 30 năm tiếp theo trong đau khổ và cô độc, nhưng với lời cầu nguyện và việc lãnh đạo cộng đoàn của mình, ngài tiếp tục phục vụ giáo dân ngay cả khi ngài không thể cử hành các bí tích cho họ.
Chân phước Peter Kibe (1587-1639) là một Kitô Hữu người Nhật đã nhiều lần bị từ chối gia nhập dòng Tên vì dân tộc của mình. Cuối cùng, ngài đi đến Rôma để trở thành linh mục dòng Tên, sau đó dành tám năm di chuyển để trở về Nhật Bản. Ngài đã bị giông bảo cuốn đi, bị cướp biển săn đuổi, và bị từ chối trên những chiếc tàu đi về Nhật Bản trước khi ngài làm một chiếc thuyền cho riêng mình để đi trong chặng cuối của hành trình. Cuối cùng, ngài đến được Nhật Bản, nơi mà ngài đã phục vụ Hội Thánh Hầm Trú Nhật Bản trong vòng chín năm trước khi ngài bị nộp và bị giết chết.
Thánh John Roberts (1577-1610) là một tân tòng xứ Wales và là một linh mục dòng Biển Đức, bí mật ở Anh, không bao giờ bỏ mặt giáo dân của mình. Bị bắt vì là linh mục, ngài bị trục xuất khỏi Anh nhưng đã trở lại để phục vụ những nạn nhân của dịch bệnh. Bị bắt lần thứ hai, ngài bị trục xuất lần nữa, nhưng đã trở lại Anh gần như tức khắc để tiếp tục phục vụ như một linh mục bí mật. Ngài bị bắt lần thứ ba, bị cầm tù trong vòng bảy tháng trước khi tiếp tục bị trục xuất – và ngài trở lại. Bị bắt lần nữa, ngài trốn thoát khỏi tù và tiếp tục sứ vụ. Bị bắt lần thứ năm, ngài bị trục xuất lần nữa nhưng đã lén trở lại đất nước. Roberts bị bắt lần thứ sáu (trong tám năm) và cuối cùng bị giết chết, một vị mục tử đã yêu đoàn chiên đến cùng.
Thánh Theophilus the Penitent (d. 538) không phải một người để bắt chước – ít nhất không phải trong sự phản ứng ban đầu của ngài trước nghịch cảnh. Là giám mục phó của Adana, Thổ Nhĩ Kỳ, ngài được chọn trở thành giám mục nhưng đã từ chối với sự khiêm nhường. Không may thay, sự khiêm nhường của ngài không đủ mạnh để chịu đựng sự vu cáo. Khi ngài bị buộc tội trộm cắp và bị loại khỏi linh mục đoàn, Theophilus đã rất liều lĩnh để được minh oan, ngài đã tìm một thầy đồng để giúp ngài làm giao kèo với ma quỷ, từ bỏ Chúa Giêsu và bán linh hồn mình thông qua một bản giao kèo ký bằng máu. Nhiều người có thể nói: đó là một phản ứng tột độ để có thể phục vụ trở lại như một linh mục, nhưng ý định không vâng phục và đánh lừa giám mục thì không khác nhau như chúng ta nghĩ. May thay, Theophilus có một lương tâm ngay thẳng và sớm ăn năn, thú tội cách công khai, và qua đời ba ngày sau đó.
2020
ĐTC Phanxicô: Ngày nay nhiều Kitô hữu bị bách hại hơn cả trong những thế kỷ đầu
ĐTC PHANXICÔ: NGÀY NAY NHIỀU KITÔ HỮU
BỊ BÁCH HẠI HƠN CẢ TRONG NHỮNG THẾ KỶ ĐẦU
Đức Thánh Cha đau lòng khi thấy rằng ngày nay nhiều anh chị em vẫn còn chịu bách hại và mời gọi các tín hữu gần gũi với họ. Ngài khuyến khích các tín hữu kiên cường làm men, làm muối cho Tin Mừng, đừng để cho hương vị Kitô hữu bị mất đi. Chúa Kitô luôn đồng hành với chúng ta trong thử thách.
