2020
Đời sống của Francesco đã đảo lộn ngày gặp Đức Gioan-Phaolô II
Đôi khi một bức hình đáng giá hơn một ngàn chữ! Cậu bé tươi cười gặp Đức Gioan-Phaolô II và cuộc gặp đã làm thay đổi cuộc đời cậu mãi mãi!
Ngày 30 tháng 12 năm 1988, Đức Gioan-Phaolô II đến thăm thành phố Fermo, một thành phố có 30.000 người dân ở vùng Marches, nước Ý. Đó là thành phố nơi sinh của cậu bé Francesco Chiariani, lúc đó cậu 8 tuổi và Đức Gioan-Phaolô II 67 tuổi. Ngài có chuyến tông du ở đây và được đông đảo giáo dân nồng nhiệt đón chào. Phải nói họ như thấy ngài từ trời xuống! Ngài đến bằng máy bay trực thăng, mặc áo choàng đỏ, một hình ảnh cậu bé không thể quên!
Trong đám ông, cậu bé Francsco tay cầm cờ Tòa Thánh chạy theo anh mình để đến gần Đức Gioan-Phaolô II. Nhưng hai anh em bị hàng rào kim loại chặn, như thế là không thể thấy ngài gần được! Đức Gioan-Phaolô II thấy người anh lớn gần như đong đưa trên hàng tào và ngài dừng lại trước cậu bé tươi cười có đôi mắt trong vắt.
Sau đó linh mục Francesco kể với báo Aleteia: “Đức Giáo hoàng đến gần tôi, ngài vuốt má tôi, như một cái vỗ thân tình dịu dàng, anh tôi đứng gần tôi nhưng tôi không hiểu vì sao ngài không làm như vậy với anh tôi. Tôi còn nhớ mùi hương của ngài.” Khi đó tôi cảm nhận “có một cái gì không diễn tả được trong lòng”. Cha kể tiếp: “Vài ngày sau, trong lớp chuẩn bị rước lễ lần đầu, cha xứ Enrico giáo xứ của tôi hỏi các trẻ em sau này lớn lên sẽ làm gì. Không ngần ngại một giây tôi trả lời: linh mục!”

Linh mục Francesco Chiarini
Francesco còn gặp Đức Gioan-Phaolô II một lần khác ở Paris trong Ngày Thế Giới Trẻ năm 1997, khi đó cậu bé Francesco 17 tuổi và ở trong nhóm trẻ Canh tân Đặc sủng. Thêm một lần nữa, cậu bé nghe lời Đức Gioan-Phaolô II: “Các con hãy theo Chúa Giêsu! Các con đừng sợ một ‘đời sống mới’ đến với các con”, lời này đã khuyến khích Francesco đi theo Chúa.
Và năm 2010 Francesco Chiarini được chịu chức vào ngày chúa nhật thứ hai Phục Sinh, lễ Lòng thương xót Chúa (được Đức Gioan-Phaolô II tuyên bố năm 2000). Linh mục có tiến sĩ thần học Kinh Thánh của Đại học Giáo hoàng Gregoria Rôma, là giáo sư thần học ở Viện Thần học Marches, Fermo. Cha giữ bức hình quý giá làm kỷ niệm, nhận thức mình được một vị thánh cao cả đồng hành thiêng liêng!
Giuse Nguyễn Tùng Lâm dịch
2020
Gilles Lipovetsky: “Chúng ta ở trong Kỷ nguyên bất an”

Triết gia và nhà khảo luận chuyên về siêu hiện đại,
Gilles Lipovetsky phân tích các hệ quả của Covid-19 trên văn hóa cá nhân và tiêu dùng. Tác giả Lạc thú và xúc giác. Tiểu luận về xã hội quyến rũ (Gallimard, 2017, Giải thưởng Montyon của Hàn lâm viện Pháp)
Dịch Covid-19 đã làm ngưng hình ảnh chúng ta có về thế giới từ nhiều năm nay, một thế giới diễn ra với tốc độ siêu hiện đại, chúng ta đang đi qua một dịp chưa từng có để đặt lại quan điểm: thời kỳ này cho chúng ta thấy điều gì?
Gilles Lipovetsky: Tôi bị sốc vì sự thiếu chuẩn bị của các Quốc gia trước một khủng hoảng to lớn như thế này. Chúng ta sống trong ý tưởng các đại dịch chỉ có thể xảy ra ở châu Á, châu Phi, còn ở các nước chúng ta thì sẽ không bị. Trước hết tôi thấy đây là sự phá sản, đặc biệt là ở nước Pháp vì nhiều quốc gia cũng rơi vào tình trạng tương tự, nhưng họ sáng suốt, họ không bị giam hãm trong lô-gích ngắn hạn … Sâu xa hơn, những gì được đặt vấn đề là mô hình quản lý y tế dựa trên tiêu chuẩn kinh doanh, ngầm củng cố bởi ý tưởng phải thường xuyên tiết kiệm, suy nghĩ rằng toàn cầu hóa có thể giải quyết vấn đề, như thử có một bàn tay vô hình trên thị trường, chẳng hạn nếu chúng ta không có khẩu trang, trong trường hợp gặp vấn đề chúng ta có thể đi mua chỗ khác. Câu ngạn ngữ chính trị “Cai trị là dự trù trước” áp dụng trong trường hợp này cho thấy là chưa đủ. Đây gần như là nguyên tắc cơ bản của Nhà nước: phải đảm bảo an ninh của dân chúng, điều này họ đã không làm được. Chúng ta có số liệu thống kê, chuyên gia, có một kho dữ liệu … và cuối cùng chúng ta thiếu mọi thứ. Điều này cho thấy sự bất hợp lý của một ban quản trị khi nào cũng cho mình hợp lý.
