2020
Có phải sách Khải Huyền không được đọc trong các Thánh lễ?
Dưới đây là trả lời của cha Cido Pereia dành cho độc giả Regina Célia trên tuần báo São Paulo thuộc tổng giáo phận Brasil.
“Regina thân mến, tôi nghĩ rằng bạn không nhận ra sách Khải huyền đã được dùng, và thường dùng trong thánh lễ. Ví dụ, Khải huyền đã được dùng trong các bài đọc Năm C ở tuần thứ 4, 5 và 6 mùa Phục sinh, và những ngày trong tuần 33 và 34 mùa Thường niên. Các bài đọc Khải huyền cũng được dùng trong các Thánh lễ Cung hiến nhà thờ, lễ về Đức Mẹ, các Thánh Tử đạo và các Thánh. Nó cũng thường được dùng trong lễ cầu cho người đã qua đời.
Đó là một cuốn sách rất đặc biệt. Sách được thánh Gioan viết trong giai đoạn đau khổ lớn lao vì những cuộc bách hại đang nhắm vào Giáo hội. Thánh Gioan đã viết bằng một ngôn ngữ đầy biểu tượng để duy chỉ các Kitô hữu mới hiểu được nó. Cuốn sách miêu tả cách tượng trưng cuộc đấu tranh của quyền lực sự dữ chống lại các môn đệ của Chúa Giêsu, cho đến khi Người trở lại. Cuối cùng họ sẽ chiến thắng và thành Giêrusalem trên trời cũng sẽ xuất hiện.
Tôi nghĩ về những đau khổ của các Kitô hữu tiên khởi, họ phải đối diện với những cuộc bách hại và hiểu lầm. Họ bị cám dỗ để nản lòng, từ bỏ niềm tin vào Chúa Giêsu. Khải huyền là một cuốn sách tràn đầy hy vọng. Qua sách này, thánh Gioan hô lên rằng chỉ những ai kiên trì đến cùng mới được cứu rỗi. Vì thế, cuốn sách diễn tả bữa đại tiệc sau cùng, khi Chúa Giêsu là tất cả trong mọi sự.
Sách Khải Huyền được chia thành hai phần chính: phần đầu tiên đề cập đến kinh nghiệm hiện tại nơi các cộng đoàn Kitô giáo. Giáo hội phải đối mặt với nhiều cuộc đấu tranh, nhưng trong tương lai, Giáo hội và Chúa Kitô sẽ chiến thắng. Vì vậy, tôi nhắc lại, Khải huyền là một cuốn sách đầy tràn hy vọng”.
Xin Thiên Chúa chúc lành cho bạn và gia đình.
- Võ Tá Hoàngchuyển ngữ
2020
Một Suy Tư – Covid-19: Thiên Chúa Ở Đâu?
Một Suy Tư – Covid-19: Thiên Chúa Ở Đâu?
Suy niệm của Đức Hồng Y Fernando Filoni, Tổng Thủ Lãnh (Grand Master) Dòng Hiệp Sĩ Mộ Thánh Giêrusalem (Equestrian Order of the Holy Sepulchre of Jerusalem).
Đại dịch này (Covid-19) đã thay đổi kế hoạch sống của chúng ta và đã lay chuyển mọi điều chắc chắn được xây dựng một cách có hệ thống và khoa học của chúng ta, lay chuyển thế giới với những cảnh chết chóc, nhiễm bệnh, bị buộc cách ly, các mối tương quan đổ vỡ, làm việc trong khủng hoảng, và nó cho thấy những hạn chế của các thuật toán gần như không thể sai lầm của chúng ta, chúng ta tự hỏi: Làm thế nào mà nó có thể vượt khỏi tầm tay? Có chuyện gì thế? Chúng ta phải làm gì hay không làm gì? Việc này sẽ kéo dài bao lâu? Bao nhiêu người sẽ chết? Sợ hãi, thù oán, đau đớn, hy vọng đều được thể hiện; chúng ta thực hiện các nghi thức, nghĩa cử hào phóng; chúng ta bày tỏ nhu cầu của mình, chúng ta tiếp tục quan tâm, chúng ta chôn cất, chúng ta hỏa táng; Nhưng trong tất cả những điều này, Thiên Chúa ở đâu?
Dường như những lời cầu nguyện của chúng ta không có câu trả lời. Chúa có lắng nghe không? Và tại sao tất cả điều này lại xảy ra? Có phải chính sự kém cỏi của chúng ta đã không cho chúng ta tìm ra câu trả lời?
Chúng ta đang thiếu “viên đá gốc” giúp làm xong chế tác, làm xong mái vòm của tòa nhà, vòng cung của chiếc cầu, viên đá mà không nó mọi thứ sẽ sụp đổ và mọi thứ đều vô dụng. Thiên Chúa ở đâu? Cũng câu hỏi mật thiết và sâu xa này được đặt lại.