Trong buổi tiếp kiến chung được truyền hình trực tiếp từ Dinh Tông tòa vào sáng thứ Tư 29/04, Đức Thánh Cha đã giải thích Mối phúc cuối cùng trong tám Mối phúc: “Phúc cho ai bị bách hại vì lẽ công chính, vì Nước Trời là của họ” (Mt 5,10). Sống theo các Mối phúc có thể khiến chúng ta bị thế giới chối từ, bách hại. Tuy nhiên, cuối cùng, bách hại lại là nguyên nhân giúp chúng ta được hưởng niềm vui trên thiên quốc. Con đường Mối phúc là hành trình phục sinh, đưa chúng ta từ sự ích kỷ đến cuộc sống theo Chúa Thánh Thần hướng dẫn. Cuộc đời các thánh cho chúng ta thấy rằng bách hại giúp các Kitô hữu được giải thoát khỏi sự thỏa hiệp với thế gian.
Bài giáo lý của Đức Thánh Cha
Anh chị em thân mến, chào anh chị em!
Với buổi tiếp kiến hôm nay, chúng ta kết thúc cuộc hành trình các Mối phúc theo Tin Mừng. Như chúng ta đã nghe, Mối phúc cuối cùng loan báo niềm vui cánh chung của người bị bách hại vì công lý.
Mối phúc này loan báo về hạnh phúc giống như được loan báo trong Mối phúc đầu tiên: nước Trời dành cho những người bị bách hại giống như dành cho người có tinh thần nghèo khó; như thế chúng ta hiểu rằng chúng ta đã đi đến điểm cuối của một hành trình duy nhất đã được loan báo trong các Mối phúc trước đó.
Các Mối phúc là hành trình từ sự ích kỷ cá nhân đến: tinh thần nghèo khó, sự than khóc, hiền lành, khao khát sự thánh thiện, lòng thương xót, tâm hồn trong sạch và kiến tạo hòa bình có thể đưa đến sự bách hại vì Chúa Kitô, nhưng sự bách hại này cuối cùng lại là nguyên nhân của niềm vui và phần thưởng lớn lao trên thiên đàng. Con đường của các Mối phúc là một hành trình Phục sinh, đi từ một cuộc sống theo thế gian đến cuộc sống theo Thiên Chúa, từ một cuộc sống được dẫn dắt bởi xác thịt – nghĩa là bởi sự ích kỷ – đến cuộc sống được Chúa Thánh Thần hướng dẫn.
Lối sống Tin Mừng gây khó chịu cho thế gian
Thế gian, với những thần tượng của nó, những thỏa hiệp và ưu tiên của nó, không thể chấp nhận lối sống này. “Các cấu trúc tội lỗi”, những thứ thường được tạo ra bởi não trạng của con người và xa lạ với Thánh Thần chân lý, Đấng mà thế gian không thể chấp nhận (x. Ga 14,17), chỉ có thể chối bỏ tinh thần nghèo khó hay hiền lành hay trong sạch và tuyên bố rằng lối sống theo Tin Mừng là một sai lầm và là vấn đề, và do đó là điều gì đó cần gạt ra ngoài lề. Thế giới nghĩ rằng: đây là những người duy tâm hoặc cuồng tín… Họ nghĩ như thế.
Nếu thế gian dựa trên tiền bạc, thì bất cứ ai chứng tỏ rằng cuộc sống có thể được viên mãn trong việc trao tặng và từ bỏ, đều trở thành sự phiền toái đối với hệ thống của lòng tham lam. Từ “phiền toái” này là chìa khóa, bởi vì chứng tá Kitô giáo duy nhất, điều mang lại nhiều điều tốt đẹp cho nhiều người bởi vì họ sống theo nó, lại gây phiền toái cho những người theo não trạng thế gian. Họ thấy nó như một lời trách móc. Khi sự thánh thiện xuất hiện và cuộc sống của con cái Chúa nổi bật lên, trong vẻ đẹp đó có một điều không thoải mái, đòi hỏi phải chọn lựa: hoặc để cho chính mình bị tra vấn và mở lòng ra với điều tốt hoặc từ chối ánh sáng đó và trở nên cứng lòng, thậm chí đến mức chống đối và giận dữ (x. Kn 2,14-15).
