2020
Đức Thánh Cha trả lời phỏng vấn liên quan đến đại dịch Covid-19
Đức Thánh Cha trả lời phỏng vấn liên quan đến đại dịch Covid-19
Trong cuộc phỏng vấn dài với nhà báo Austen Ivereigh của tờ báo The Tablet của Anh, ĐTC Phanxicô đã trả lời những câu hỏi liên quan đến đại dịch Covid-19.
Vatican News Tiếng Việt trích đăng một câu trả lời của Đức Thánh Cha liên quan đến câu hỏi “liệu trong cuộc khủng hoảng và tác động kinh tế của nó, ta có thể nhìn thấy cơ hội trong việc hoá cải sinh thái không, để xem xét những ưu tiên và cách sống của chúng ta?”
Có một câu ngạn ngữ Tây Ban Nha nói rằng: “Thiên Chúa thì luôn luôn tha thứ, con người thì thỉnh thoảng tha thứ, và thiên nhiên thì không bao giờ tha thứ”. Chúng ta đã không lắng nghe những thảm họa nơi này nơi khác. Ngày nay có ai nhắc về vụ cháy rừng ở Úc? Và thực tế là một năm rưỡi trước, có một con tàu đã vượt qua được Bắc Cực, bởi vì ở đó băng đã tan chảy và tàu có thể đi lại được. Vậy ai đã nói về những trận lũ lụt? Tôi không biết đó có phải là sự trả thù của thiên nhiên không, nhưng đó chắc chắn là câu trả lời của thiên nhiên.
Cần nhớ về ký ức
Chúng ta có một bộ nhớ chọn lọc. Tôi muốn nhấn mạnh về điều này. Tôi đã rất ấn tượng bởi lễ kỷ niệm 70 năm cuộc đổ bộ Normandia (Pháp). Đã có những nhân vật hàng đầu về chính trị và văn hóa quốc tế. Và họ đã ăn mừng. Tất nhiên, đó đúng là sự khởi đầu của một kết thúc cho một chế độ độc tài, nhưng không có bất kỳ ai nhớ đến 10.000 chàng trai đã ngã xuống trên bãi biển đó.
Khi tôi ở Redipuglia, trong dịp một trăm năm kết thúc Chiến tranh thế giới lần thứ nhất, người ta chỉ thấy có một tượng đài thật đẹp với những cái tên khắc trên bia đá, và chẳng có gì hơn. Tôi đã khóc khi nghĩ về ĐTC Biển Đức XV (về “cuộc tàn sát vô ích”). Tương tự như thế ở Anzio, vào ngày lễ cầu cho những người đã qua đời, tôi nhớ đến những người lính Bắc Mỹ đã được chôn cất ở đó. Mỗi người họ đều có một gia đình, và tôi có thể ở vị trí của một trong số họ.
Ngày nay, ở Châu Âu, khi người ta bắt đầu nghe những bài phát biểu dân túy hay những quyết định chính trị có chọn lọc, không khó để người ta nhớ đến những phát biểu của Hitler vào năm 1933, ít nhiều chúng cũng giống như cách làm của một số chính trị gia ngày nay.
Tôi vẫn còn nhớ một câu thơ của Virgilio: [forsan et haec olim] meminisse iubavit (Có lẽ sẽ đến một ngày thích hợp để nhớ những điều này). Chúng ta cần phục hồi ký ức, bởi vì ký ức sẽ giúp chúng ta. Đây là lúc để phục hồi lại ký ức. Đây không phải là dịch bệnh đầu tiên của nhân loại. Những bệnh dịch trước đó giờ đây đã được biến thành những giai thoại. Chúng ta cần phải phục hồi lại những ký ức về nguồn cội, về truyền thống, vì chúng là những điều đáng nhớ. Trong Linh Thao của Thánh Inhaxio, toàn bộ tuần thứ nhất của linh thao và sau đó là phần chiêm niệm để đạt được tình yêu trong tuần thứ tư đều hoàn toàn lần theo dấu chỉ của ký ức. Đó là một cuộc hoán cải ngang qua ký ức.