Có một nghịch lý lớn ở đây!
Đây chỉ là một khía cạnh trong các khía cạnh khác, chúng ta nhớ lại trong những năm 1980, chúng ta dễ dàng có hẹn để đi khám mắt, bây giờ phải mất sáu tháng. Vì để tiết kiệm, chúng ta đào tạo ít bác sĩ dù người già ngày càng nhiều hơn. Đây là một nghịch lý tuyệt đối. Thay vì đào tạo thêm trong ngành y tế thì chúng ta lại giảm. Dường như ý thức chung không phải là chuyện được chia sẻ tốt nhất. Chuông báo động đã được gióng lên, lần này chúng ta hy vọng nó sẽ tạo phản ứng thực sự.
Ông có ở trong số người nghĩ rằng thế giới tiếp theo nhất thiết sẽ phải khác đi không?
Hiện nay rất khó để đưa ra dự báo rõ ràng cho tương lai, vì tất cả tùy thuộc vào cuộc khủng hoảng kinh tế sắp tới, mà chúng ta chưa đo lường được tầm mức rộng lớn của nó. Tôi nghĩ nó sẽ xuất hiện các yêu cầu chính đáng để xem lại hệ thống sản xuất của chúng ta, ít nhất là liên quan đến các thiết bị y tế và chúng ta hy vọng Âu châu sẽ tìm ra giải pháp để chúng ta không lệ thuộc nước ngoài.
Nhà nước hiện đại là một hệ thống tự xây dựng và phải đảm bảo quyền tự chủ và an ninh của chính nó, điều mà chúng ta đã không làm được. Vì vậy, chúng ta phải đảm bảo điều này, cũng một cách như chúng ta đảm bảo an ninh quân sự của mình. Nó bao gồm kiểm soát và can thiệp bổ sung của các cơ quan công quyền: nhưng vấn đề là kiểm soát và can thiệp đến đâu? Cho đến giờ này chưa ai trả lời được, vì tất cả tùy thuộc vào quy mô của cuộc khủng hoảng. Nhưng rõ ràng là ở một số lãnh vực liên quan đến sức khỏe, Châu Âu và Hoa Kỳ phải giành lại quyền kiểm soát và không thể để vấn đề này vào tay chỉ một thị trường. Nếu chúng ta có đủ khẩu trang, xét nghiệm, máy thở như Nam Hàn và Đài Loan đã có thì chúng ta không lâm vào cuộc khủng hoảng này. Chúng ta đã phải trả một giá khủng khiếp cho việc quản lý căng thẳng đã có từ mười mấy năm nay của chúng ta.
Ý tưởng một mô hình tiêu thụ đang biến mất theo hướng có lợi cho sự thanh đạm hạnh phúc theo tôi chỉ là một hình thức khoa trương, không ảnh hưởng đến tầm mức quy mô toàn cầu.
Làm thế nào châu Âu đi ra khỏi cuộc khủng hoảng này?
Châu Âu không hoạt động tốt cho thấy qua việc nước Anh ra khỏi khối thị trường chung Âu châu và phong trào dân túy nổi lên khắp nơi. Cuộc khủng hoảng cho thấy sự thiếu đoàn kết, và không đồng đều, cũng có các hành động đoàn kết giữa các quốc gia, nhưng chúng ta không nên chất đầy thuyền! Cuộc khủng hoảng còn tác động lâu, nhất là về vấn đề nợ và ý tưởng chúng ta sản xuất ở các nước kém phát triển sẽ có thể đặt lại vấn đề. Phải rất cẩn thận vì chúng ta không tiên đoán được gì, đây là một vị thế không dễ dàng và gay go.
Ông nói về cuộc khủng hoảng kinh tế đã bắt đầu và chúng ta chưa biết đến tầm mức… Đây có phải là kết thúc hay cấu trúc lại mô hình tiêu dùng như chúng ta đã biết?
Từ hai tháng này, một phần dân chúng đã tiết kiệm, họ không đi tiệm ăn, không đi xem phim, họ ngưng giải trí và giới hạn chi tiêu vào chuyện cần thiết, họ có một khoản tiết kiệm rất lớn. Họ sẽ làm gì với tiền tiết kiệm này? Giữ vốn để đề phòng hay vui chơi khi có dịp để bù trừ? Về ngắn hạn chúng ta không biết họ sẽ phản ứng như thế nào, nhưng điều này rất quan trọng cho việc phục hồi kinh tế. Theo tôi, ý tưởng có một cuộc khủng hoảng tiêu dùng thì tương đối, chắc chắn sẽ có một cách tiêu thụ khác, ít ô nhiễm, chủ trương tiêu dùng chất xanh, nhưng tất cả không nói lên một cách cụ thể các hành vi tiêu dùng. Người dân bắt đầu ủng hộ hữu cơ nhưng các vật dụng này đắt tiền và không tạo thay đổi lớn. Người dân tiếp tục dùng xe và tình trạng kẹt xe vẫn còn. Ngành du lịch bị ảnh hưởng khủng khiếp, nhưng nó không ngừng mở rộng. Trước khi có cuộc khủng hoảng sức khỏe, thế giới có khoảng 1,4 tỷ du khách và người ta dự trù trong 20 năm nữa sẽ có đến 5, 6 tỷ du khách.