Sự thù ghét Kitô hữu của các chế độ độc tài ở châu Âu
Thật là đáng tò mò… thu hút sự chú ý khi nhìn thấy trong các cuộc bách hại các vị tử đạo, sự thù địch gia tăng đến mức trở thành oán giận như thế nào. Chỉ cần nhìn những cuộc bách hại trong thế kỷ cuối cùng của các chế độ độc tài châu Âu: người ta đã thịnh nộ chống lại Kitô hữu, chống lại chứng tá Kitô giáo và chống lại chủ nghĩa anh hùng của Kitô hữu như thế nào.
Bách hại giúp Kitô hữu thoát khỏi thỏa hiệp với thế gian
Nhưng điều này cho thấy rằng thảm kịch bách hại cũng là nơi giải thoát khỏi sự lệ thuộc vào thành công, vào vinh quang giả tạo và thỏa hiệp với thế giới. Điều gì làm cho những người bị thế giới chối bỏ vì Chúa Kitô được vui mừng? Họ vui mừng vì đã tìm được điều quý giá, giá trị hơn cả thế giới. Thực tế, “được cả thế giới mà phải thiệt mất mạng sống, thì người ta nào có lợi gì?” (Mc 8,36).
Ngày nay có nhiều vị tử đạo hơn trong các thế kỷ đầu tiên
Thật đau lòng nhắc lại rằng, tại thời điểm này, có rất nhiều Kitô hữu phải chịu những cuộc bắt bớ ở nhiều khu vực trên thế giới, và chúng ta phải hy vọng và cầu nguyện rằng cơn hoạn nạn của họ sẽ chấm dứt càng sớm càng tốt. Ngày nay có nhiều vị tử đạo hơn trong các thế kỷ đầu tiên. Chúng ta hãy tỏ sự gần gũi với những anh chị em này: chúng ta là một thân thể, và những Kitô hữu này là những chi thể đang bị thương tích đổ máu trong thân thể của Chúa Kitô là Giáo hội.
Chú ý đến nguy cơ “đánh mất hương vị” của Kitô hữu
Nhưng chúng ta cũng phải cẩn thận để không đọc Mối phúc này theo nghĩa bi quan, tự thương hại. Thật ra, không phải sự khinh miệt của con người lúc nào cũng đồng nghĩa với sự bách hại: không lâu sau khi nói về các Mối phúc, Chúa Giêsu nói rằng các Kitô hữu là “muối của trái đất”, và ngài cảnh giác chống lại nguy cơ “đánh mất hương vị”, khi đó muối “đã thành vô dụng và chỉ còn việc quăng ra ngoài cho người ta chà đạp” (Mt 5,13). Do đó, cũng có sự khinh miệt do lỗi của chúng ta, khi chúng ta đánh mất hương vị của Chúa Kitô và Tin Mừng.
Cần phải trung thành với con đường khiêm hạ của các Mối phúc, bởi vì đó là con đường để thuộc về Chúa Kitô chứ không phải thuộc về thế gian. Cần nhớ lại hành trình của thánh Phaolô: khi ngài nghĩ mình là một người công chính, thì ngài lại là một kẻ bách hại, nhưng khi khám phá ra mình là một kẻ bách hại thì ngài lại trở thành con người của tình yêu, người đối mặt cách hạnh phúc với những đau khổ của cuộc bách hại mà ngài phải chịu (x. Cl 1,24).
