2020
Giáo hội đồng hành với người trẻ
- Đạo bất viễn nhân
Câu nói này của người xưa nay được áp dụng thật đúng cho tâm tình và thái độ của Giáo hội Chúa Kitô trong thế giới hôm nay. Như chúng ta đều biết lịch sử là một tiến trình đi tới: Đi tới sự viên mãn, sự thành toàn… Và trong tiến trình này, Giáo hội Công giáo như là thành viên, như một người bạn đường đồng hành với nhân loại, đồng thời Giáo hội cũng hiện diện như một người hướng dẫn để dẫn đưa nhân loại đến bến đến bờ trong ngày chung cuộc của đất trời.
Trong hành trình này, Giáo hội Công giáo cùng chia sẻ, cùng thao thức cũng như góp phần bàn thảo và có những đề xuất, hướng dẫn để mang lại hạnh phúc và làm thăng tiến cuộc sống con người hôm nay. Bên cạnh đó – bằng nhiều hình thức – Giáo hội cũng lên tiếng để góp phần ngăn chặn, phòng ngừa những nguy cơ, những tác động phương hại đến cuộc sống an mạnh và hạnh phúc của nhân loại hôm nay.
Khái niệm “đạo bất viễn nhân” – một lần nữa – lại được làm sáng tỏ nơi Giáo hội Công giáo trong những năm gần đây với những hoạt động, những văn kiện hướng dẫn về cuộc sống dân sinh cho nhân loại; đặc biệt trong đời sống hôn nhân và gia đình cũng như sự gần gũi và đồng hành của Giáo hội với các bạn trẻ trong thời đại hôm nay.
Cách riêng tại Giáo hội Việt Nam, chúng ta vừa trải qua 3 năm MỤC VỤ VỀ GIA ĐÌNH trong đó, Giáo hội bày tỏ sự quan tâm tha thiết của mình với các gia đình, với những người sắp bước vào đời sống gia đình; những người đang sống trong gia đình và với những người đang phải đối diện với những cảnh huống khó khăn trong từng gia đình để có thể hướng dẫn, đồng hành, chia sẻ và góp phần tháo gỡ những vướng mắc, khó khăn hầu giúp cho mọi người được an vui và hạnh phúc trong chính gia đình của mình.
Và cũng vào thời điểm này, về phía Giáo hội hoàn vũ, chúng ta thấy “Các kitô hữu trẻ luôn là mối quan tâm đặc biệt của toàn thể Giáo hội.” Để thể hiện mối quan tâm này, Thượng Hội đồng Giám mục lần thứ XV họp tại Rôma vào tháng 10 năm 2018 đã bàn về chủ đề “Giới trẻ, đức tin và việc phân định ơn gọi”. Từ những kinh nghiệm, suy tư và đề nghị trong Thượng Hội đồng, Đức Thánh Cha Phanxicô đã ban hành Tông huấn “Chúa Kitô đang sống” (Christus vivit)[1].
Trong tâm tình liên đới và hiệp thông với Giáo hội hoàn vũ, các Giám mục Việt Nam trong Hội nghị thường niên vừa qua vào tháng 10/2019 tại Trung Tâm Mục Vụ Giáo phận Hải Phòng cũng đã chọn người trẻ làm mục tiêu cho chương trình mục vụ của mình. Cách cụ thể là theo Thư Chung 2019, các Giám mục Việt nam đã viết: “Chúng tôi đề nghị Chương trình Mục vụ Giới trẻ 3 năm (2020 – 2022) với các chủ đề sau:
– 2020: Đồng hành với người trẻ hướng tới sự trưởng thành toàn diện.
– 2021: Đồng hành với người trẻ trong đời sống gia đình.
– 2022: Đồng hành với người trẻ trong đời sống Giáo hội và xã hội”[2].
Với những quan tâm, những chương trình, những hành động cụ thể đã được triển khai trong nhiều năm liền… Chúng ta thấy Giáo hội hoàn vũ nói chung và cách riêng là Giáo hội Việt Nam đã gắn liền với cuộc sống, đã chia sẻ những bận tâm và cùng chung chia một niềm hy vọng vào một tương lai tươi sáng cùng với mọi người. Đạo không phải chỉ là con đường để đi lên trời, nhưng Đạo còn là cuộc sống, là sự đồng hành, là sự chung chia vui buồn của kiếp nhân sinh để con người nhờ Đạo mà tìm được hạnh phúc cho cuộc đời mình và nhờ Đạo mà biết lên đường tiến về cuộc sống mai hậu trong Nước Chúa.
- Giáo hội đồng hành với người trẻ
Đây là tiêu đề của bài viết này và cũng là ý tưởng chủ đạo để người viết cùng chia sẻ một vài suy nghĩ và cảm nghiệm với bạn đọc khi chúng ta cùng đọc lại Thư Chung Hội đồng Giám mục Việt Nam 2019 viết cho người trẻ dưới sự soi sáng của Tông Huấn “Chúa Kitô đang sống” (Christus vivit).
- Giới trẻ: niềm hy vọng cho gia đình, cho Giáo hội và xã hội
Mặc dầu cũng còn nhiều khiếm khuyết, một vài vết xám đen nơi bức tranh mà những người trẻ đang họa lại trong thế giới và trong xã hội hôm nay mà báo chí có một đôi lần đã phản ánh đưa tin, nhưng Giáo hội hôm nay – mà các Giám mục (thế giới và Việt Nam) – đã có một cái nhìn rất tích cực và lạc quan về người trẻ. Giáo hội vẫn xác định: “Tuổi trẻ còn là một phúc lành cho Giáo hội và thế giới”[3]; “người trẻ không chỉ là đối tượng phục vụ của Giáo hội, mà còn là chủ thể phản ảnh Đức Giêsu Kitô giữa lòng nhân thế; không chỉ là tương lai mà còn là hiện tại của thế giới, họ đã và đang góp phần làm phong phú thế giới”[4].
Giáo hội khẳng định rằng nhiều người trẻ hôm nay đang ướp hương thơm để chữa lành nhiều vết thương cho thế giới bằng sự thánh thiện của mình, các bạn đang bày tỏ sự thánh thiện qua đời sống yêu thương bác ái mỗi ngày trong đời sống gia đình và xã hội. Các bạn bảo vệ môi trường, các bạn có nhiều hình thức dấn thân cách cụ thể để Phúc âm hóa xã hội và thế giới[5].
Để có được điều này nơi những người trẻ thì gia đình là yếu tố quan trọng để giáo dục và đào tạo nên những người trẻ tích cực và hữu ích cho xã hội và Giáo hội như các Giám mục đã nhận định “gia đình là trường học đầu tiên”[6] của mỗi người.