Nói tóm lại tôi không nghĩ rằng, vì suy nghĩ đạo đức mà người dân giới hạn các chuyến đi chơi của họ. Cuộc khủng hoảng sẽ làm nổi bật sự bất bình đẳng và khát vọng tiêu dùng vẫn tiếp tục. Đầu tiên hết vì ngày nay tiêu dùng đáp ứng một chức năng trị liệu: ngoài trừ một bộ phận dân chúng – đặc biệt là những người có một tôn giáo – người dân không tiêu thụ vì họ cần vật dụng, nhưng để thay đổi tinh thần, để quên các bất hạnh… Điều này tạo các vấn đề, tôi không chối cãi. . Như thế, ý tưởng một mô hình tiêu thụ đang biến mất theo hướng có lợi cho sự thanh đạm hạnh phúc theo tôi chỉ là một hình thức khoa trương, không ảnh hưởng đến tầm mức quy mô toàn cầu.
Ở quy mô toàn cầu, những gì đang nổi lên là mong muốn tiêu dùng và thoải mái vật chất.
Tư duy sinh thái không nên dẫn đến việc truất đi phát triển kinh tế, không phát triển kinh tế thì sẽ không giải quyết được các vấn đề.
Nhưng cuộc khủng hoảng sinh thái sớm muộn cũng đặt chúng ta vào chân tường…
Tất cả đều phụ thuộc vào việc chúng ta xem ý nghĩa của sinh thái học như thế nào: một hệ sinh thái tận căn dẫn đến việc tiêu thụ hợp lý, hoặc một lựa chọn khác dung hòa đổi mới công nghệ và sinh thái, cho phép một chế độ di động với việc giảm lượng khí thải CO2, và do đó có thể theo đuổi hiện đại hóa và tiêu dùng… Tôi nghĩ đó là con đường sẽ phát triển, con đường này bị các nhà môi trường cấp tiến lên án là ngõ cụt. Theo tôi, tôi nghĩ công nghệ đặt ra vấn đề nhưng nó cũng mang lại một phần giải pháp và tư duy sinh thái không nên dẫn đến việc truất đi phát triển kinh tế, không phát triển kinh tế thì sẽ không giải quyết được các vấn đề.
Theo tôi, cho rằng tăng trưởng là chất độc là một sai lầm cơ bản. Các thách thức lớn – sức khỏe nói riêng – đòi hỏi phải có phát triển. Những gì chúng ta phải nhắm đến là tăng trưởng có trách nhiệm, để ý đến các mệnh lệnh của hành tinh: nhà nhà tiêu thụ ít hơn, ô tô và thiết bị được tái chế, có rất nhiều việc phải làm trong các lãnh vực này.
Cách đây năm năm, Đức Phanxicô công bố Thông điệp Chúc tụng Chúa, một bản văn có tiếng vang vượt ra ngoài giới công giáo. Sau khi đi tìm “tự do” và “ánh sáng”, chúng ta sẽ hướng tới một cuộc tìm kiếm về chiều sâu và ý nghĩa không?
Tôi nghĩ hai con đường tương hợp nhau. Trên thực tế, chủ nghĩa duy vật tiêu dùng vẫn tiếp tục, nhưng đồng thời mọi người cho rằng nó không đủ cho họ. Thời đại của chúng ta không phải là “hay” mà là “và”. Chúng ta muốn cải thiện sự thoải mái của mình, đi du lịch, có máy tính, ít người từ chối những chuyện này, nhưng điều này không có nghĩa là cạn sức để không đi tìm con đường thiêng liêng hay đạo đức. Không phải nhân loại chúng ta trở nên ích kỷ tự quy về mình hay tự mê đến mức chà đạp lên tất cả các giá trị con người và không cần phát triển để nâng cao, và ngày nay không phải có ít con đường thiêng liêng hơn ngày xưa, đơn giản là nó cụ thể qua nhiều cách khác nhau. Mọi người hướng việc đi tìm của mình một cách cá nhân. Đỉnh cao của sự tự do này được thấy trong hiện tượng của các vụ hoán cải mà ngày xưa thường được liên kết với các thời chiến tranh, nạn dịch, mà ngày nay lại theo một tiến trình cá nhân. Tôi quan sát thấy chủ nghĩa duy vật càng chi phối tổ chức thế giới một cách khách quan thì càng gia tăng các vụ đi tìm có tính cách cá nhân này. Việc giải hóa các thể chế không có nghĩa là thể chế biến mất. Ngược với những gì chủ nghĩa mát-xít có thể tiến lên, con người vẫn tiếp tục tin có một nguyên tắc cao hơn. Chủ nghĩa duy vật cá nhân không có nghĩa là nhận chìm tất cả các giá trị.
Ngày nay không phải có ít con đường thiêng liêng hơn ngày xưa, đơn giản là nó cụ thể qua nhiều cách khác nhau.