Chúa Giêsu luôn ở bên chúng ta trong các cuộc bách hại
Nếu Thiên Chúa ban cho chúng ta ân sủng, làm cho chúng ta giống với Chúa Kitô bị đóng đinh và, liên kết chúng ta với cuộc thương khó của Người, thì việc bị loại trừ và bách hại là biểu hiện của cuộc sống mới. Cuộc sống này giống như của Chúa Kitô, Đấng vì loài người chúng ta và vì ơn cứu độ của chúng ta đã “bị con người khinh miệt và khước từ” (x. Is 53,3; Cv 8,30-35). Được đón nhận Chúa Thánh Thần của Người có thể giúp trái tim chúng ta tràn đầy tình yêu để hiến dâng sự sống cho thế giới mà không cần thỏa hiệp với những lừa dối của nó và chấp nhận sự chối từ của nó. Thỏa hiệp với thế gian là điều nguy hiểm: Kitô hữu luôn bị cám dỗ thỏa hiệp với thế gian, với tinh thần của thế gian. Từ chối sự thỏa hiệp và đi theo con đường của Chúa Giêsu Kitô là cuộc sống của Nước Trời, niềm vui lớn nhất, niềm vui đích thực. Và rồi, trong những cuộc bách hại, luôn có sự hiện diện của Chúa Giêsu, Đấng đồng hành với chúng ta; sự hiện diện của Chúa Giêsu an ủi chúng ta và sức mạnh của Chúa Thánh Thần giúp chúng ta tiến bước. Chúng ta đừng nản lòng khi một cuộc sống theo Tin Mừng đưa đến những cuộc bách hại: có Chúa Thánh Thần nâng đỡ chúng ta trên con đường này. Hồng Thủy – Vatican News
2020
ĐTC Phanxicô thành lập ngân quỹ Gioan Phaolô I
Đức Thánh Cha Phanxicô đã quyết định thành lập ngân quỹ Gioan Phaolô I, theo giáo luật và luật của Quốc gia thành Vatican, để đào sâu con người, tư tưởng và giáo huấn của vị tiền nhiệm đáng kính, Gioan Phaolô I – Albino Luciani – và cổ võ việc học hỏi và phổ biến các tác phẩm của ngài.
Trong Phúc chiếu được ký ngày 17/02 vừa qua, Đức Hồng y Pietro Parolin, Quốc vụ khanh Tòa Thánh, cho biết trong buổi tiếp kiến dành cho ngài hôm 10/02 trước đó, Đức Thánh Cha đã đưa ra quyết định thành lập ngân quỹ này.
Mục đích ngân quỹ Gioan Phaolô I
Mục đích của ngân quỹ Gioan Phaolô I là chăm sóc và bảo tồn các di sản văn hóa và tôn giáo do Đức Giáo hoàng Gioan Phaolô I để lại; thúc đẩy các sáng kiến như hội nghị, hội họp, hội thảo và học tập; thiết lập giải thưởng và học bổng; lo về các hoạt động xuất bản bằng cách xuất bản các kết quả học hỏi và nghiên cứu của chính tổ chức này cũng như các tác phẩm của bên thứ ba; đề xuất ngân quỹ này như một điểm tham chiếu, ở Ý và ở nước ngoài, cho những người hoạt động trong cùng lãnh vực và có cùng mục đích.
Chủ tịch và thành viên của quỹ Gioan Phaolô I
Đức Thánh Cha cũng đã bổ nhiệm Đức Hồng y Pietro Parolin, Quốc vụ khanh Tòa Thánh, làm Chủ tịch Quỹ Gioan Phaolô I. Ban điều hành của ngân quỹ có nhiệm kỳ 5 năm, gồm Tiến sĩ Stefania Falasca làm Phó Chủ tịch của Quỹ này; và Đức Hồng y Beniamino Stella, Đức cha Andrea Celli, cha Davide Fiocco, tiến sĩ Lina Petri và tiến sĩ Alfonso Cauteruccio.
Để thực hiện các hoạt động của mình, Quỹ đã thành lập một Ủy ban Khoa học, gồm sáu thành viên, được lựa chọn trong số những người được xác nhận là có năng lực và kinh nghiệm. Ủy ban này có thể được mở rộng cho các sáng kiến, dự án, học hỏi, nghiên cứu hoặc tư vấn cụ thể.
Tiểu sử Đức Gioan Phaolô I
Đức Gioan Phaolô I tên là Albino Luciani, sinh ngày 17/10/1912 tại Forno di Canale, tỉnh Belluno. Ngài được thụ phong linh mục vào tháng 7/1935, được Đức Giáo hoàng Gioan XXIII bổ nhiệm làm giám mục của Vittorio Veneto vào năm 1958 và được Đức Giáo hoàng Phaolô VI bổ nhiệm làm Thượng phụ Venezia. Ngày 05/03/1973, ngài được thăng làm Hồng y. Và ngày 26/08/1978, trong mật nghị Hồng y sau khi Đức Phaolô VI qua đời, ngài được bầu chọn làm Giáo hoàng với tên hiệu Gioan Phaolô, để kính nhớ hai vị tiền nhiệm Gioan XXIII và Phaolô VI. Nhưng Đức Gioan Phaolô I đã đột ngột qua đời vào ngày 28/09 sau đó, chỉ sau 33 ngày làm Giáo hoàng.