Cần hoán cải khỏi sự không nhất quán
Cuộc khủng hoảng này ảnh hưởng đến tất cả chúng ta: dù giàu hay nghèo. Đây là một lời kêu gọi sự chú ý chống lại thói đạo đức giả. Tôi lo ngại về sự giả hình của một số nhân vật chính trị khi họ nói rằng họ muốn đối mặt với khủng hoảng, khi họ nói về sự nghèo đói trên thế giới, và trong khi nói về những điều đó, họ cũng đồng thời sản xuất vũ khí hàng loạt. Đã đến lúc phải hoán cải những giả hình này thành những hành động. Đây là thời gian cho sự nhất quán, hoặc là chúng ta nhất quán hoặc chúng ta mất tất cả.
Anh hỏi tôi về việc hoán cải. Thực ra, mỗi cuộc khủng hoảng là một mối nguy hiểm, nhưng đồng thời nó cũng là một cơ hội. Và đó là cơ hội để thoát khỏi nguy hiểm. Hôm nay tôi tin rằng chúng ta phải làm chậm lại một nhịp nhất định về việc tiêu dùng và việc sản xuất (Laudato si ‘, số 191). Ta phải học cách hiểu và chiêm ngắm thiên nhiên để kết nối lại với môi trường thực tế của chúng ta. Đây là một cơ hội hoán cải.
Vâng, tôi có thấy những dấu hiệu bắt đầu của một nền kinh tế ít thanh khoản và thêm nhân văn. Nhưng chúng ta không được phép quên nó một khi tình huống hiện tại qua đi, chúng ta không được đem nó bỏ vào kho lưu trữ và quay trở lại như trước kia. Đây là lúc để tiến bước, để chuyển từ việc sử dụng và lạm dụng thiên nhiên sang việc chiêm ngắm nó, suy ngẫm về nó. Con người chúng ta đã đánh mất đi chiều kích chiêm niệm, và đây là lúc để chúng ta tìm lại và phục hồi nó.
Nhìn nhận về người nghèo
Và nhắc đến việc suy ngẫm, tôi muốn dừng lại ở một điểm, đó là: đã đến lúc nhìn nhận về người nghèo. Chúa Giêsu nói với chúng ta rằng “những người nghèo, anh em luôn có ở bên mình”. Và thật sự là như thế. Đó là một thực tế mà chúng ta không thể chối bỏ. Họ bị che giấu đi, vì nghèo đói là xấu hổ. Ở Roma, trong lúc đi kiểm dịch, một anh cảnh sát nói với một người đàn ông rằng: “Anh không được ở trên đường phố, hãy về nhà của anh”. Và câu trả lời là: “Tôi không có nhà. Tôi sống trên hè phố”. Khám phá biết bao nhiêu người bị gạt sang bên lề… và bởi lẽ sự nghèo đói khiến ta xấu hổ nên ta không nhìn vào nó. Họ ở đó, chúng ta lướt qua họ, nhưng ta không nhìn họ. Họ chỉ như một phần của cảnh quan, như những vật thể. Thánh Têrêsa Cacutta đã nhìn thấy họ và đã quyết định dấn thân vào hành trình biến đổi.
Nhìn thấy những người nghèo có nghĩa là trao trả lại cho họ nhân phẩm. Họ không phải những vật phẩm, không phải những phế thải, họ là những nhân vị. Chúng ta không thể xây dựng một chính sách hỗ trợ như dành cho các động vật bị bỏ rơi. Ngược lại, rất nhiều lần chúng ta đối xử với người nghèo như với những con vật bị bỏ rơi. Chúng ta không thể xây dựng một chính sách mang tính hỗ trợ và cục bộ.
Cho phép tôi được đưa ra một lời khuyên: đã đến lúc đi sâu vào lòng đất. Đó là một cuốn tiểu thuyết rất nổi tiếng của nhà văn người Nga Dostoevslij, Ký ức về lòng đất. Và có một cuốn khác ngắn hơn, đó là Hồi ức về một ngôi nhà chết chóc, nó kể về những người quản thúc của một bệnh viện nhà tù, họ đối xử với những tù nhân nghèo như những đồ vật. Khi nhìn thấy họ đối xử như vậy đối với một tù nhân vừa mới chết, một tù nhân khác đã hét lên: “Đủ rồi! Anh ta cũng có một người mẹ!”. Chúng ta phải nhắc lại điều này rất nhiều lần rằng: người nghèo nào cũng có một người mẹ, người đã dưỡng dục anh ta bằng tình yêu. Chúng ta không biết điều gì sẽ xảy ra trong cuộc sống. Nhưng nó giúp ta suy nghĩ về tình thương mà anh ta nhận được, về những kỳ vọng của một người mẹ.
