2020
Cảm xúc tháng Sáu
CẢM XÚC THÁNG SÁU
Tháng Sáu được Giáo hội dành để kính Thánh Tâm Chúa Giêsu. Kính nhớ Tình Thương Cứu Độ của Thiên Chúa được tỏ bày ra nơi con người Đức Giêsu và nhất là trong cái chết trên thập giá vì tội lỗi con người.

Mùa Hè đã đến từ những ngày tháng Năm với tiếng ve sầu kêu rỉ rả. Những chú ve với vòng đời ngắn ngủi cố gắng ngân lên khúc hòa âm cuối trước khi tắt lịm trở thành những cái xác không hồn rụng rơi trên đất. Chợt giật mình thảng thốt…. Lại sắp hết nửa vòng tuần hoàn nữa, sao thời gian trôi đi nhanh thế! Mái tóc xưa xanh mướt giờ đã điểm sương muối để rồi mỗi năm Hè đến, những cảm xúc tháng Sáu lại trỗi dậy hòa lẫn vào thời tiết đất trời.
Tháng Sáu, hè vẫn râm ran trên những tán lá. Những chùm phượng vẫn thắm đỏ như những đốm lửa rực hồng trên những tàn cây bên đường cùng những cánh hoa bằng lăng tím ngắt và sắc vàng hoa điệp lung linh …. Nắng vẫn hừng hực như đổ lửa. Hơi nóng hầm hập trải dài trên đường phố, len lỏi qua từng ngóc ngách, đeo dính vào cảm giác con người từ những ngày sang hạ.
Nhưng cuộc sống vẫn tiếp diễn, con người vẫn phải căng mình ra dưới nắng rát vì cuộc mưu sinh. Những mầm cây, những tán lá xanh non vẫn khe khẽ cựa mình đón ánh nắng chói chang như để bớt già cỗi cùng thời gian, năm tháng…. Nắng tháng Sáu làm lòng người nhớ những cơn mưa rào bất chợt. Tiếng ve sầu chợt ngừng lại, lắng đọng trong cái không khí oi nồng. Tiếng sấm động xa xa rồi những cơn mây dông ùn ùn kéo đến bủa vây báo hiệu cơn mưa đang đến.
Mưa rào mùa hạ rơi nhanh, đập mạnh nhưng phũ phàng, dứt khoát giống như ly nước lạnh làm mát dịu cõi lòng và giúp tâm trí nguội đi những nghĩ suy nóng nảy. Mưa đổ ào ào như trút hết những hạt mưa trên cao thấm sâu vào lòng đất để cây lá căng tràn nhựa sống và những mầm xanh nẩy chồi thức giấc. Những cơn mưa mát lịm làm dịu đi cái nắng hè oi ả, gội mát lòng người. Những cơn mưa thất thường, mau đến và vội đi để cho nắng lại lên, lộ ra một bầu trời trong trẻo tinh khôi, như một tâm hồn thanh khiết được lọc rửa những bụi trần.
Tháng Sáu được Giáo hội dành để kính Thánh Tâm Chúa Giêsu. Kính nhớ Tình Thương Cứu Độ của Thiên Chúa được tỏ bày ra nơi con người Đức Giêsu và nhất là trong cái chết trên thập giá vì tội lỗi con người. Trái Tim hiền lành và khiêm nhường đã bị lưỡi đòng chọc mở ra trên cây Thánh Giá. Từ đó Máu và Nước đã tuôn trào đến giọt cuối cùng để nhiều tội nhân được hưởng nhờ Lòng Thương Xót của Thiên Chúa. Nước để làm cho các linh hồn trở nên công chính và Máu để ban sự sống cho các linh hồn.
Vì thế tôn thờ và chiêm niệm Trái Tim Chúa là học hỏi về sự hiền lành và khiêm nhường vì chính Chúa Giêsu đã phán: “Các ngươi hãy mang lấy ách của Ta, và hãy học cùng Ta, vì Ta hiền lành và khiêm nhường trong lòng.” (Mt 11, 29). Với tôi, tháng kính Thánh Tâm Chúa Giêsu còn cưu mang và cho tôi được sinh ra trong cái nôi ấm áp ngày 17 và cũng đón cha tôi về yên nghỉ trong ngày mồng ba.