Nói về gia đình, và đặc biệt là các gia đình Công giáo truyền thống có một đời sống đạo chuẩn mực trong cách sống và có sự quan tâm sâu sát trong việc giáo dục con cái của mình về đời sống đức tin và xã hội mà trong phần đầu của Thư Chung 1019, các Giám mục Việt Nam cũng bày tỏ sự hài lòng nơi các gia đình Công giáo Việt Nam. Tuy nhiên, phải chân nhận rằng mô hình gia đình truyền thống của Việt Nam chúng ta hôm nay đang bị lung lay và dần dần thay đổi do làm ăn kinh tế, do sự phát triển các đô thị, do hòa nhập với thế giới đại đồng… Thế nhưng trong đại bộ phận của người Việt Nam nhất là các bạn trẻ vẫn đang “cố gắng chống chọi” với những điều thay đổi vừa nêu để gìn giữ được giềng mối với đại gia đình của mỗi người: Lễ Tết, giỗ chạp, họp mặt đồng hương, ngày truyền thống gia đình, gia tộc. Chính nhờ giềng mối này mà chúng ta vẫn có những thế hệ trẻ vừa biết sáng tạo, biết cởi mở vươn ra với thế giới; nhưng đồng thời cũng là những con người biết nặng tình với quê hương, thiết tha với dòng tộc gia đình và luôn biết sống đức tin tôn giáo cách tích cực trong thời đại hôm nay[7].
Chúng ta vẫn biết, người trẻ là tương lai của xã hội và của Giáo hội. Và (nếu thật) các người trẻ hôm nay đang tích cực sống đúng với những điều mà chúng ta vừa nhận định ở phần trên thì quả thật – nói theo kiểu của Đức Giáo hoàng Phanxicô trong Tông huấn “Chúa Kitô đang sống” – đây là một phúc lành cho Giáo hội và cho xã hội chúng ta. Như thế chúng ta có quyền tin tưởng, tự hào và đặt nhiều niềm hy vọng vào những người trẻ hôm nay.
- Giới trẻ hôm nay đang sống
Chúng ta vẫn biết là trong điều kiện bình thường thì mọi vật – mọi người đều phát triển hài hòa, ổn định và ngày càng vươn cao. Thế nhưng khi có thay đổi, biến động thì mọi chuyện sẽ bị xáo trộn và mất đi sự ổn định hài hòa… Và những người trẻ của chúng ta hôm nay cũng đang sống trong bầu khí thay đổi và có nhiều biến động.
Khởi đi từ sự phát triển công nghệ, cũng như sự hòa nhập vào làng toàn cầu, rồi đến việc giao thoa văn hóa giữa các nước và các dân tộc, vấn đề phát triển kinh tế… Tất cả những yếu tố này, và còn nhiều điều khác nữa đang diễn ra trong cuộc sống đã gây nên sự xáo trộn và mất ổn định cho xã hội, cho các gia đình và từng cá nhân trong thời đại hôm nay. Và đối tượng trực tiếp chịu tác động của những yếu tố này là các người trẻ.
Để có thể tồn tại và vươn lên trong hoàn cảnh sống mới của xã hội, các người trẻ hôm nay phải biết tự đổi mới: Đổi mới cách nghĩ, đổi mới cuộc sống, đổi mới tương quan… Và hệ quả chúng ta thấy là làn sóng di dân của các bạn trẻ “bỏ quê lên tỉnh” đi đến các thành phố lớn để làm việc; mô hình đại gia đình tam tứ đại đồng đường xưa kia được thay thế bằng các gia đình hạt nhân. Bầu khí thân thương, êm đềm, ổn định của lũy tre làng nơi vùng quê nay được thay thế bằng sự xô bồ, chụp giựt, hụt hẫng, chơi vơi nơi phố thị…
Các thành phố lớn thì chen chúc khi đi, chật chội khi ở; trong khi đó ở làng quê thì thưa thớt và vắng bóng thanh niên.
Những nhận xét vừa nêu ở phần trên cũng trùng khớp với những nhận định của các nhà xã hội học đương đại khi nói về giới trẻ hôm nay: “…Điều đó bắt buộc con người trong xã hội hôm nay, nhất là các thanh niên những người chịu tác động nhiều nhất, phải tự động điều chỉnh bản thân và không ngừng tìm tòi, thay đổi để tìm ra một căn tính cho chính bản thân mình”[8]
Và trong hoàn cảnh mới này, không ít bạn trẻ lay hoay tìm kiếm một lối sống mới để thích nghi với tình huống và hoàn cảnh đang diễn ra trước mặt. Và chắc chắn là đâu phải mọi người trẻ đều thành công và sớm được ổn định trên vùng đất mới của họ. (Ngay cả những bạn trẻ hiện đang ở phố thị cũng chịu ảnh hưởng của những yếu tố này, và cũng kéo theo những hệ quả tiêu cực trong lối sống). Thêm vào đó là hoàn cảnh sống, sự cô đơn, thiếu sự chăm sóc của người thân và cộng đồng đã làm cho nhiều bạn trẻ ‘thất bại” trong cuộc sống mới mà theo ghi nhận của Thư Chung thì các Giám mục có viết: “Ảnh hưởng của chủ nghĩa cá nhân và trào lưu hưởng thụ đã làm cho nhiều người trẻ lạc hướng và rơi vào lối sống buông thả, sống ảo, sống vội, sống dửng dưng vô cảm và vô trách nhiệm. Một số khác lại lún sâu vào những cám dỗ của thời đại như nghiện ngập, buôn bán ma túy, hôn nhân thử, đồng tính, phá thai. Bạo lực ngày càng gia tăng với mức độ nguy hiểm nghiêm trọng”[9].
Điều này cũng phù hợp với nhận định của giới nghiên cứu về xã hội đã tỏ ra lo lắng khi cho rằng: “Một bộ phận không nhỏ (người trẻ) không có động lực phấn đấu và thiếu cảm hứng sống. Họ thiếu niềm tin bền vững và thiếu nơi gởi gắm niềm tin. Họ thiếu sự tự tin và thiếu tư thế đĩnh đạc. Họ thiếu một phông văn hóa và nền xã hội”[10]
Đó là hoàn cảnh sống của phần lớn giới trẻ (Việt Nam) đang sống hôm nay.
- Huấn quyền của Giáo hội và vai trò các chủ chăn cho những vấn đề của người trẻ
Đọc lại Thư Chung 2019 của Hội đồng Giám mục Việt Nam, chúng ta thấy đây đúng là một lá thư mục vụ với những chỉ dẫn cụ thể cho từng giai đoạn mục vụ cho người trẻ; đồng thời, lá thư gởi đến từng đối tượng từ các vị chủ chăn cho đến các gia đình và cá nhân của mỗi bạn trẻ… Việc còn lại là chúng ta cứ thế mà triển khai và thi hành.