Chúng ta làm suy yếu những người nghèo, chúng ta tước đi cái quyền mơ về mẹ của họ. Họ chẳng được biết thế nào là tình thương, rất nhiều trong số họ nghiện ngập. Nhìn thấy họ như thế sẽ giúp chúng ta khám phá ra lòng trắc ẩn, chính lòng trắc ẩn này là chiều kích kết nối chúng ta với Thiên Chúa và với tha nhân.
Đi sâu vào lòng đất và chuyển từ một xã hội sống ảo hóa, sống hời hợt sang nhập thể vào những xác thịt đau khổ của những người nghèo. Đây là một sự hoán cải cần phải có, vì nếu chúng ta không bắt đầu từ đấy thì sẽ chẳng có bất kỳ sự hoán cải nào xảy ra trong tương lai.
Những anh hùng hiện nay
Tôi nghĩ đến những vị thánh kề cận trong thời điểm khó khăn này. Họ là những anh hùng! Các bác sĩ, những tình nguyện viên, những nữ tu, linh mục, những nhân viên họ thực hiện những trách vụ của họ để cho xã hội này hoạt động. Có biết bao nhiêu bác sĩ và y tá đã ra đi! Bao nhiêu linh mục, bao nhiêu nữ tu đã chết! Vì phục vụ, trong phục vụ.
Tôi nhớ đến một câu của người thợ may trong cuốn “I promessi sposi”, theo tôi thì đây là một trong những nhân vật đơn sơ và kiên định nhất. Anh ta nói: “Tôi chẳng bao giờ thấy Chúa bắt đầu làm một phép lạ mà không hoàn thành nó”. Nếu chúng ta nhận biết rằng ngang qua những vị thánh kề cận bên mình, những nam nữ anh hùng này, nếu chúng ta biết theo gương họ, phép lạ này sẽ hoàn thành, một kết thúc có hậu cho tất cả. Thiên Chúa không bao giờ bỏ dở dang những gì Người làm. Chỉ có chúng ta, chúng ta để dở những việc mình làm và bỏ đi.
Những gì chúng ta đang trải qua là một cơ hội để chúng ta hoán cải và biến đổi. Chúng ta có cơ hội để làm điều đó. Vì thế, chúng ta hãy nhận lấy trách nhiệm và tiến về phía trước.
2020
ĐTC Phanxicô: Trong khủng hoảng cần kiên vững trong đức tin
Thời điểm khủng hoảng là lúc để chọn lựa các quyết định. Chúa Giêsu đã yêu cầu các tông đồ phải thực hiện như thế khi các ông đứng trước điều phải chọn lựa: theo những người khác hoặc ở lại với Thầy.
“Thời điểm khủng hoảng là lúc để chọn lựa các quyết định. Chúa Giêsu đã yêu cầu các tông đồ phải thực hiện như thế khi các ông đứng trước điều phải chọn lựa: theo những người khác hoặc ở lại với Thầy”.
Đức Thánh Cha đã nhấn mạnh như trên trong Thánh lễ sáng thứ Bảy tại Nhà nguyện Thánh Marta. Theo Đức Thánh Cha suy niệm các bài đọc của phụng vụ thứ Bảy tuần III Phục Sinh giúp chúng ta sống ý nghĩa cuộc khủng hoảng mà chúng ta đang phải ứng phó.
Với những ý hướng này, Đức Thánh Cha bắt đầu Thánh lễ với việc mời gọi mọi người cầu nguyện cho các vị đứng đầu quốc gia, các chính phủ, những người có trách nhiệm chăm sóc người dân trong giai đoạn khủng hoảng. Trong thời điểm khó khăn này, công việc của họ không dễ dàng, xin Chúa trợ giúp và ban sức mạnh cho họ. Và khi giữa họ có những khác biệt xin cho họ hiểu rằng trong những lúc khủng hoàng họ cần phải hiệp nhất vì ích lợi của mọi người; bởi vì theo Đức Thánh Cha hiệp nhất thì vượt trên xung đột.
Ngoài ý chỉ cầu nguyện cho các nhà lãnh đạo, Đức Thánh Cha còn mời mọi người hiệp thông với 300 nhóm cầu nguyện. Các nhóm này có tên gọi theo tiếng Tây Ban Nha là Madrugadores, có nghĩa là những người dậy sớm cầu nguyện. 300 nhóm này đã hẹn nhau vào ngày Thứ Bảy 02/5 cùng nhau dậy sớm cầu nguyện cho đại dịch mau chấm dứt.