Ông khẳng định chủ nghĩa cá nhân không dính gì với ích kỷ: thật là táo bạo!
Ích kỷ là một triền dốc khả dĩ của chủ nghĩa cá nhân. Nhưng có nhiều chuyện khác. Sự nhân lên của các hiệp hội và các tình nguyện viên trong xã hội đương đại của chúng ta là bằng chứng cho điều này. Ý tưởng rằng trước đây mọi chuyện tốt hơn và chúng ta sống đoàn kết hơn là một huyền thoại. Ngày nay hàng triệu người đang chiến đấu vì người khác. Nếu chủ nghĩa tiêu dùng và chủ nghĩa cá nhân có nghĩa là sự biến mất tình người trong con người thì làm sao giải thích có các thiện nguyện viên này? Các sự kiện này cải chính cho hình ảnh xấu của chủ nghĩa cá nhân. Và trong các chế độ mà cá nhân bị xóa mờ vì lợi ích tập thể bằng quyết định chính trị, thì chủ nghĩa cá nhân lại bùng lên thêm trên lãnh vực cá nhân, đến mức chủ nghĩa tiêu dùng trở nên thô lỗ! Mặt khác nghĩ rằng chủ nghĩa tiêu dùng sẽ là một con đường cứu rỗi mới thì rõ ràng nó không làm cho con người thỏa mãn hoàn toàn. Các người làm việc thiện nguyện cho thấy tiêu thụ không thể mang lại hạnh phúc thiết yếu là mình thấy hữu ích cho người khác.
Năm 1983, ông xuất bản khảo luận nổi tiếng Kỷ nguyên Trống rỗng (L’Ère du Vide). Bây giờ chúng ta đang ở trong kỷ nguyên nào?
Bây giờ chúng ta đang ở trong Kỷ nguyên Bất an hay Kỷ nguyên Sợ hãi! Cảm nhận bất an lan rộng này có thể thấy ở khắp nơi. Về mặt cá nhân thì bất ổn trong gia đình, các vụ ly dị, ly thân ảnh hưởng sâu đậm đến mỗi người… Về mặt chính trị-văn hóa, các hiện tượng thì quá nhiều: lo lắng về vấn đề toàn cầu hóa, bất an liên hệ đến vấn đề di dân và khí hậu, bất an về thực phẩm, thực phẩm thành một mối lo, bất an về tình trạng kinh tế, thất nghiệp, bất an về tương lai con cái, người ta nói con cái chúng ta sẽ sống không bằng chúng ta! Chúng ta đang ở một tình trạng bất an chung mà chủ nghĩa dân túy là một ví dụ. Đó là biểu hiệu lớn của thời đại chúng ta.
Nỗi sợ làm tê liệt. Làm thế nào chúng ta có thể phản ứng?
Chúng ta phải đầu tư vào lãnh vực giáo dục. Lý trí không giải quyết được tất cả vấn đề, nhưng tôi nghĩ cách đầu tư tốt nhất mà chúng ta có thể làm là trong lãnh vực này, vì đây là huy động trí thông minh của tất cả mọi người trên quả đất này, như thế sẽ mang lại các giải pháp tập thể ở quy mô toàn cầu. Phải cho dân chúng nhiều khí cụ hơn. Điều này có thể làm được với đức tin, nhưng đức tin thì không điều khiển. Giáo dục, nghiên cứu khoa học tùy thuộc vào các quyết định chính trị và tôi nghĩ chính trị có thể đầu tư vào lãnh vực này. Tôi không chia sẻ ý tưởng hư vô cho rằng chúng ta không còn giá trị gì. Không phải thiếu các giá trị đặc trưng cho chúng ta, nhưng thiếu công cụ cho phép chúng ta thực hiện. Không có giáo dục, làm thế nào để tạo việc làm, làm thế nào để có tương lai, làm thế nào để đẩy lui “tin giả?”. Khi chúng ta nâng cao dân trí thì chúng ta có thể ngăn chặn sự gia tăng này. Giáo dục là một lĩnh vực vô cùng to lớn.
Không ai mà không đồng ý! Chỉ cần nhìn vào cuộc tranh luận về vai trò của nhà trường…
Bên cạnh khoa học, sáng tạo nghệ thuật là một thành phần quan trọng của biểu hiệu cá nhân. Người Mỹ nói đây là cách mạng nghiệp dư. Ước muốn diễn tả là bằng chứng cho thấy chủ nghĩa tiêu dùng là không đủ và ai cũng muốn chính mình làm các chuyện, và trường học phải đi trong hướng này: không phải chỉ đơn thuần đào tạo việc làm nhưng còn để phát triển con người, cho con người khả năng chính mình có thể làm các chuyện. Làm những chuyện mình yêu thích! Tình yêu, không phải là không có gì… Trong thế giới hiện nay, chúng ta làm nhiều chuyện dưới áp lực của lợi nhuận và công việc không phải lúc nào cũng được triển nở. Việc tìm nơi để triển nở vượt các tầng lớp xã hội, vượt phương tiện tài chánh: chẳng hạn nhiều người rất bình thường bỏ công bỏ sức vào các ca đoàn. Tôi nghĩ chúng ta đánh giá thấp nhu cầu này, vì tiêu dùng quá mức đánh giá cao hành vi mua: chắc chắn, chúng ta “mua” một giây phút thỏa mãn nhưng trong số các chuyện mà chủ nghĩa tiêu dùng không thể nào cho chúng ta, đó là nó không mang lại cảm nhận mình hữu ích cho người khác và niềm vui được sáng tạo, trường học phải cho chúng ta phương tiện để vun trồng tài năng sáng tạo bên trong của chúng ta. Nếu không, chúng ta chỉ có các trung tâm thương mại, máy truyền hình và chân trời chúng ta được ấn định qua khả năng mua một chiếc xe mới. Nếu không ai cho bạn dụng cụ, vì sao bạn không đến viện bảo tàng hoặc học chơi một nhạc cụ? Không phải chủ nghĩa cá nhân hay tư bản trách nhiệm cho các bất hạnh của chúng ta: chính xã hội không ở tầm cao với tham vọng giáo dục mà đáng lý là của xã hội.