Trong Thư Chung 2019, các Giám mục có đề nghị những việc làm rất thiết thực và cụ thể để chúng ta có thể đồng hành với người trẻ hôm nay như là việc lắng nghe người trẻ rồi phân định, có những đổi mới cụ thể và hiệu quả trong cách tiếp cận giới trẻ, tạo sân chơi cho bạn trẻ, nắm bắt tình hình những người trẻ di dân để có những sự trợ giúp thích hợp tại giáo xứ nơi đi cũng như ở giáo xứ nơi đến; phát động chương trình học hỏi giáo lý giới trẻ bằng nhiều hình thức sinh hoạt, vui chơi…[11]
Đọc những lời hướng dẫn của Thư Chung trên đây chúng ta thấy vai trò của cha xứ nơi mỗi giáo xứ thật quan trọng. Bởi lẽ các cha xứ là những người có bổn phận chăm sóc và nuôi dưỡng con chiên của mình. Các cha phải là những người mục tử tốt trong việc chăn dắt đàn chiên, phải vận dụng trí hiểu, trí khôn của mình để tìm đồng cỏ xanh, tìm suối nước mát cho chiên; tìm cách phòng ngừa và bảo vệ cho chiên được an toàn và tìm ra các phương thế thích hợp để chữa lành những căn bệnh, những tật nguyền mà con chiên đang mang vác. Thiết nghĩ khi cố gắng thực hiện hết sức có thể những hướng dẫn của Thư Chung 2019 là chúng ta – các linh mục – đã thể hiện được vai trò của người mục tử tốt với đoàn chiên của mình rồi.
Có thể chăng một vài nơi nào đó chúng ta đang “bỏ ngỏ” vấn đề giới trẻ; thì hôm nay, qua sự gởi gắm và hướng dẫn được nêu lên trong Thư Chung, các Giám mục nhắc nhở chúng ta là những mục tử đang trực tiếp chăm sóc đàn chiên phải lưu ý đến thành phần giáo dân quan trọng – là những người trẻ – trong đàn chiên của mình.
Đối tượng kế tiếp mà chúng ta cần nhắc đến lúc này, đó là các cha tuyên úy, cha đặc trách, các tu sĩ nam nữ phụ trách giới trẻ. Trong vai trò của người đặc trách, thiết nghĩ các cha và quý tu sĩ cũng đã thấu hiểu phần nào nhu cầu của các bạn trẻ hôm nay: Nhu cầu kinh tế, nhu cầu an sinh, nhu cầu tâm linh, nhu cầu được dấn thân, cống hiến nơi các bạn… Thì thiết nghĩ Thư Chung này là bản hướng dẫn rất tốt cho chúng ta thực hiện trong vai trò và sứ vụ của mình.
Những lời nhận xét của Đức Thánh Cha Phanxicô được Thư Chung trích dẫn sau đây như là một lời nhắc nhở, một lời chỉ giáo mà Đức Thánh Cha đã viết ra để lưu ý và cũng là lời gởi gắm riêng cho những người đang phụ trách phần việc này: “Người trẻ cảm thấy có một khoảng cách vời vợi giữa những gì họ được học và thế giới họ đang sống. Những gì họ được dạy về các giá trị tôn giáo và luân lý không hề chuẩn bị cho họ khả năng chống đỡ trước một thế giới chế nhạo các giá trị ấy, họ cũng không học được cách cầu nguyện và thực hành đức tin khả dĩ đứng vững giữa nhịp sống vội vã của xã hội”[12] . Biết được hoàn cảnh sống của con chiên là các bạn trẻ, người mục tử cũng như những người có trách nhiệm hôm nay phải cố gắng sao cho khoảng cách giữa học và hành, giữa lý thuyết và thực tế, giữa giáo lý và đời thường ngày một gần nhau hơn. Dẫu biết rằng đây là một việc làm khó khăn và nhiêu khê, nhưng vì đây là lẽ sống còn của cả một thế hệ em cháu nên điều này không cho phép chúng ta ngồi yên để phó mặc cho tình thế đẩy đưa rồi ta xuôi chiều.
- Tạm kết:
“Hiến chế Mục vụ về Giáo hội trong thế giới hôm nay” là tên gọi khác của Hiến chế Gaudium et Spes được dịch sang tiếng Việt là Hiến chế “Vui Mừng và Hy vọng” đã viết câu đầu tiên trong bản Hiến chế rằng: “Vui mừng và hy vọng, ưu sầu và lo lắng của con người ngày nay, nhất là những người nghèo và những ai đau khổ, cũng là vui mừng và hy vọng, ưu sầu và lo lắng của môn đệ Chúa Kitô, và không có gì thực sự là của con người mà không gieo âm hưởng trong lòng họ”[13]
Với lời mở đầu của Hiến chế – và ngay cả tên gọi của Hiến chế này – chúng ta nhận ra được định hướng mà Giáo hội muốn nhắm đến: Đồng hành với con người và cùng với con người đi hết chặng đường lịch sử để về đến quê trời thành toàn trong ngày sau hết.
Với mục tiêu cụ thể đề ra trong từng năm một của mỗi chu kỳ ba năm, Giáo hội Việt Nam đã đồng hành với các gia đình trong thời gian qua. Trong ba năm tới này, chúng ta đồng hành với các bạn trẻ trong những hoàn cảnh sống của các bạn để giúp các bạn được an vui trong cuộc sống, nồng nàn trong đức tin, và biết dấn thân xây đắp cho xã hội được thăng tiến mỗi ngày.
Để có thể đạt được mục tiêu mà Giáo hội muốn nhắm tới trong việc chăm lo cho người trẻ, mọi thành phần trong Giáo hội hôm nay (cách riêng tại Việt Nam) từ các chủ chăn, các bậc phụ huynh, các xứ đạo và chính bản thân mỗi người trẻ phải có thao thức, phải biết dấn thân và can đảm hành động để thăng tiến bản thân và nâng đỡ cho những người cùng thế hệ. Có như thế thì lời khẳng định “Giới trẻ là tương lai của Giáo hội và của xã hội” mà ai đó vẫn nói, sẽ là điều đương nhiên đúng; bởi lẽ, câu nói này là niềm tự hào, là sự hy vọng của mọi tín hữu Việt Nam hôm nay.