Trong bài giảng Thánh lễ, Đức Thánh Cha suy niệm và giải thích hai bài đọc theo ngày: Bài đọc I nói về cuộc sống của cộng đoàn Kitô hữu tiên khởi và Bài Tin Mừng nói về lời tuyên xưng của Thánh Phêrô. Đức Thánh Cha nói: “Hồi ấy, Hội Thánh được bình an, được xây dựng vững chắc và sống trong niềm kính sợ Chúa, và ngày một thêm đông, nhờ Thánh Thần nâng đỡ. Nhưng cũng có những cuộc bách hại và khó khăn và các tín hữu phải sống trong khủng hoảng”.
Trước lời giảng dạy của Chúa Giêsu “Tôi là bánh hằng sống từ trời xuống. Ai ăn bánh này sẽ được sống muôn đời”. Nghe những lời này nhiều môn đệ nói “Lời này chướng tai quá! Ai mà nghe nổi?” Chúa Giêsu biết các môn đệ đang xầm xì vấn đề ấy. Đức Thánh Cha giải thích: các môn đệ chứ không phải các tông đồ xầm xì. Chúa biết ai tin và ai không tin. Dừng lại ở điểm này, Đức Thánh Cha nhắc lại điều đã nói trong những ngày trước đây: “Đây là lý do tại sao Chúa Cha chính là Đấng lôi kéo chúng ta đến với Chúa Giêsu”.
Đức Thánh Cha tiếp tục: “Một số môn đệ rút lui, vì họ cảm thấy những điều này xa lạ. Giống như các môn đệ Emmau chạy trốn, hoặc những người lính canh mộ, họ đã thấy sự thật nhưng lại thích bán điều bí mật của mình”.
Liên hệ đến thực tế cuộc khủng hoảng, Đức Thánh Cha giải thích: “Thời điểm khủng hoảng là lúc để chọn lựa các quyết định. Hiện nay, tất cả chúng ta đều nghĩ đến cuộc khủng hoảng: khủng hoảng gia đình, xã hội, công việc; đại dịch là một thời khắc khủng hoảng xã hội”.
Đức Thánh Cha đặt câu hỏi: “Vào thời Chúa Giêsu, đứng trước khủng hoảng các môn đệ đã làm gì? Nhiều người đã rút lui. Nhưng đối với nhóm Mười Hai, Chúa Giêsu yêu cầu các ông đưa ra một quyết định và Thánh Phêrô lần thứ hai tuyên xưng đức tin: ‘Thưa Thầy, bỏ Thầy thì chúng con biết đến với ai? Thầy mới có những lời đem lại sự sống đời đời. Phần chúng con, chúng con đã tin và nhận biết rằng chính Thầy là Đấng Thánh của Thiên Chúa’. Thánh Phêrô tuyên xưng thay cho nhóm Mười Hai. Điều này giúp chúng ta sống những thời khắc của khủng hoảng”.
Để minh chứng cho điều vừa khẳng định, Đức Thánh Cha sử dụng một câu nói của người Argentina: “Khi bạn đang cưỡi ngựa và bạn phải băng qua một dòng sông, xin đừng đổi ngựa giữa sông”.
“Trong lúc khủng hoảng, hãy kiên vững trong đức tin. Đây không phải lúc để thay đổi. Thay ngựa, đổi thầy thì dễ nhưng không giải quyết được gì. Đây là lúc cần phải trung kiên, thể hiện lòng trung tín với Chúa, với những gì chúng ta đã thực hiện. Và đây cũng là thời gian để hoán cải bởi vì sự trung tín này sẽ truyền cảm hứng cho chúng ta một số thay đổi cho điều tốt, chứ không phải để thoát ra khỏi điều tốt”.
“Có những lúc bình an và những thời khắc khủng hoảng. Là Kitô hữu, chúng ta phải học cách quản lý cả hai thời điểm này. Một số cha linh hướng nói rằng khoảnh khắc khủng hoảng giống như chúng ta đi qua ngọn lửa để rồi sau đó trở nên mạnh mẽ hơn”.