Marta An Nguyễn dịch
2020
“Đức Phanxicô là nhân vật sáng giá nhất của thời đại chúng ta”

Trong quyển sách – Thiên Chúa là niềm vui”, tác giả Chiara Amirante cho biết: “Đức Phanxicô là nhân vật sáng giá nhất của thời chúng ta.” Quyển sách được phát hành ngày 19 tháng 5-2020 tại Ý.
agensir.it, Ada Serra, 2020-05-21
Bà Chiara Amirante, người sáng lập và giám đốc trung tâm Chân trời mới (Nuovi Orizzonti) đã viết một quyển sách về câu chuyện chuyến thăm bất ngờ của Đức Phanxicô đến Trung tâm ngày 24 tháng 9 năm 2019, bà giải thích với nhật báo Ý Sir: “Chúng tôi đã rất ngạc nhiên về chuyến thăm bất ngờ của Đức Phanxicô, tôi thấy cần phải chia sẻ niềm vui này với nhiều người nhất có thể.”
Chuyến thăm của Đức Phanxicô đã đánh dấu con đường của Trung tâm Chân trời mới: “Ngài khẳng định công việc hàng ngày của chúng tôi. Sứ vụ của chúng tôi là mang niềm vui đến cho nhiều người nhất có thể và cố gắng mang lại hy vọng cho những người đã thất vọng. Một con đường tìm kiếm niềm vui mà tất cả chúng ta đều cần qua chứng từ được chia sẻ, nhưng nhất là qua lời của Đức Phanxicô.”
Sau quyển sách “Trị liệu thiêng liêng” năm ngoái, tôi muốn viết một quyển sách về các câu hỏi và trả lời của các em bé về con đường từ buồn bã đến niềm vui và làm sao đối diện trước các giây phút khó khăn của bệnh tật, cái chết và đau khổ, và rồi chuyến thăm bất ngờ của Đức Phanxicô, tôi muốn chia sẻ niềm vui này với nhiều người nhất có thể.
Vì tựa đề quyển sách “Thiên Chúa là niềm vui”, tôi nghĩ điều này thích hợp cho dự trù ban đầu của tôi, ghi lại các kinh nghiệm phục hồi của các em bé được đón nhận vào cộng đoàn đã chia sẻ vào ngày gặp gỡ, niềm vui và cảm nhận thiêng liêng của các bạn chúng tôi hiện diện hôm đó như Nek, Fabio Fazio, Matteo Marzotto, Andrea Bocelli và dĩ nhiên chia sẻ của Đức Phanxicô, các suy nghĩ của ngài về niềm vui và đó là trọng tâm quyển sách.”
Niềm vui của tiêu đề tràn ngập quyển sách
Bà Amirante tiếp tục: “Các câu chuyện về cuộc sống rất đa dạng, những người đã giải thích được cách nào họ đã tìm thấy câu trả lời cho nhu cầu niềm vui trong tâm linh của các em sống các kinh nghiệm khó khăn, băng đảng, bạo lực, ăn cắp, ma túy hay các thảm kịch khác như bị chứng chán ăn, phá thai, nghiện sex, bị lạm dụng lúc còn nhỏ. Rất nhiều hoàn cảnh đặc trưng của tuổi trẻ ngày nay: cô đơn, trầm cảm, nghiện ngập, bị bắt nạt, sống ngoài lề xã hội, rơi vào hố thẳm kể cả các em con nhà khá giả. Cảm xúc chuyến thăm của Đức Phanxicô vẫn còn lưu lại trong lòng bà Amirante: “Tôi hoàn toàn bất ngờ. Tôi muốn mời ngài nhiều lần, ngay cả dưới áp lực của các em ở đây, nhưng tôi không muốn thêm vào lịch làm việc đã rất bận rộn của ngài, và tôi cũng không muốn hỏi ngài. Vì thế tôi rất ngạc nhiên khi nhận đề nghị của ngài muốn đến thăm. Đó là niềm vui cho tất cả những người ở đây nhất là ngài ở lại với chúng tôi một ngày.”