WHĐ, 12-05-2020
Trích Tập san Hiệp Thông / HĐGM VN số 116 (Tháng 1 & 2, năm 2020)
[1] Thư chung HĐGM VN 2019 số 2.
[2] Thư chung HĐGM VN 2019 số 6.
[3] Tông huấn Chúa Kitô đang sống, số 134
[4] x. Tông huấn Chúa Kitô đang sống, số 64.
[5] x. Tông huấn Chúa Kitô đang sống, số 50.
[6] Thư chung HĐGM VN 2019 số 3.
[7] Xem thêm: Nguyễn Thị Nga, Mạng lưới đồng hương, đồng đạo. Một phân tích chiến lược ứng xử và tái kiến tạo bản sắc về không gian sống đạo ở đô thị của công nhân công giáo. Đời sống xã hội Việt Nam đương đại (tập 3) NXB Văn Hóa Văn Nghệ 2018. Đây là một khảo sát xã hội mà đối tượng là anh chị em công nhân công giáo di dân đang làm việc ở các khu công nghiệp Sóng Thần, Thủ Đức, Bình Dương. Qua bài viết này, tác giả cho thấy rằng, những anh chị em công nhân có đạo khi sống xa quê cho dù phải đối diện với bao thách thức khó khăn của cuộc sống mới nơi đất khách quê người, vẫn giữ được nếp sống đạo và tình làng nghĩa xóm của mình nhờ hai yếu tố đức tin và tình đồng hương.
[8] Nguyễn Đức Lộc, Nguyễn Quang Huy, Người trẻ trong xã hội hiện đại (tập 3), NXB Văn Hóa Văn nghệ 2018 trg 20.
[9] Thư chung HĐGM VN 2019 số 3.
[10] Ts. Nguyễn Minh Hòa, Đời sống xã hội Việt Nam đương đại (tập 3), NXB Văn Hóa Văn Nghệ 2018 Trg 9.
[11] X. Thư chung HĐGM VN 2019 số 5-6.
[12] Tông huấn Chúa Kitô đang sống, số 221.
[13] GS số 1
2020
ĐTC gọi các y tá và hộ sinh là những “vị thánh ở ngay bên cạnh”
Đức Thánh Cha Phanxicô đề cao sứ vụ và vai trò của các y tá và hộ sinh, đặc biệt trong thời gian đại dịch, qua chứng tá can đảm và hy sinh, qua trách nhiệm và tình yêu đối với tha nhân. Ngài gọi họ là những người gìn giữ và bảo vệ sự sống.
Chứng tá dũng cảm và hy sinh của các nhân viên y tế
Mở đầu sứ điệp nhân Ngày Quốc tế Y tá 12/05 năm nay, Đức Thánh Cha nhấn mạnh đến vai trò quan trọng của các y tá và hộ sinh, đặc biệt trong bối cảnh khẩn cấp về sức khỏe toàn cầu. Ngài đề cao “chứng tá về lòng dũng cảm và sự hy sinh của các nhân viên y tế và đặc biệt là y tá, những người chuyên nghiệp, hy sinh chính mình, và ý thức trách nhiệm và tình yêu đối với tha nhân, giúp đỡ những người bị ảnh hưởng bởi virus, thậm chí đến mức gặp nguy hiểm về sức khỏe”. Ngài cũng cầu nguyện cho nhiều nhân viên chăm sóc sức khỏe qua đời trong khi phục vụ và các nạn nhân của đại dịch này.
Những người gìn giữ và bảo vệ sự sống
Các y tá giữ vai trò quan trọng trong việc chăm sóc sức khỏe; họ đã chọn đáp lại ơn gọi đặc biệt: là người Samaria tốt lành quan tâm đến sự sống và đau khổ của người khác. Đức Thánh Cha gọi họ là những người canh giữ và bảo vệ sự sống, những người khi chữa trị đã mang lại can đảm, hy vọng và tin tưởng.
Trách nhiệm đạo đức
Tiếp đến, Đức Thánh Cha cũng nhắc nhở các y tá: “Trách nhiệm đạo đức là đặc trưng công việc chuyên ngành của các bạn; nó không thể bị giảm thiểu thành kiến thức khoa học kỹ thuật đơn thuần, nhưng phải liên tục được truyền cảm hứng từ mối quan hệ giữa con người và tính nhân văn của các bạn với người bệnh.” Ngài mời gọi họ quan tâm đến từng bệnh nhân để hiểu nhu cầu của họ trong giai đoạn họ đang trải qua.
“Những vị thánh ở ngay bên”
Đức Thánh Cha gọi các y tá và các hộ sinh là “những vị thánh ở ngay bên” khi gần gũi với bệnh nhân trong những thời khắc quan trọng của cuộc đời họ: sinh và tử, bệnh tật và chữa lành. Ngài nói: “Các bạn là hình ảnh của Giáo hội như một ‘bệnh viện ở chiến trường’, tiếp tục thi hành sứ vụ của Chúa Kitô, đến gần và chữa lành cho người dân mang đủ loại bệnh tật và cúi xuống để rửa chân cho các môn đệ.”
Đầu tư vào việc chăm sóc sức khỏe như là lợi ích chung hàng đầu
Trước việc thiếu hụt vật tư y tế do đại dịch, Đức Thánh Cha không quên yêu cầu các lãnh đạo các quốc gia “đầu tư vào việc chăm sóc sức khỏe như là lợi ích chung hàng đầu, bằng cách củng cố hệ thống chăm sóc sức khoẻ, với số lượng y tá nhiều hơn, để đảm bảo sự chăm sóc đầy đủ cho mọi người và tôn trọng phẩm giá của mỗi người. Bên cạnh đó, các y tá, cũng như các hộ sinh, xứng đáng có quyền được đánh giá cao hơn và tham gia đầy đủ vào các quá trình liên quan đến sức khỏe của cá nhân và cộng đồng.
Lời đặc biệt với các hộ sinh
Cuối cùng, Đức Thánh Cha đặc biệt nói với các hộ sinh: “Công việc của các bạn là một trong những nghề cao quý nhất, vì nó trực tiếp cống hiến cho việc phục vụ sự sống và làm mẹ. Trong Kinh Thánh, tên của hai nữ hộ sinh anh hùng, Shiphrah và Puah, được bất tử hóa trong Sách Xuất hành (x. 1,15-21). Hôm nay cũng thế, Chúa Cha trên trời nhìn các bạn với lòng biết ơn.” (CSR_3524_2020)
Nguồn: vaticannews.va/vi
2020
Niềm hy vọng chữa lành
Nhu Cầu Chữa Lành Của Chúng Ta
Có quá nhiều những nỗi đau thương trên thế giới cần được chữa lành. Chúng ta chỉ cần thoáng nhìn những gì đang diễn ra chung quanh ta. Hiện tượng toàn cầu nóng lên gây ra những thay đổi bất thường như hạn hán, lũ lụt, khiến người ta không còn khả năng dựa trên kinh nghiệm để dự đoán đúng về thời tiết nữa; hậu quả là mất mùa, đói kém; hận thù được thanh toán bằng những hành vi tội ác; mạng sống con người xem chừng như bị coi rẻ; rồi những hành vi vô luân xảy ra liên tục như hiếp dâm, lạm dụng phụ nữ, trẻ em; những hình thức nghiện ngập, và con số những bệnh nhân tâm thần tăng lên. Những hình ảnh này ít nhiều đã gây phiền nhiễu nơi tâm trí của chúng ta.