Như thường lệ, kết thúc bài giảng, Đức Thánh Cha mời gọi mọi người cầu nguyện theo tinh thần của Lời Chúa dạy trong hai Bài đọc: “Xin Chúa ban Thánh Thần cho chúng ta để chúng ta biết chống lại những những cám dỗ trong thời kỳ khủng hoảng, để luôn trung tín với những lời tuyên xưng ban đầu của chúng ta. Và để có niềm hy vọng được sống bình an sau khủng hoảng: Khủng hoảng gia đình, khủng hoảng khu phố, khủng hoảng công việc, khủng hoảng xã hội, và biết bao khủng hoảng khác. Xin Chúa ban cho chúng ta sức mạnh để chúng ta không bán đức tin mà chúng ta đã lãnh nhận”.
Ngọc Yến
2020
Mục tử nhân lành
Ga 10, 11-18
MỤC TỬ NHÂN LÀNH
Gương mặt của Đức Kitô,vị mục tử đích thực đi ngược lại mọi hình thức quyền hành của con người chỉ biết tìm “xén lông” các kẻ khác vì lòng ích kỷ của mình hay vì trách nhiệm sứ vụ mà không quan niệm được như là tận hiến chính mình để phục vụ anh em. Chúa Giêsu tự nhận mình là người mục tử nhân lành, vì người biết các kẻ thuộc về mình và họ cũng biết Người.
Chúa Giêsu là mục tử đích thực và nhân lành, chỉ vì đời sống của Người hội nhập sự nhân lành và chân lý của Thiên Chúa Giao ước. Chỉ có Người muốn điều tốt lành và thánh thiện cho con người. Người đến chỉ vì điều này: ban cho họ sự sống tràn đầy. Thật vậy, đặc tính duy nhất của vị mục tử nhân lành – mà thánh Gioan lập lại 5 lần – là “ban sự sống mình cho đàn chiên”. Người nhân lành vì ban sự sống và “không có gì cao quí hơn để làm chứng cho tình yêu cho bằng trao ban sự sống cho người mình yêu.”
Chúa Giêsu là mục tử chăn dắt và yêu thương đàn chiên của mình. Có một mối tương giao giữa chủ chăn và đàn chiên. Chiên nghe tiếng chủ, và chủ chăn biết con chiên nào sót ngoài đồng. Mênh lệnh của Chúa Cha được Chúa Giêsu thực hành là hiến mạng sống vì đàn chiên, và Chúa Giêsu đã vâng lời đến chết trên thập giá.
Mục tử và đàn chiên trên đồng cỏ là một hình ảnh quen thuộc đối với người Paléttin. Giữa người và chiên có một mối tương quan mật thiết. Ở đây Chúa Giêsu tự ví mình như người mục tử. Mục tử nhân lành khác với người chăn thuê, vì dám hy sinh mạng sống mình cho đoàn chiên, chứ không bỏ chiên mà chạy khi gặp sói dữ. Hội Thánh là đoàn chiên của Ðức Giêsu Kitô. Giữa Ngài và từng con chiên, có mối dây gắn bó. Tôi biết chiên của tôi và chiên của tôi biết tôi, như Cha biết tôi và tôi biết Cha. Ðây là cái biết sâu thẳm, cái biết hai chiều. Chiên không phải là một con vật ngờ nghệch, thụ động.
Chiên là hình ảnh của một ngôi vị tự do. Vị Mục Tử gọi tên từng con bằng giọng quen thuộc. Chiên nghe tiếng của Ngài và đi theo. Như thế giữa Mục Tử và đoàn chiên có sự hiểu biết nhau sâu xa, nhận ra nhau dễ dàng, và một sự trân trọng quý mến nhau đặc biệt.
Sau Phục Sinh, Chúa Giêsu đã giao cho Phêrô sứ mạng chăn dắt và chăm sóc đoàn chiên của Ngài. Sứ mạng này bắt nguồn từ một tình yêu. Yêu mến Ngài dẫn đến yêu mến đoàn chiên Ngài. Chúa Giêsu là Mục Tử tối cao và gương mẫu. Mọi mục tử khác chỉ là phụ tá giúp chăn dắt đoàn chiên của Ngài. Mọi mục tử phải noi gương Ngài, dám chết để cho chiên được sống.
Hình ảnh Chúa Giêsu Mục Tử nhân lành là một trong những hình ảnh lâu đời nhất của Kitô giáo. Hình ảnh này được tìm thấy trong các hang toại đạo, người ta khắc vẽ Chúa Giêsu với vẻ dịu dàng và trìu mến của người chăn chiên, vác chiên trên vai, tìm kiếm con chiên lạc, đưa chiên về với đàn của chúng để cùng chia sẻ một đồng cỏ xanh tươi.