Một mục tử gần gũi, khiêm nhường, yêu Chúa và tha nhân
Tiểu sử của Đức Gioan Phaolô I là tiểu sử của một mục tử gần gũi với mọi người, tập trung vào bản chất của đức tin và với sự nhạy cảm phi thường về xã hội. Giáo lý của ngài rất hợp thời. Sự gần gũi, khiêm nhường, đơn giản, xác tín về lòng thương xót của Chúa, tình yêu đối với tha nhân và sự liên đới là những đặc điểm nổi bật của ngài. (REI 28/04/2020) Hồng Thủy – Vatican
2020
Thư của một linh mục hấp hối gửi cho Chúa
Cha José Luis Martín Descalzo người Tây Ban Nha, một phóng viên, một nhà văn, cũng là con út trong một gia đình công giáo đạo đức gồm bốn anh chị em. Ngài tốt nghiệp khoa Lịch Sử và Thần Học của Đại Học Giáo Hoàng Grêgôriô tại Rome, thụ phong linh mục năm 1953. Ngài làm việc trong tư cách giáo sư và giám đốc tại một công ty kịch nghệ; và trong thời gian diễn ra Công Đồng Vaticano II, cha José Luis Martín Descalzo là một thông tín viên.
Là một nhà báo, cha José đã điều hành nhiều tạp chí khác nhau và một chương trình truyền hình. Ngài đã viết nhiều tác phẩm văn chương, một số được biết đến nhiều nhất là “Cuộc Đời và Mầu Nhiệm Của Chúa Giêsu thành Nazareth”, “Những Lý Do Để Sống”, “Những Lý Do Để Hy Vọng”, “Những Lý Do Để Yêu Thương” và “Những Lý Do Cho Đời Sau”, vốn tích hợp nhiều đề mục liên quan đến các biến cố thực và cuộc sống thường ngày.
Cha José Luis Martín Descalzo đã dâng trọn đời mình cho thiên chức linh mục; ngài nguyện trung thành với ơn gọi một cách đơn sơ nhưng sâu lắng. Từ lúc còn trẻ, trải qua những cơn đau tim và thận suy nghiêm trọng, ngài đã phải lọc máu nhiều năm. Sống trọn vẹn những giờ khắc hiện tại Chúa ban, Ngài không ngừng toả lan niềm hy vọng cho đến lúc lìa đời tại Madrid ngày 11 tháng 6 năm 1991. Ở đây, chúng tôi xin giới thiệu bài viết cuối cùng của ngài trước khi ngài ra đi, đó là một lá thư gửi cho Thiên Chúa, chất chứa những tâm tình quý giá đáng cho chúng ta nghiền ngẫm và chia sẻ.
“‘Con cám ơn Chúa’, những lời này sẽ gói trọn tất cả những gì con muốn gửi đến Ngài, lạy Thiên Chúa, tình yêu của con; bởi lẽ, đó cũng là tất cả những gì con muốn thưa lên cùng Chúa, ‘Cám ơn Chúa’, ‘Cám ơn Chúa’. Đứng từ chỏm núi cao nhất của 55 đời mình, con nhìn lại và dường như không thấy gì khác ngoài những dãy núi trùng trùng điệp điệp bất tận của tình yêu Chúa. Lịch sử đời con, chẳng chỗ nào lại không được rọi sáng bởi lòng thương xót Chúa dành cho con; ở đó, đã không một giây phút nào mà con đã không nghiệm ra một sự hiện diện yêu thương đầy tình phụ tử của Chúa đêm ngày chăm bẵm linh hồn con.