Nhìn thấy một thế giới đầy những vấn nạn, nhiều người trong chúng ta vẫn tưởng rằng những tương giao cá nhân riêng tư của ta có thể thoát khỏi những rắc rối trong vòng xoáy của toàn cầu. Nhưng không, chính mỗi người chúng ta đang chứng kiến sự tác động hỗ tương này.
Chúng ta nhận thức rằng thỉnh thoảng có những người đã làm cho ta bị suy sụp, khiến cho ta thất vọng, và gây tổn thương nơi ta. Nếu chúng ta có một cái nhìn trung thực, chúng ta có thể nhận thức rằng còn có nhiều vết thương khác cần được chữa lành nơi chính bản thân ta và trong các mối tương giao của ta.
Thậm chí ngay cả khi chúng ta không sao tránh được những quan hệ ít nhiều cũng gây rắc rối cho ta, thì chúng ta vẫn mong sao những mối tương giao này được diễn ra lành mạnh. Chúng ta có thể xin lỗi, tha thứ, thỏa thuận, hợp tác và mơ ước. Chúng ta có thể hy sinh để duy trì mối quan hệ sao cho đúng hợp, hơn là chỉ nghĩ đến việc thể hiện đúng bản bản thân. Và chúng ta có thể có được niềm hy vọng để chữa lành.
Từ Con-Tim-Đến-Con-Tim[1]
Mối tương giao cảm-xúc-của-con-tim là điều ràng buộc chúng ta với người khác. Trong các mối tương giao từ-con-tim-đến-con-tim, chúng ta mở lòng mình ra với người khác. Nhưng, việc cởi mở cõi lòng này cũng đồng nghĩa là việc ta chấp nhận rủi ro: chấp nhận người khác vào trong thế giới riêng của bản thân sẽ khiến ta dễ bị họ gây ra những tổn thương; cũng đồng nghĩa là ta trao cho người khác sức mạnh có thể gây thương tích nơi ta. Khi họ gây tổn thương, ta thường xuyên phủ nhận nỗi đau. Một đứa trẻ nói “không có đau đâu mà” trong khi nước mắt tuôn chảy; hay ai đó vẫn cứ ngân nga điệp khúc “gậy gộc hay gạch đá mới làm gãy xương, chứ lời nói thoảng qua sẽ không bao giờ gây cho tôi đau đớn”. Thế nhưng, một cách rõ ràng khi đưa ra những phủ nhận này, xem chừng như ta đang “cố chịu đấm ăn xôi” để rồi ta có thể tiếp tục bám víu vào những người mà ta đang gắn bó, thậm chí cả khi họ gây thương tích cho ta.
Đôi khi, những vết thương chưa lành của ta lại trở thành nguyên nhân khiến ta lại gây thương tích nơi người khác. Ví dụ, một người cha trong gia đình, khi ông còn nhỏ, bản thân ông không được cha mẹ coi trọng, có thể dẫn đến việc hiện nay ông hết sức nghiêm khắc đòi hỏi các con của ông trong sự nỗ lực sao cho ông được các con kính trọng. Điều này biểu hiện khao khát tìm kiếm sự bù đắp cho những tổn thương mà cha mẹ đã gây ra nơi cá nhân ông vào thời thơ ấu. Ông có thể gọi đó là việc nghiêm khắc dạy dỗ cho các con có được thái độ “tôn trọng người khác”. Một ví dụ khác, một người mẹ không nhận được sự yêu thương nồng ấm từ cha mẹ của bà. Để thỏa mãn nhu cầu bù đắp tình yêu thương của bản thân, bà có thể mong đợi sự chăm sóc đặc biệt từ các con của bà. Trong khi cố gắng nhằm xoa dịu nỗi đau của bản thân, bà vô tình đòi hỏi từ con cái những gì bà khao khát từ cha mẹ. Khi các bậc cha mẹ mang những vết thương chưa được chữa lành, họ sẽ chuyển di cùng một thương tích tương tự như thế qua những hành vi họ cư xử với các con.
Khái niệm chuyển di sự đổ vỡ từ thế hệ này sang thế hệ tiếp theo là một ý tưởng cổ xưa. Chẳng hạn, Thánh Kinh nói về những tội của người cha được truyền lại cho con cháu.Tất nhiên, điều này không chỉ xảy ra giữa cha mẹ và con cái. Những đau đớn chưa được chữa lành vẫn có thể gây tác động hủy hoại bất cứ ai can dự ít nhiều vào trong những mối tương quan.
Chúng Ta Được Chữa Lành Như Thế Nào?
Di sản thương tích gây ra nơi ta khiến ta có thể cảm thấy như đang phải mang vác gánh nặng nề. Làm thế nào chúng ta có thể cảm nhận được năng lượng sẵn sàng sống hết lòng trong những tương giao lành mạnh? Chúng ta có thể làm gì để chúng ta sẽ không gây thương tích cho những người mà chúng ta quan tâm chăm sóc? Có cách nào để chữa lành vết thương mà ta đã thừa hưởng từ gia đình không?
Thương tích trong ta luôn thúc đẩy nhu cầu cần được chữa lành. Đồng thời, lại có một nghịch lý diễn ra nơi ta, ta cảm thấy lo sợ khi phải đối diện với những tổn thương chưa được chữa lành của chính bản thân. Thế nhưng chính khi ta can đảm nhìn nhận những vết thương của chính mình, đó lại là bước khởi sự cho tiến trình chữa lành được bắt đầu.