Cuộc gặp gỡ với Đức Phanxicô đã đánh dấu con đường của Trung tâm Chân trời mới: “Ngài khẳng định công việc hàng ngày của chúng tôi. Sứ vụ của chúng tôi là mang niềm vui đến cho nhiều người nhất có thể và cố gắng mang lại hy vọng cho những người đã thất vọng. Ở một ngày với ngài làm cho chúng tôi cảm nhận được tình yêu của người cha cho mình, mạnh mẽ và riêng tư đã nâng đỡ khuyến khích chúng tôi, mà chỉ có ngài mới có thể làm được.”
Quyển sách có phần phỏng vấn Đức Phanxicô của bà Chiara Amirante: “Dù chuyến đi bất ngờ và điều này không có trong dự trù nhưng tôi cũng có dip nói chuyện riêng với ngài, tôi nói với ngài, tôi mong có thể viết quyển sách ghi lại những giây phút này, ngài đồng ý và tôi hỏi ngài vài câu hỏi về chủ đề “Thiên Chúa là niềm vui”, hỏi ngài về bí mật niềm vui của ngài, vì sao ngài có thể giữ được niềm vui dù bao nhiêu khó khăn và sức nặng nhiệm vụ của ngài hàng ngày. Tôi ghi vào điện thoại cầm tay và chép lại trung thực các câu trả lời của ngài với các câu hỏi không soạn trước của tôi.
“Đó là món quà tuyệt vời của tôi, chỉ trong vài chữ gom được bí mật niềm vui của Đức Phanxicô và tôi hy vọng nó sẽ là niềm vui cho bao nhiêu người khác.”
Một quyển sách kể cuộc gặp mặt nhưng có thể đưa từ lời qua hình ảnh: “Điều làm tôi ấn tượng nhất là cặp mắt của những người hiện diện hôm đó, tràn ngập niềm vui, tình yêu cho Đức Phanxicô và cả nước mắt, dĩ nhiên đây là nước mắt của niềm vui và xúc động sâu xa, với giây phút như sống trên thiên đàng với Đức Phanxicô, giây phút không thể xóa nhòa trong trái tim chúng tôi.”
Với bà Chiara Amirante, cuộc gặp gỡ là dịp để chúng ta suy nghĩ về thời gian chúng ta đang sống: “Tôi viết xong quyển sách và phải đi vài ngày trước khi bắt đầu cách ly, nhưng tôi phải dời lại vì đại dịch. Phần cuối quyển sách tập trung vào chủ đề, làm thế nào để giữ niềm vui trong những lúc đau khổ và khó khăn và có cả một chương với nhiều bài suy niệm sâu đậm mà Đức Phanxicô đã cho chúng ta trong các năm vừa qua về chủ đề này. Tôi hy vọng quyển sách sẽ mang phần đóng góp của nó trong giai đoạn đau khổ và đen tối này, để chúng ta không bị mất món quà Chúa cho là niềm vui. Tôi hy vọng độc giả sẽ tìm được an ủi trong các lời suy niệm của Đức Phanxicô trong lúc khó khăn này.”
Ở Trung tâm Chân trời mới, tình trạng khẩn cấp trong thời gian qua là dịp để chúng tôi gia tăng lời cầu nguyện vì “sức nặng của thập giá chỉ có thể được nhấc lên nếu chúng ta biết quỳ gối xuống để cầu nguyện.” Đó là hình ảnh tích cực bà Chiara Amirante đã dùng, bà nói thêm: “Sức mạnh của lời cầu nguyện không những thực hiện được phép lạ mà còn làm ngừng chiến tranh, ngừng các xung đột, mọi cuộc khủng hoảng, nhưng sức mạnh của lời cầu nguyện cũng cho chúng ta được bình an trong tâm hồn, một ơn mà tất cả chúng ta cần hơn bao giờ hết trong thời gian thử thách này. Cầu nguyện giúp chúng ta thấy ánh sáng cuối đường hầm, củng cố cho chúng ta niềm tin Chúa sẽ thắng và yêu thương chúng ta vô bờ và luôn tìm cách trấn an chúng ta dù những gì chúng ta trải qua rất đau đớn, lời cầu nguyện góp phần vào điều tốt lành. Cùng với cộng đoàn, chúng tôi dồn tất cả nỗ lực để đứng tuyến đầu trên mọi mặt, vì các yêu cầu giúp đỡ đủ loại đã tăng lên gấp bội.”
Một ý nghĩ cuối cùng về Đức Phanxicô: “Tôi nghĩ ngài là hình ảnh sáng giá nhất của thời này, một trong số rất hiếm nhân vật được người tin và cả người không tin tín nhiệm. Với tình yêu của người cha, ngài tháp tùng chúng ta trong cơn bão này với sự gần gũi của ngài, cho thế giới những lời khôn ngoan trong giây phút mất mát sâu xa này. Tôi ấn tượng bởi những người “ở xa”, qua lời của ngài đã cảm thấy nhu cầu cần đến Chúa và bắt đầu tìm Chúa, bắt đầu một cuộc hành trình thiêng liêng.”
Giuse Nguyễn Tùng Lâm dịch
Hình ảnh Đức Phanxicô đến thăm Trung tâm Chân Trời mới 24-9-2019

Video Đức Phanxicô đến thăm Trung tâm Chân Trời mới 24-9-2019
2020
Axel Kahn: “Chưa bao giờ có sự sống mà không có virus”

Nhà di truyền học Axel Kahn, chủ tịch Liên đoàn Ung thư, làm việc tích cực trong thời gian cách ly để đưa thông tin và bảo vệ các bệnh nhân bị ung thư. Đối với ông, cuộc khủng hoảng sức khỏe buộc chúng ta phải “sống chứ không phải chỉ để tránh cái chết”.