Ngay mới hôm qua, một người bạn vừa nghe biết vấn đề sức khoẻ của con gửi cho con một bưu thiếp; trong đó, đầy phẫn nộ, cô bạn viết cho con những lời này, “Một sự giận dữ lớn lao xâm chiếm toàn thân con và con đã nổi loạn với Chúa vì đã để cho một người như cha phải khốn khổ”. Một điều gì đó thật đáng thương! Cảm xúc nơi cô đã khiến cô mù loà để không trông thấy sự thật. Đó là đang khi con chẳng còn quan trọng gì so với bất cứ ai thì trọn đời con đã là một chứng từ cho sự sống và niềm tin. Suốt 55 năm đời con, con đã đau khổ hơn nhiều lần dưới bàn tay người đời; bao lời nộp rủa và sự vô ơn cũng như cô đơn và hiểu lầm. Vậy mà, từ nơi Ngài, con đã không nhận được gì khác ngoài những cử chỉ âu yếm bất tận, kể cả cơn đau sau cùng của con.
Trước hết, Chúa cho con sự sống, kỳ diệu thay con được làm người, để con vui thoả cảm nhận sự mỹ miều của thế giới. Cho con niềm vui trở nên một phần của gia đình nhân loại; cho con vui sướng vì biết rằng, cuối cùng, khi con đặt mọi sự lên bàn cân thì những vết cắt, những thương tích luôn luôn ít hơn tình yêu lớn lao mà cũng chính những con người đó đã đặt lên đĩa cân bên kia của đời con. Dường như con khá may mắn hơn những người khác thì phải. Có thể. Nhưng giờ đây, làm sao con có thể vờ vịt làm một kẻ bị đoạ đày của nhân loại khi biết chắc một điều là, con đã được đỡ nâng và cảm thông nhiều hơn là những khó nhọc.
Hơn thế, cùng với quà tặng làm người, Chúa còn cho con quà tặng đức tin. Ngay từ thời thơ ấu, con cảm nhận sự hiện diện của Ngài hằng bao bọc con; với con, xem ra Chúa thật dịu hiền. Nghe đến danh Ngài, con chẳng hề sợ hãi bao giờ. Linh hồn con, Chúa đã trồng vào đó những khả năng phi thường: khả năng nhận thức, con đang được thương yêu; khả năng cảm biết, mình đang được cưng chiều; khả năng trải nghiệm sự hiện diện mỗi ngày của Chúa trong từng giờ khắc lặng lẽ trôi. Con biết, vẫn có một ít người nguyền rủa ngày họ chào đời, họ thét lên với Chúa rằng, họ không cầu xin để được sinh ra; con cũng chẳng cầu xin điều đó, vì trước đó làm gì có con. Nhưng nếu con biết đời mình là gì, hẳn con vẫn sẽ van nài cho được hiện hữu, một sự hiện hữu như Ngài đang ban cho con.
Con thiết nghĩ, vẫn là tuyệt đối cần thiết để được sinh ra trong mái gia đình mà Chúa đã chọn cho con. Hôm nay con sẽ sẵn sàng đánh đổi tất cả những gì con sở hữu chỉ để được lại ba mẹ và anh chị em con như con đã được. Tất cả họ là những chứng nhân sống động cho sự hiện diện của tình yêu Chúa; qua những người thân yêu đó, con dễ dàng học biết Chúa là ai. Nhờ họ mà việc kính mến Chúa yêu thương người của con nên dễ dàng hơn rất nhiều. Thật vô lý nếu không yêu mến Chúa cũng như không dễ gì để có thể sống đắng cay. Hạnh phúc, niềm tin và lòng tín thác tựa hồ món bánh kem mà mẹ con luôn luôn dọn sẵn sau bữa cơm chiều, một món gì đó gần như chắc chắn không thể không có; hôm nào không có bánh kem thì thật đơn giản, chỉ vì không có trứng chứ không phải tình yêu đang thiếu đi. Con cũng học biết rằng, đau khổ là một phần của cuộc vui; đau khổ không phải là một lời nguyền rủa nhưng là một phần cho cái giá của sự sống, một điều gì đó vốn không bao giờ đủ để lấy mất niềm vui của chúng con.