Trong bài nói chuyện ngày 24/9/2015 với đề tài Gia Đình, Mái Ấm Cho Những Trái Tim Bị Thương Tích tại Đại Hội Gia Đình Thế Giới tại Philadelphia (Hoa Kỳ), Đức Hồng Y Luis Antonio Tagle, Tổng Giám Mục Manila, đã trích dẫn thư gửi tín hữu Do thái chương 10, cho thấy Đức Kitô đã trở nên một vị Thượng tế thập toàn và biết cảm thương, một người anh nhân hậu, vì Ngài đã chịu thử thách mọi bề như chúng ta, Ngài trải qua tất cả những đau thương của chúng ta, ngoại trừ tội lỗi. Và Ngài đã biến đổi những đau thương ấy thành chiến thắng của tình yêu. Chính vì vậy mà Đức Kitô phục sinh vẫn mang dấu vết của những thương tích. Những thương tích ấy sẽ không biến mất. Quả thực, chính Đấng bị thương tích đã cứu độ chúng ta. Bởi thế, vì tất cả chúng ta đều mang những vết thương, nên những thương tích của chúng ta sẽ làm cho chúng ta thành những nẻo đường dẫn tới sự hiểu biết, giàu lòng trắc ẩn, liên đới và yêu thương. Và chính mỗi người chúng ta sẽ được tình yêu Chúa chữa lành, đồng thời Ngài cũng trao ban sức mạnh của Thánh Thần, làm cho chúng ta trở nên những môn đệ của Ngài. Từ kinh nghiệm được ơn chữa lành, chúng ta lại trở nên những người tiếp tục thực hiện sứ mạng chữa lành cho những anh chị em khác đang cần đến sự trợ giúp của chúng ta. Như Chúa Giêsu đã từng sai mười hai tông đồ ra đi và chỉ thị rằng: “Dọc đường hãy rao giảng rằng: Nước Trời đã đến gần. Anh em hãy chữa lành người đau yếu, làm cho kẻ chết sống lại, cho người phong hủi được sạch bệnh, và khử trừ ma quỷ. Anh em đã được cho không, thì cũng phải cho không như vậy (Mt 10:7-8),” Ngài cũng vẫn tiếp tục mời gọi chúng ta.
Bên cạnh yếu tố ân sủng chữa lành mà mỗi cá nhân có những trải nghiệm đặc thù, các nhà tâm lý cũng nỗ lực đưa ra những phương thế hỗ trợ cho tiến trình này. Trong Hành Trình Của Con Tim (Journeys by Heart), Rita Nakashima Brock mô tả tiến trình chữa lành gồm ba bước, trong đó chúng ta (i) nhớ lại chúng ta đã bị tổn thương như thế nào, (ii) chúng ta bộc lộ cảm xúc qua cơn giận vì những gì đã xảy ra với chúng ta, và (iii) đau buồn về sự mỏng giòn dễ vỡ của chúng ta.
Nhớ Lại
Bước đầu tiên trong tiến trình chữa lành là nhớ lại ta đã bị tổn thương như thế nào. Nhớ về nỗi đau của ta đôi khi cũng đau đớn như lần đầu tiên chúng ta bị thương tích. Vì vậy, chúng ta thường cho rằng mình đừng nên nhớ đến những vết thương này bằng cách tự nhủ thầm với bản thân rằng: “vết thương ấy thuộc về quá khứ rồi”, “điều gì đã trôi qua, hãy để chúng qua đi, không khơi dậy lại nữa”, “đừng hối tiếc về những gì đã mất”, “quên đi quá khứ để vui sống”.
Nhiều người trong chúng ta muốn quên đi những cảm xúc mà chúng ta đã từng trải qua, chẳng hạn cảm xúc bị ba mẹ bỏ rơi lúc còn thơ bé. Ví dụ, anh A đã từng trải nghiệm cảm xúc về sự vắng mặt của cha mình – một người cha tham công tiếc việc. Anh A có thể trách cha mình rằng đã không ở bên cạnh anh lúc anh còn bé, nhưng anh không muốn nhớ đến cảm xúc của cha đã gây ra cho anh nỗi đau đớn đến mức nào về sự vắng mặt của ông. Không muốn lặp lại sai lầm của cha mình, anh A sẽ sắp xếp dành nhiều thời gian cho con cái. Đáng buồn thay, anh A sẽ dễ dàng cho con mình lượng thời gian của anh hơn là trao ban sự hiện diện mang lại sự ấm áp yêu thương mà các con thật sự mong đợi. Bao lâu anh A không muốn nhớ lại nỗi đau thương mà anh đã từng chịu đựng khi bị cha bỏ rơi, thì anh sẽ vẫn bị mắc kẹt trong việc thể hiện cảm xúc với chính bản thân mình và với những người khác, cụ thể là các con của anh.
Mỗi chúng ta đều có khả năng để nhớ lại. Trong ký ức, chúng ta thu thập những bức ảnh chụp lại những khoảnh khắc quan trọng trong cuộc sống của ta. Một số người trong chúng ta lại thấy mình bị cuốn hút hết lần này đến lần khác vào trong những hình ảnh đau thương. Điều thu hút sự chú ý của ta vào những tổn thương này lại trở thành niềm hy vọng chữa lành. Khi chúng ta bước theo niềm hy vọng mà ta mang vào trong trí nhớ, chúng ta đang thực hiện bước đầu tiên trong hành trình chữa lành bản thân và hòa giải với người khác.
Cơn Giận
Bước thứ hai trong tiến trình chữa lành là hãy để cho ta trải qua cảm xúc của cơn giận vì đã bị thương tích. Giận là cảm xúc hữu ích mà nhờ đó báo động cho ta biết khi những điều không đúng nào đó đã xảy ra, và những điều ấy đã không đúng với ai. Rất tiếc là cơn giận thường bị phán xét bởi một cáo buộc sai lầm.
Ai trong chúng ta cũng từng chứng kiến người khác tức giận, và chắc chắn bản thân ta cũng đã từng nổi giận không lúc này thì lúc khác. Thường chúng ta được khuyên nhủ rằng cơn nóng giận là cảm xúc tiêu cực nên kiềm chế. Thế nhưng trong thực tế, chúng ta thường cảm thấy mình có lý do chính đáng để nổi giận, ví dụ như làm sao ta lại không giận khi chứng kiến hay có liên hệ với một người có hành động không phù hợp với đạo đức, công bằng. Các chuyên gia tâm lý thuộc Hiệp hội Tâm lý Hoa Kỳ đều cho rằng nóng giận là cảm xúc lành mạnh của con người và hoàn toàn bình thường. Dường như quan điểm này cũng hợp lý, vì chính thánh tông đồ Phao-lô cũng đã nhìn nhận là đôi lúc người ta cũng phải trải qua cảm xúc nóng giận. Ngài khuyên: “Có nóng giận, thì sao cho đừng mắc tội… (Ê-phê-xô 4, 26)” Vấn đề là chúng ta biểu lộ cơn giận của mình như thế nào để không trở nên cớ vấp phạm, gây tổn thương, hoặc mắc thêm lỗi thiếu bác ái.