Với việc chấm dứt cách ly, các nhà khoa học sợ một đợt đại dịch thứ hai. Ông có sợ không?
Về phần tôi, tôi lạc quan. Cẩn thận nhưng lạc quan. Trong mọi trường hợp liên quan đến một đợt thứ nhì sẽ xảy ra nhanh trước mùa đông sắp tới thì có ba lý do, đầu tiên dù ở các vùng có điều kiện xã hội nên việc cách ly bị tương đối như vùng Seine-Saint-Denis thì dịch bệnh cũng đang giảm rõ rệt. Lý do thứ nhì các dịch bệnh virus tác hại trong thế kỷ 20 như cúm Tây Ban Nha 1917-1919; cúm Á châu năm 1957; cúm Hồng Kông năm 1968-1970 thì các đợt thứ nhì thường xảy ra trong năm sau, chứ không cùng năm. Và lý do cuối cùng việc cách ly hai tháng đã đưa virus trở lại như lúc bắt đầu nạn dịch vào tháng hai.
Với các nguồn lực thấp hơn nhiều so với hiện nay, nghiên cứu dịch tễ để xác định các trường hợp tiếp xúc đã ngăn chặn sự lây lan của các căn bệnh này ở vùng Haute-Savoie, Morbihan, Montpellier và Oise tháng hai vừa qua. Chiến thuật này đã làm ở một mức độ cao hơn nhiều ở Nam Hàn và đã nên điều kỳ diệu. Chính sách truy tìm, phát hiện, xác định các tiếp xúc và cách ly đối tượng, trên nguyên tắc sự cách ly thể lý và các ngăn chặn nếu được tôn trọng thì có thể tránh được cho nạn dịch khỏi khởi động lại nhanh chóng.
Điều khẩn cấp là khi thời gian tạm lắng thấy rõ, thì việc quay trở lại các biện pháp y tế lại thành một quá trình bình thường.
Điều gì sẽ xảy ra nếu làn sóng thứ hai không như chúng ta tưởng, mà một loạt các bệnh nhân mang các loại bệnh khác đã không được chữa trị vì bị cách ly?
Đúng, dĩ nhiên trong hai tháng vừa qua, nhiều người không đi khám bệnh vì sợ lây, vì không dám làm phiền bác sĩ của họ đã quá nhiều việc, hoặc không lấy hẹn được, thậm chí không liên lạc được với phòng khám. Điều khẩn cấp là khi thời gian tạm lắng thấy rõ, thì việc quay trở lại các biện pháp y tế lại thành một quá trình bình thường.
Ông có sợ một loạt các bệnh nhân ung thư không được phát hiện hay không được chữa trị trong thời gian này không?
Nhiều người có các dấu hiệu có thể báo hiệu ung thư như mụt ruồi đang thay đổi, có cục u ở vú, bị xuống cân không có lý do, hoặc mệt mỏi không giải thích được, đáng lẽ họ đi khám thì họ lại không đi: trong thời gian này, các bác sĩ chẩn đoán hai lần ít hơn các trường hợp ung thư so với bình thường, như thế là thiếu 32.000 trường hợp so với dự kiến (400.000 trường hợp mới mỗi năm). Sự chậm trễ này có thể làm cho bệnh nhân mất cơ hội. Còn các bệnh nhân đang chữa trị ung thư, thì cần tránh để họ không bị nhiễm Covid-19, vì họ là những người yếu nhất khó chống lại được Covid-19. Thêm nữa cũng không được làm cho các chữa trị của họ thành không hiệu quả, các lần hóa trị, xạ trị bị dời lại, các quy trình đôi khi bị thay đổi. Chung chung tôi thấy nó có hại cho việc chữa trị. Nhưng phải bắt kip các chậm trễ này, việc kẹt chữa trị này là đáng sợ.
Nghịch lý, tình trạng cách ly đã bảo vệ chúng ta khỏi các bệnh nhẹ như loét dạ dày, viêm mũi họng…) nhưng cũng nên sợ các bệnh nặng hơn về tinh thần cả thể xác.
Tình trạng cách ly là dấu hiệu cho thấy các rối loạn tâm thần chưa được phân loại, và trên hết là yếu tố mất thăng bằng đôi khi rất nặng về mặt tâm thần. Chắc chắn không phải là nguyên do tại họ. Điều này cũng đúng với các bệnh khác, không tạo ra do cách ly nhưng chẩn đoán đã có thể bị hoãn lại.
Các tiến bộ khoa học và kỹ thuật đáng kinh ngạc trong 50 năm nay đã làm mọi người nghĩ rằng các bối cảnh như vậy là không thể, nhưng trên thực tế chúng cũng không thể tránh được.
Dịch Covid19 cho chúng ta thấy các điểm yếu tập thể của chúng ta. Nhưng sự sống có thể nào không có virus không?