Khi lấy lại hình ảnh người mục tử và tự ví mình như thế, Chúa Giêsu đưa chúng ta về với hình ảnh cổ xưa trong Kinh Thánh, chứng tỏ Thiên Chúa không chỉ là Đấng dẫn dắt dân, hơn thế nữa còn là Đấng trao ban sự sống cho dân, sự sống ấy bắt nguồn từ tình yêu hỗ tương giữa Chúa Cha và Chúa Con, vì trong Người, mệnh lệnh và tự do đồng nhất với nhau : “Ta có quyền thí mạng sống và cũng có quyền lấy lại. Đó là mệnh lệnh Ta đã nhận nơi Cha Ta “(Ga 10, 18).
Chúa Giêsu yêu thương con người bằng một tình yêu thí mạng khi tự ví mình là “mục tử tốt lành”sẵn sàng thí mạng vì đoàn chiên. Người nói thẳng : “Ta là mục tử tốt lành” (Ga 10, 11). Đối với Chúa Giêsu, tất cả là hiện tại, không có gì là quá khứ hay tương lai hết. Điều này đã được nói trong sách Khải Huyền : “Ta là Alpha và Ômêga chính là Ta, Chúa, Thiên Chúa phán, Đấng đang có, đã có, và sẽ đến, Đấng toàn năng!” (Kh 1, 8). Và trong sách Xuất Hành : “Ngươi sẽ nói với con cái Israel thế này: “Ta có” đã sai tôi đến với các người!” (Xh 3, 14).
“Ta là mục tử tốt lành”. Từ “mục tử” có nguồn gốc từ động từ “chăn nuôi”. Chúa Giêsu Kitô nuôi dưỡng chúng ta bằng chính thịt máu mình hằng ngày trong bí tích Mình Thánh. Khi Samuen hỏi Giêsê, cha của Đavít : “Các cậu này tất cả là con trai của ông sao?” Ông đáp: “Còn đứa nhỏ nhất nữa; này nó đang phải chăn cừu!” (1S 16,11). Đavít, một con người bé nhỏ và khiêm nhu, đã chăn sóc đoàn chiên mình như một người mục tử.
Như vậy, mục tử thật thì luôn hết mình vì đàn chiên. Kẻ chăn thuê chỉ lo vun vén cho bản thân. Mục tử thật không nói mà không làm, nhưng đi bước trước để chiên noi theo, hy sinh cho đàn chiên. Kẻ chăn thuê chỉ đến để xén lông chiên. Mục tử thật luôn tìm kiếm nguồn nước và đồng cỏ xanh tươi cho đàn chiên no đầy. Kẻ chăn thuê chỉ tìm kiếm hạnh phúc cho chính bản thân mình. Họ sống hưởng thụ, lười biếng và thiếu trách nhiệm đến sự sống còn của đàn chiên.
Chúa Giêsu đưa ra khuôn mẫu mục tử nhân lành là chính Chúa. Cả cuộc đời không tìm an nhàn cho bản thân. Người rong ruổi gió bụi để tìm từng con chiên lạc đưa về ràn. Vì sự sống của đàn chiên, Người sẵn sàng đối phó với sự dữ để bảo vệ đàn chiên. Người đã chấp nhận cái chết để đàn chiên được sống, bởi như Người từng nói: “Ta đến để chúng được sống và được sống một cách dồi dào”. Thực hiện mục đích ấy, Người đã phải trả bằng một giá rất đắt, bằng chính mạng sống của mình.
Người “mục tử nhân lành hy sinh mạng sống mình vì đàn chiên”. Những lời này tố cáo chúng ta ngày nay có không ít những mục tử giả hiệu,những kẻ bỏ rơi đàn chiên để chỉ lo cho bản thân. Như vậy họ là những mục tử dối trá họ đem tình yêu Thiên Chúa ra làm bức bình phong để lừa gạt, họ đã đẩy những con chiên hiền lành xuống vực thẳm khôn lường.
Qua hình ảnh này, Chúa Giêsu muốn nói với chúng ta rằng, chỉ có một cung cách phục vụ duy nhất đó là phục vụ như Người đã phục vụ, nghĩa là sẵn sàng hiến thân cho và vì tha nhân mà thôi. Ai sống và phục vụ như Chúa Giêsu thì kẻ ấy thuộc về Người, còn ai sống ngược lại cung cách phục vụ của Người thì kẻ ấy chỉ là quân trộm cướp mà thôi.