Cơn giận là một cảm xúc mạnh đến mức một số người trong chúng ta sợ phải trải nghiệm nó. Chúng ta có thể sợ rằng trải nghiệm cơn giận sẽ chỉ làm cho vấn đề tồi tệ hơn qua việc gây tổn thương cho chính mình hoặc gây ra cho những người khác. Vì vậy, để bảo vệ bản thân và những người chúng ta yêu thương, chúng ta cố gắng bỏ qua, “nhắm mắt làm ngơ” những cảm xúc tức giận. Nhưng càng phớt lờ, cơn giận tìm cách biểu lộ ra qua những hình thức khác là những cơn la hét giận dữ[2], gây hấn – thụ động[3], hoặc trầm cảm.
Nhưng vẫn còn có hướng giải quyết. Khi chúng ta trải nghiệm và hiểu được cơn giận, điều này không phá hủy các mối quan hệ; hoàn toàn ngược lại, nó còn cứu giúp những mối quan hệ ấy. Khi chúng ta trải qua cơn giận, chúng ta có thể can đảm trực diện với các mối quan hệ. Chính tại thời điểm này, ta hãy dành thời gian để nhìn nhận các vấn đề, các mối tương quan một cách sâu xa hơn.Việc nhìn bao quát điều đang diễn ra chắc chắn sẽ giúp chúng ta kiểm soát cảm xúc của mình, và rồi ta sẽ nhận ra phương thế để thể hiện việc quan tâm chăm sóc cho bản thân cũng như cho người khác. Và khi chúng ta đạt được khả năng kiểm soát và sử dụng cơn giận của mình một cách khôn ngoan và có tính xây dựng, thay vì trút cơn tức giận vào người khác, thì chính cơn giận sẽ là động lực thúc đẩy ta làm thế nào để chữa lành thay vì gây thêm đau đớn.
Đối với hầu hết chúng ta, trong thực tế, việc xem cơn giận như là một người bạn quả thật là điều hết sức căng thẳng. Vậy chúng ta hãy xuất phát từ khởi điểm rất hữu ích này là đón nhận cảm xúc của cơn giận như là niềm hy vọng để điều chỉnh cho mọi sự trở nên đúng đắn. Khi chúng ta có khả năng đón nhận cơn giận bằng sự hiểu biết, chúng ta có thể sử dụng những cảm xúc của cơn giận để giúp chúng ta chữa lành.
Đau Buồn
Bước thứ ba trong tiến trình chữa lành là đau buồn về sự đổ vỡ của ta. Đôi khi điều này xem chừng như gây ra nơi ta sự thất vọng. Bạn có thể hỏi: Làm thế nào để tôi có thể vượt qua được những năm tháng bị loại trừ bởi chính người phối ngẫu, người mà đã không hề trao cho tôi bất cứ cử chỉ biểu lộ sự ấm áp hay cảm xúc thương yêu nào? Giờ đây, làm sao để tôi có thể làm bất cứ điều gì cho cha mẹ tôi, những người mà đã từng không hề yêu tôi? Làm sao tôi có thể chữa lành vết thương khi con tôi hoặc một người bạn của tôi đã không hề thậm chí muốn nói chuyện với tôi? Thật là rất dễ bị mắc kẹt nơi những mất mát đau đớn như thế này, mà dường như không thể chữa lành.
Giống như cơn giận, đau buồn đã phải chịu mang tiếng xấu và hầu hết chúng ta không biết làm gì với nó. Khi chúng ta cảm thấy đau buồn, điều này thúc đẩy ta đối diện với những mất mát; và phản ứng của ta thường là thoái lui.Những người mang trong tâm trí ý nghĩ tích cực có thể cho rằng đối diện với nỗi đau buồn là cách để hy vọng, nhưng rồi đôi khi xem chừng như cũng cảm thấy vô vọng.
Vậy, niềm hy vọng ở đâu? Đau buồn có thể mở ra cho chúng ta hy vọng. Trong trải nghiệm của thánh Phê-rô, sau khi chối Thầy Giê-su, thánh Mát-thêu thuật lại cho chúng ta biết: “Ông ra ngoài, khóc lóc thảm thiết (26, 75).” Trải qua cảm xúc đau buồn này đã giúp Phê-rô nhận chân lại thân phận thực tế của mình: “… vì con là kẻ tội lỗi (Lu-ca 5, 8),”để từ đó ông hy vọng đón nhận ơn tha thứ của Thầy Chí Thánh, và ông đã được chữa lành. Khi chúng ta đau buồn, chúng ta đối diện với thực tế rằng chúng ta không thể chiếm hữu được mọi thứ theo như cách thức mà ta mong muốn. Nhận ra thực tế về những gì mà ta không thể có được, chúng ta mới bắt đầu thấy ra những gì chúng ta đang có. Đau buồn gỡ ta ra khỏi gọng kìm về những mong muốn bất khả thể nơi ta, để rồi chúng ta có thể nắm bắt được những khả năng thực tế. Mong ước kìm giữ ta, khiến ta bị mắc kẹt trong những thương tích; đau buồn giải thoát niềm đam mê và sáng tạo cho tình yêu và công việc của ta được triển nở.
Chốn An Toàn Để Chữa Lành
Một khi chúng ta đã bị thương tích, chúng ta không muốn bị tổn thương thêm một lần nữa. Chúng ta cần một cảm giác an toàn trước khi có thể tìm ra con đường của mình thông qua việc nhớ lại những ký ức riêng có, đấu tranh để đón nhận và kiểm soát cơn giận, và những mất mát do đau buồn.
Trong tiếng Anh, người ta có câu “Home is where the heart is” nhà là nơi con tim hiện diện, và nhà có thể là nơi an toàn để chữa lành. Nhưng, đối với một số người trong chúng ta, nhà là nơi chúng ta bị tổn thương, và thương tích đã không hề dừng lại. Ít là tại thời điểm khởi sự cho tiến trình chữa lành, nhà không phải là chốn đủ an toàn.
Khi nhà không là chốn an toàn, một cộng đồng đức tin có thể cung cấp một chốn để trú ẩn. Giáo hội có truyền thống nhớ đến những ai đang mang trong mình những thương tích và cung cấp sự an toàn để chữa lành[4]. Nhưng, nếu ta tập trung vào đau khổ của người khác nhằm để chuyển hướng sự chú ý khỏi nỗi đau của chính bản thân mình, thì đó chỉ là hành động tránh né việc chữa lành bằng một giải pháp “ăn liền” tạm bợ cho niềm hy vọng. Hầu như trong các giáo xứ nhu cầu cần trợ giúp để chữa lành đã vượt quá khả năng cung ứng của các vị mục tử và các vị đồng sự. Vì thế cần xây dựng các cộng đồng đức tin Kitô hữu nhỏ, và nếu những cộng đồng nhỏ này hoạt động một cách hữu hiệu, sẽ trở thành những nguồn lực chữa lành rất lớn.