Nhờ tất cả những điều ấy, giờ đây con cảm thấy thẹn thùng khi nói lên và rằng, cơn đau không làm con đau, đắng cay không làm con cay đắng. Được như thế, không phải vì con can trường nhưng đơn giản chỉ vì ngay từ tấm bé, con đã học nhìn ngắm những khía cạnh tích cực của cuộc sống và tập bước đi trong những vùng tối tăm; để rồi khi chúng ập đến, chúng không quá tăm tối nhưng chỉ hơi xám một chút. Một người bạn khác vừa viết cho con trong mấy ngày qua rằng, con có thể chịu đựng được việc lọc máu cùng lúc khi “con say Chúa”. Điều này, với con, xem ra hơi quá đáng và cường điệu. Bởi vì ngay từ thuở nằm nôi, con đã ngất say với sự hiện diện tự nhiên của Ngài, lạy Chúa, và trong Ngài, con luôn cảm thấy cứng cáp để chịu đau đớn hoặc cũng có thể chỉ vì đau đớn thật sự Chúa đã không gửi đến cho con.
Đôi khi con nghĩ, con thật “quá đỗi may mắn”. Các thánh đã dâng Chúa bao điều lớn lao, còn con, đã không bao giờ có gì đáng giá để dâng Ngài. Con sợ rằng, vào giờ sau hết, con sẽ có chung một ý tưởng như mẹ con đã có khi bà lìa đời. Ý tưởng đó là, con chết mà thấy mình chẳng có công nghiệp gì, có thể nói là trắng tay, vì không gì Chúa gửi đến mà lại quá sức con; cũng không phải ngay cả sự cô đơn hay phiền muộn Chúa trao cho những ai thực sự thuộc về Ngài. Bỏ lỗi cho con, nhưng con sẽ làm gì đây khi Chúa không bao giờ bỏ con? Đôi lúc con cảm thấy xấu hổ khi nghĩ rằng, con sẽ chết mà không được ở bên Chúa trong vườn Ôliu, không được trải qua hấp hối của mình trong vườn cây dầu. Chỉ bởi Chúa, con không hiểu tại sao, không bao giờ để con vắng mặt trong các Chúa Nhật Lễ Lá dù con phải nằm bệnh viện triền miên. Thi thoảng, trong những giấc mơ anh hùng của mình, con từng nghĩ táo bạo rằng, lẽ ra con cần trải qua một cuộc khủng hoảng đức tin để tự chứng tỏ cho Chúa thấy. Người ta nói, lòng tin đích thực được chứng tỏ nơi thập giá đang khi con chưa bao giờ gặp phải bất kỳ một thập giá nào ngoài đôi tay mơn trớn dịu hiền của Ngài.
Đó chẳng phải vì con tốt lành hơn những người khác. Tội lỗi tiềm ẩn trong con, nó sâu sắc làm sao… Chúa với con cùng biết. Sự thật là ngay cả vào những thời khắc tồi tệ nhất, con vẫn chưa trải nghiệm được cái nghiệt ngã của bóng tối sự dữ, bởi lẽ, ánh sáng Chúa đã đêm ngày chiếu soi con. Ngay trong khổ đau, con vẫn thuộc về Chúa; quả vậy, tình yêu Chúa dành cho con xem ra càng tăng thêm mỗi khi con lỗi tội nhiều hơn.
Con cũng đã tựa nương vào Chúa suốt những thời điểm bách hại và khó khăn. Chúa biết, ngay cả trong những chuyện thế gian, thì ở đó, bên con, luôn luôn có nhiều người tốt hơn kẻ bội phản. Vì lẽ, cứ mỗi lần hiểu lầm, con lại nhận được những mười nụ cười. Con thật may mắn vì sự dữ không bao giờ phương hại được con; và quan trọng nhất, sự dữ không bao giờ có thể làm nội tâm con cay đắng. Ngay đến cả những trải nghiệm tồi tệ cũng làm gia tăng trong con sự khát khao được nên trọn lành và kết quả là, con có những người bạn hết sức bất ngờ.
Rồi, Chúa đã gọi con, kỳ diệu thay! Con là linh mục, một điều không thể, Chúa biết điều đó… nhưng với con, con biết, thật nhiệm mầu. Hôm nay hẳn con không còn nhiệt huyết với mối tình trẻ như những thuở đầu; nhưng may thay, thánh lễ đã không bao giờ chỉ là một thói quen thường nhật và con vẫn run lên mỗi khi giải tội. Con vẫn cảm nhận niềm vui vô bờ khi đang ở đây để có thể nâng đỡ người khác cũng như niềm vui hiện diện để rao truyền danh Chúa cho anh em. Chúa biết, con vẫn sùi sụt khóc mỗi khi đọc lại dụ ngôn đứa con hoang đàng; nhờ ơn Chúa, con vẫn xúc động mỗi lần đọc Kinh Tin Kính ở phần nói đến cuộc khổ nạn và cái chết của Chúa.