Sẽ không bao giờ có sự sống mà không có virus, chúng đương thời với sự xuất hiện của chính sự sống. Không có loài vi khuẩn, động vật, thực vật nào mà không có nó. Loài người cũng là một trong các loài này. Chúng ta đã biết thế kỷ 20 có bốn đại dịch virus, ba đại dịch lớn hơn Covid-19: dịch cúm Tây Ban Nha có từ 20 đến 40 triệu người chết trên thế giới; cúm Á châu có 2 triệu người chết; cúm Hồng Kông có 1 triệu người chết; bệnh Sida có 40 triệu người chết từ khi nó xuất hiện. Covid-19 chỉ là đại dịch đầu tiên của thế kỷ 21; và sẽ có các đại dịch khác. Vậy mà trận dịch cuối cùng (cúm Hồng Kông) cách đây 50 năm chúng ta đã quên. Sự lãng quên do hai hiện tượng tâm lý. Hiện tượng đầu tiên là năm 1968-1970 chúng ta đã không nêu bật vì có một hiện tượng tập thể khác đã xảy ra năm 1968 tại nước Pháp! Thứ hai các tiến bộ khoa học và kỹ thuật đáng kinh ngạc trong 50 năm nay đã làm mọi người nghĩ rằng các bối cảnh như vậy là không thể, nhưng trên thực tế chúng cũng không thể tránh được, cũng như nó vẫn vậy trong tương lai và các chuyên gia cũng đã tuyên bố. Sự mong manh của xã hội chúng ta không phải do chính virus, nhưng do con người của thế kỷ 21 sẵn sàng dành phương tiện và nỗ lực phi thường để kiềm chế tác nhân truyền nhiễm chịu trách nhiệm cho đại dịch, cho rằng nó hoàn toàn tầm thường so với các đại dịch khác trong quá khứ. Vì thế lần đầu tiên trong lịch sử nhân loại, thế giới bị tê liệt. Tất nhiên, tổng cộng thiệt hại và chết do hậu quả xã hội, xã hội và kinh tế của đại dịch sẽ vượt xa so với những gì liên quan đến chính Covid-19.
“Để đạt được miễn dịch tập thể, chính thái độ của chúng ta mới tạo ra sự khác biệt”
Với sự phân rã, mệnh lệnh tối thượng của kinh tế và xã hội được ưu tiên hơn so với mệnh lệnh sức khỏe, đây có là điều tốt trong quan điểm của ông không?
Đương nhiên là có!
Theo ông bệnh Covid-19 có buộc phải khai báo như trong trường hợp bệnh dịch tả, bệnh bạch hầu hay sốt xuất huyết không?
Các hội chứng hô hấp nghiêm trọng liên quan đến coronavirus, cũng như sốt xuất huyết do virus phải được lưu ý. Hơn nữa, gần đây luật khẩn cấp y tế đã hoàn thành và mở rộng áp dụng các điều khoản tương tự đối với Covid-19 như đối với một bệnh phải báo cáo.
Cái chết là sự thất bại tối cao vô cùng đau đớn của một xã hội nghĩ mình có khả năng vượt qua mọi trở ngại.
Đại dịch này cho thấy cuộc sống vẫn là thiêng liêng và cái chết bị từ chối trong xã hội của chúng ta … Nó có thể cho phép chúng ta xem lại ý nghĩa của sự tồn tại không?
Trên thực tế, các phản ứng xã hội đối với đại dịch thực sự cho thấy việc chấp nhận tử vong của con người cho một chương trình hoạch định khác là chuyện không thể. Từ đó các phương tiện đã được thực hiện. Chúng ta đã biết hiện tượng này qua chiến tranh, chúng ta có khuynh hướng bác bỏ giả thuyết tổn thất người của mình. Tấn công mà không mất mát mới chấp nhận! Cái chết là sự thất bại tối cao vô cùng đau đớn của một xã hội nghĩ mình có khả năng vượt qua mọi trở ngại.
Đây là lý do tại sao bức tranh về đại dịch này chỉ là nguyên bản bởi phản ứng của các xã hội vào cuối thập kỷ thứ hai của thế kỷ mới đối với một giai đoạn, như tôi đã nói, đây không phải là một ngoại lệ. Sự thất bại của cái chết có thể dẫn đến việc che giấu nó. Nhưng điều ngược lại là điều chúng ta đã quan sát. Để bi thảm hóa tình trạng, biện minh cho các phương tiện và các hy sinh, chắc chắn phải kịch tính hóa cái chết, trong cách mà mỗi buổi chiều Tổng Giám đốc Y tế, đôi khi là chính Bộ trưởng Y tế cho chúng ta ‘thưởng thức’ một bản tổng kết chi tiết.
Điều đã đóng góp nhiều nhất trong những tuần cách ly là “xem lại ý nghĩa của sự tồn tại” là phản ứng cực kỳ sống động của người lớn tuổi và yếu đuối trước hoàn cảnh bắt họ cách ly và duy trì tình trạng này không giới hạn với lý do họ mong manh. Thực tế, những người này cho thấy họ muốn sống, chắc chắn với thời gian, họ được sống, sống chứ không phải chỉ để tránh chết. Trong bất cứ trường hợp nào, sự tồn tại không giới hạn trong mục tiêu này. Không chết chỉ có một mục tiêu duy nhất, đó là tận dụng để sống thời gian còn lại của mình, sống và vui mừng khi sống.
Giuse Nguyễn Tùng Lâm dịch