“Mea culpa” (ND: kinh cáo mình) của chúng ta có phải là một lễ nghi, một thực hành do hoàn cảnh không thể kiểm soát không? Đó là đáp số hay hệ quả do sai lầm của chúng ta? Câu hỏi “Thiên Chúa ở đâu?” là thừa thãi hay vô dụng không? Và Thiên Chúa có liên quan gì đến đại dịch không?
Do đó, có ý nghĩa gì không khi chúng ta tự hỏi: Thiên Chúa ở đâu? Chúng ta có câu trả lời nào rồi? Mà có câu trả lời không? Còn các thuật toán của chúng ta thì sao? Các thuật toán trì hoãn vấn đề này cho các thuật toán khác.
Tính hữu hạn làm chúng ta không trả lời được, cuộc sống tự nó là thế. Đây là trường hợp ông Job trong Kinh thánh. Chỉ có thể trả lời cho những câu hỏi cụ thể. Nếu đây là trường hợp ông Job, thì tất cả những gì còn lại cho chúng ta là một khoảng trống không có câu trả lời.
Trừ khi chúng ta ngước mắt lên, không phải chỉ để tìm câu trả lời cho một vấn nạn, nhưng là để biết rằng: Nếu không có Thiên Chúa hoặc nếu Ngài không có vai trò nào trong cuộc khủng hoảng này, thì phải chăng mọi thứ bị đóng lại trong dòng thời gian? Nếu có Chúa, thì tôi nhận ra rằng tôi không cần câu trả lời, mà cần phải quy phục.
Lời nói của Đức Ki-tô trên thập giá “Mọi sự đã hoàn tất!” là một “quy phục” (“Rồi Người gục đầu xuống và trao Thần Khí.” [Gioan 19:30]) cho Đức Chúa Cha, Đấng mà Ngài chắc chắn khẩn khoản nài xin mysterium vitae (ND: mầu nhiệm sự sống), là điều đã đem Ngài đến trần gian như một phần sống động của nó.
Tình phụ tử này (của Thiên Chúa) không loại trừ những giới hạn mà chính Thiên Chúa áp đặt lên ‘quyền làm cha’ của Ngài.
Như thế, câu hỏi trả lại cho chúng ta. Không phải để chất vấn bản thân và cứ đi tìm ý nghĩa của một câu trả lời không đáng tin cậy, nhưng để có ý thức về một thái độ chống lại tất cả các cám dỗ phụ thêm: Hoặc sống như thể Thiên Chúa không tồn tại, hoặc coi mọi thứ như là hình phạt của Thiên Chúa để sám hối. Do đó, tất cả những gì còn lại là “quy phục” tất cả mọi sự lại cho Thiên Chúa, chấp nhận rằng ngày nay, trong “thời đại của con người” này, không nên loại bỏ sự quy phục tín thác: “Lạy Cha, con xin phó thác hồn con trong tay Cha.” Đây là nơi mọi sự kết thúc: “Nói xong, Người tắt thở” (Luca 23, 46).
Tái lập bình an cho linh hồn là trở về với sự yên tĩnh ban đầu nơi mọi thứ bắt đầu: cái “không có gì” hay “Thiên Chúa”. Nếu không có gì phát sinh từ hư không, thì chỉ mình Thiên Chúa còn lại đó. Có một nơi dành cho Thiên Chúa, nhưng nơi ấy được đựng trong mysterium vitae.
Tuy nhiên, những điều tốt đẹp đã được thực hiện thì vẫn còn đó. Giá trị của nó không thể tiêu tan. Điều tốt lành thuộc về chúng ta và điều này làm nên một ý nghĩa; giá trị ấy nằm trong bàn tay Thiên Chúa, bởi nó mang tính đạo đức và tâm linh. Điều tốt lành không thể bị dập tắt.
Trong ngôi mộ trống của Chúa Kitô, có sự trống không của những kỳ vọng của chúng ta, không phải là sự trống không của Thiên Chúa. Trong im lặng, có sự im lặng đang mong chờ câu trả lời, không phải sự im lặng của Thiên Chúa.
Mong chờ Phục sinh!
ĐHY Fernando Filoni
Chuyển ngữ: Phê-rô Phạm Văn Trung
2020
Đối với một số các giám chức công giáo, đại dịch là “cớ” để hạn chế các quyền tự do
lemonde.fr, Cécile Chambraud, 2020-05-09
Ngày thứ năm 8 tháng 5, một số hồng y, tổng giám mục và giám mục danh dự đã ký và công bố một văn bản đáng kinh ngạc do cựu sứ thần Tòa Thánh Carlo Maria Vigano đưa ra.