Và rồi, đôi khi chúng ta cần tìm một nơi chốn mới trong cuộc sống của mình để dành cho việc chữa lành, nơi ấy sự đổ vỡ của chính ta sẽ là trung tâm của câu chuyện và là nơi ta sẽ không bị thương tích thêm một lần nữa.
Không Ai Chữa Lành Một Mình
Khi chúng ta thực sự vật lộn với một điều gì đó, theo bản năng chúng ta biết tầm quan trọng của việc cần có một người để trao đổi, trò chuyện. Người ta thường có khuynh hướng tìm đến với một đối tác thân thiết, một thành viên gia đình, một người bạn, hoặc một mối tương giao trong mục vụ.
Một mối tương quan tâm lý trị liệu có thể cung cấp một chốn an toàn, riêng tư, nơi có người đồng hành, nâng đỡ, và trợ giúp ta. Các nhà trị liệu có kỹ năng giúp người ta nhìn vào bản thân mình một cách trung thực, nhận ra tầm quan trọng của những trải nghiệm đau đớn, và nhìn thấy những lựa chọn mở ra cho họ.Vì thế, trong một số trường hợp việc đến gặp một nhà tham vấn, trị liệu là điều cần thiết trong tiến trình chữa lành của ta.
Ân Sủng Tuyệt Vời
Tất cả chúng ta đều bị tổn thương bởi những thương tích xảy ra trong cuộc sống. Một khi đã bị tổn thương, nhiều người trong chúng ta đưa ra phán quyết: như thế là quá đủ cho tôi. Chúng ta có thể bị mắc kẹt ở giữa những thương tích, hoặc ta chọn ở vị thế cho rằng đó không phải là lỗi của tôi. Điều này không đem lại hiệu quả gì cả. Cho dẫu chúng ta không có trách nhiệm trong việc gây ra tổn thương bởi vì là do người khác, nhưng chúng ta phải có trách nhiệm trong việc đón nhận sự giúp đỡ để chữa lành bản thân mình và các mối tương giao của ta.
Không ai khác có thể làm thế cho ta công việc chữa lành đặc thù của riêng ta, ngay cả Thiên Chúa vì như Thánh Augustinô đã từng nói: “Thiên Chúa dựng nên con người không cần con người, nhưng để cứu chuộc con người, thì Ngài cần đến sự cộng tác của con người”. Nhưng, thật là một ân sủng tuyệt vời khi chúng ta có thể nhớ lại, trải nghiệm cơn giận và đau buồn theo một cách thức để chữa lành. Nhờ ân sủng này, chúng ta tìm thấy niềm hy vọng của mình để chữa lành và tăng trưởng mạnh mẽ tại những vết thương mà đã từng gây đau đớn cho ta.
WHĐ, 12-05-2020
Trích Tập san Hiệp Thông / HĐGM VN Số 111 (Tháng 3 & 4, năm 2019)
[1] Trong Anh ngữ “heart-to-heart”
[2] Có thể minh họa trong trường hợp một đứa bé “làm mình làm mẩy” vì cha mẹ không chiều theo ý nó.
[3] Một dạng hành vi lặp đi lặp lại của việc biểu lộ cảm xúc tiêu cực, giận dữ một cách gián tiếp thay vì công khai giải quyết chúng.
[4] Xin đọc lại trong kinh: Thương người có 14 mối, thương xác 7 mối, thương linh hồn 7 mối.
Lm. Joseph Hoàng Ngọc Dũng
2020
ĐHY De Donatis mời gọi các linh mục 3 ngày “cầu nguyện và ăn chay”
ĐHY De Donatis mời gọi các linh mục 3 ngày “cầu nguyện và ăn chay”
Hiệp nhất với những tâm tình cầu nguyện của Đức Thánh Cha cho đại dịch, ĐHY Angelo De Donatis, giám quản Roma mời gọi các linh mục 3 ngày “cầu nguyện và ăn chay” cho thời điểm khó khăn này.
Trong một lá thư viết cho các linh mục và phó tế, ĐHY Angelo De Donatis trích dẫn những lời của Đức Thánh Cha trong giờ cầu nguyện tại Quảng trường Thánh Phêrô ngày 27 tháng 3 vừa qua: “Đây là thời điểm lựa chọn. Rõ ràng chúng ta không thể quay lại làm những điều chúng ta đã làm trước đây. Chúng ta phải ngồi xuống, trong thinh lặng, lắng nghe Lời Chúa và phân định. Chúng ta, các linh mục bắt đầu làm cho tất cả mọi người, chúng ta hãy làm những gì được vang lên trong chúng ta. Đó chính là Lời Chúa và cuộc sống của anh em. Ba ngày “cầu nguyện và ăn chay” trước lễ Chúa Thánh Thần.
Đức Hồng y nhấn mạnh: “Đây không phải là một chương trình hoạt động nhưng là một suy tư lấy cảm hứng từ Lời Chúa và nhằm mục đích tìm ý nghĩa của những gì chúng ta đang trải qua”.
Đức Hồng y đưa ra những việc làm cụ thể cho 3 ngày “cầu nguyện và ăn chay”: “Không dùng một bữa ăn trong những bữa chính; suy niệm Lời Chúa một giờ theo những đoạn Kinh Thánh mà tôi sẽ gửi cho anh em, kèm theo đó là một số câu hỏi. Trong thinh lặng và thanh tịnh, nhưng hiệp thông sâu sắc với nhau, mỗi người hãy lắng nghe Lời Chúa nói. Chúng ta sẽ lắng nghe Chúa Thánh Thần, xin Ngài giúp chúng ta hiểu thời điểm hiện tại và linh hứng cho chúng ta chọn theo ý Chúa. Sau một tuần suy tư, chúng ta có thể chia sẻ với các linh mục khác, trong một nhóm nhỏ”.
Đức Hồng y kết thúc lá thư: “Cầu nguyện sẽ giúp chúng ta nhận ra điều gì là chính yếu, vượt qua những cuộc thảo luận hời hợt, phản kháng, bè phái. Tôi tin sự hội tụ đặc biệt sẽ nảy sinh, bởi vì Chúa Thánh Thần hướng dẫn Giáo hội Ngài”. (Sir. 11/5/2020)
Ngọc Yến