Dĩ nhiên, quà tặng lớn nhất của Chúa là chính Con Một, Chúa Giêsu. Ngay cả khi con là con người đáng thương nhất hoặc khi khổ đau vẫn cứ đeo bám con mọi ngày trong đời thì con biết rằng, con sẽ chỉ nhớ đến Chúa Giêsu mà vượt qua chúng. Việc ý thức Chúa đã nên một người như chúng con giúp con giao hoà với những thất bại và trống rỗng của mình. Vậy tại sao lại có thể buồn một khi biết rằng, Chúa đã bước những bước trên hành tinh này. Còn gì dịu dàng hơn việc chiêm ngắm khuôn mặt sầu bi của Mẹ Maria?
Hẳn con đang hạnh phúc, sao mà không hạnh phúc được? Con đang hạnh phúc ngay đây dẫu đang ở ngoài vinh quang thiên đàng. Chúa hãy nhìn xem, con đâu sợ chết, nhưng con không vội đến đó. Liệu con được gần Chúa hơn khi đến đó so với bây giờ không? Thật là kỳ diệu, có thiên đàng ngay khi chúng con có thể yêu mến Chúa. Cabodevilla, bạn con, nghĩ đến một điều gì đó khi nói, “Chúng ta sắp chết mà không biết đâu là quà tặng tuyệt vời nhất của Chúa, hoặc Chúa yêu mến chúng ta hoặc Chúa cho chúng ta mến yêu Ngài”.
Vì lý do này, con đau lòng biết bao khi ai đó coi thường cuộc sống của họ. Quả thật, mỗi người chúng con đang làm một điều gì đó cao cả hơn vô vàn so với phận mình, phàm phu tục tử; đó là yêu mến Chúa và cộng tác với Chúa trong việc kiến tạo một toà nhà bát ngát bao la của tình yêu.
Con cảm thấy không ổn khi nói rằng, chúng con làm vinh quang Chúa ở thế gian này; nói thế thì thật quá đáng. Con tin rằng, con sẽ vui thoả khi con gối đầu vào tay Chúa để Chúa có cơ hội vỗ về con, thế thôi. Việc nói rằng Chúa sẽ ban thiên đàng cho chúng con như một phần thưởng khiến con thầm cười. Phần thưởng cho cái gì đây? Chúa thật đáo để khi vừa ban thiên đàng vừa cho chúng con cảm thấy mình xứng đáng với điều đó. Chúa quá biết, chỉ tình yêu mới có thể đáp đền tình yêu. Hạnh phúc không là kết quả cũng không là hoa trái của tình yêu; tình yêu tự nó là hạnh phúc. Nhận biết Chúa là Cha của con, và đó là thiên đàng. Dĩ nhiên, Chúa không cần cho con mọi điều, nguyên việc cho con yêu mến Chúa đã là quà tặng lớn lao cho con, Chúa không thể cho con nhiều hơn.
Vì tất cả điều này, lạy Chúa, Thiên Chúa của con, con đã muốn nói về Chúa và với Chúa ở trang cuối cuốn sách “Những Lý Do Để Yêu Thương” của con. Chúa là cùng đích và là lý do duy nhất cho tình yêu của con, con không còn lý do nào nữa. Sẽ không có bất cứ hy vọng nào cho con nếu không có Chúa. Niềm vui của con sẽ được tìm thấy ở đâu, dựa trên cái gì, nếu vắng bóng Ngài. Rượu tình của con sẽ vô vị nhạt nhẽo biết bao nếu không được ủ ấp trong tình yêu Chúa. Chúa cho con sức mạnh và cuộc đời để con biết rất rõ rằng, nhiệm vụ duy nhất của con là như một phát ngôn nhân lặp đi lặp lại danh Chúa mãi mãi. Và như thế, con thanh thản ra đi.
Con, José Luis Martín Descalzo”