Dựa vào đại dịch Covid-19, thuyết âm mưu đã chi phối một số giám chức cao cấp của Giáo hội công giáo không? Nhiều hồng y, giám mục danh dự đã ký một bản văn nặng mùi thuyết âm mưu về chính sách sức khỏe của một số nước đưa ra trong các tuần vừa qua. Đôi khi, họ đưa ra các tranh luận lưu hành nhiều trên các trang web dân túy hoặc theo thuyết âm mưu. Được trình bày như một kiến nghị, chiều thứ năm 7 tháng 5 một trang web được lập ra với mục đích này. Lời kêu gọi này của “những người có thiện tâm” đã tố cáo các quốc gia lợi dụng đại dịch để làm “cớ” hạn chế “một cách không đồng điệu và không biện minh được các quyền tự do căn bản kể cả việc tự do thờ phượng” mà theo họ, “các nghi ngờ ngày càng gia tăng về tác động lây nhiễm, sự nguy hiểm và sức đề kháng virus”.
Bản văn khẳng định: “Chúng tôi có lý do để tin rằng (…) có những thế lực mạnh muốn tạo hoảng loạn trong dân chúng với mục đích duy nhất là áp đặt vĩnh viễn các hình thức giới hạn tự do, kiểm soát con người (…), một mở đầu đáng lo ngại cho việc thành lập một guồng máy thế giới ngoài mọi kiểm soát.” Các giám chức ký vào bản văn yêu cầu tự do cử hành thánh lễ theo ý của họ. Họ khẳng định: “Nhà nước không có quyền can thiệp vì bất cứ lý do nào trong chủ quyền của Giáo hội” và do đó là cấm hoặc hạn chế việc thờ phượng công cộng.
“Chọn phe: với Chúa Kitô hay chống Chúa Kitô”
Tin chắc “chống kẻ thù vô hình” thì lợi hơn là chống virus, họ kêu gọi “chọn phe: với Chúa Kitô hay chống Chúa Kitô.” Các tác giả đồng ký tên khẳng định: “Chúng ta không cho phép bao nhiêu thế kỷ của nền văn minh kitô giáo bị xóa sổ lấy cớ vì virus, để thành lập một chế độ công nghệ chuyên chế hận thù.” Họ kết thúc bản văn: “Xin Đức Mẹ Maria, Đấng phù trợ tín hữu kitô, Đấng đã nghiền nát đầu con rắn ngày xưa, xin Mẹ làm nhụt chí và chuyển hướng các kế hoạch của con cái bóng tối.”
Tác giả bản văn đáng kinh ngạc này không ai khác là Tổng Giám mục Carlo Maria Vigano, cựu sứ thần Tòa Thánh, người mà năm 2018 đã viết thư yêu cầu Đức Phanxicô từ chức, tố cáo ngài đã bao che hồng y người Mỹ Theodore McCarrick trong các vụ sách nhiễu tình dục và tấn công tình dục trên trẻ vị thành niên. Tiếp theo là hồng y người Đức Gerhard Müller, người đứng đầu Bộ Tín lý (từ năm 2012 đến năm 2017), bộ có nhiệm vụ chống lại các lệch lạc, nhất là lệch lạc về giáo điều trong Giáo hội công giáo. Giám mục danh dự giáo phận Hong Kong Giuse Trần Nhật Quân, người chống đến cùng chính sách hợp tác với Bắc Kinh của Vatican, là những người ký vào bản văn cùng với các đại diện giáo sĩ và giáo dân, cũng như các nhà khoa học, bác sĩ, nhà báo, luật sư hoặc lãnh đạo hiệp hội, những người có điểm chung là có khuynh hướng bảo thủ.
Ngoài ra còn có một chuyện rắc rối liên hệ đến hồng y người Guinê Robert Sarah, Bộ trưởng bộ Phụng vụ và là nhân vật của phía bảo thủ, mới đầu được xem là người ký vào bản kiến nghị. Nhưng ngay sau khi bản kiến nghị vừa công bố, hồng y Sarah xác nhận trên tài khoản Twitter của ngài, ngài quyết định không ký vào bản văn, ngài hoàn toàn chấp nhận sự lựa chọn của mình. Chính xác, ngài “xin các tác giả bản kiến nghị (…) không để tên ngài” vì “một hồng y giám chức của giáo triều phải tuân giữ một số thận trọng nhất định trong các vấn đề chính trị.” Ngài không chỉ trích nội dung văn bản, nhưng ngài “chia sẻ với tư cách cá nhân một số câu hỏi hoặc lo âu về các hạn chế đối với các quyền tự do căn bản được đưa ra trong bản kiến nghị”. Vào ngày thứ sáu 8 tháng 5, tổng giám mục Carlo Maria Vigano khẳng định hồng y đã ký nhưng giám mục tha thứ cho hồng y Sarah về “sai lầm nghiêm trọng chống sự thật” do “yếu đuối con người”.
Giuse Nguyễn Tùng Lâm dịch