“Chúa đã yêu thương và tuyển chọn các ngươi” (Dnl 7,6). Tháng Sáu năm nay cũng là thời điểm Ban chấp hành (BCH) Gia đình Phạt tạ Thánh Tâm Chúa Giêsu nhiệm kỳ 2020-2023 các cấp được bình chọn theo Nội quy mới ra mắt và tuyên hứa. Thực thi vai trò trách nhiệm của người giáo dân trong việc cộng tác với Giáo hội loan báo và làm chứng nhân Tin Mừng của Chúa Giêsu, Đấng cứu độ nhân loại.
Đây là những đoàn viên có tinh thần đạo đức, có năng lực và tinh thần trách nhiệm, có điều kiện tich cực dấn thân hi sinh phục vụ, biết cộng tác gắn bó mật thiết trong sinh hoạt đoàn thể, nhiệt thành cộng tác với Giáo hội địa phương để thực thi hiệu quả sứ vụ Tông đồ như trong thư gởi cộng đồng dân Chúa ngày 05-05-2020, Hội đồng Giám Mục VN đã mời gọi: “Cách riêng với những anh chị em đang tích cực sống ơn gọi Tông đồ giáo dân, chúng tôi khuyến khích anh chị em can đảm dấn thân, trở thành muối men và ánh sáng (X. Mt 5,13-17) trong môi trường anh chị em đang sống và làm việc, góp phần xây dựng Nước Thiên Chúa ngay tại trần gian này.”
Ơn gọi của chúng ta đều là ơn ban từ Chúa Quan Phòng. Chúa mời gọi chúng ta trở nên Tông đồ của Ngài ngay trong môi trường mình đang sống và trong khả năng hạn hẹp của mình. “Không phải anh em đã chọn Thầy, nhưng chính Thầy đã chọn anh em, và cắt cử anh em để anh em ra đi, sinh được hoa trái, và hoa trái của anh em tồn tại, hầu tất cả những gì anh em xin cùng Chúa Cha nhân danh Thầy, thì Người ban cho anh em…” (Ga 15, 16)
Như dụ ngôn thợ làm vườn nho (x. Mt 20,1-16), chúng ta được mời gọi vào làm vườn nho của Chúa. Tất cả đều được đặt ngang hàng với nhau dù được phân công phục vụ với các chức danh khác nhau. Không phải đồng hàng trong cái hư danh do con người đặt ra, nhưng đồng hàng dưới đôi mắt nhân lành của Thiên Chúa. Ngài không xét đoán chúng ta theo tài năng và công trạng nhưng chỉ xét đoán theo tình yêu của Ngài và chúng ta phải “lấy tình yêu đáp lại tình yêu”
Nguyện xin Thánh Tâm Chúa Giêsu tuôn đổ những cơn mưa Tình Yêu của Người trong trái tim chúng con. Xin cho trái tim chúng con luôn rộng mở, để chúng con kín múc được những nguồn mạch thâm sâu của Tin Mừng. Một trái tim hiền lành biết mở ra đón nhận những đóng góp, phê bình của anh em. Một trái tim khiêm nhường biết từ bỏ cái tôi để tiếp thu những điều chưa biết thay vì tranh cãi, lí luận đủ điều để bảo vệ những thiếu sót, khiếm khuyết của mình.
Xin cầu chúc các anh em tân BCH các cấp trở thành những vị Tông đồ nhiệt thành loan truyền Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô cùng mở rộng Nước Chúa là Nước chan hoà ánh sáng Chân Lý và Tình Yêu, ánh sáng an bình. Amen. Jos. Hoàng Mạnh Hùng
2020
Cha Michael McGivney: Một nạn nhân Coronavirus sẽ sớm được phong Chân Phúc
Tìm kiếm một vị thánh trong thời gian Covid-19 đầy rắc rối này? Hãy nhìn đến không ai khác ngoài Bậc Đáng Kính Cha Michael McGivney, nhà sáng lập Knights of Columbus, một vị đã qua đời trong một nạn dịch coronavirus vào năm 1890.
Nạn dịch coronavirus đã lật đổ cuộc sống của chúng ta và lấy đi một vài sự an toàn mà xã hội của chúng ta đang dựa vào.
Trong thời gian khó khăn này, nhiều người đang tìm kiếm sự giúp đỡ để làm cho dịch này có ý nghĩa. Thời gian tôn vinh truyền thống Công Giáo của việc khẩn cầu các vị nam nữ đã có sự thánh thiện được chứng tỏ để chuyển cầu cùng với Chúa Cha cho chúng ta mang lại một con đường của bình an và niềm tin thẳm sâu vào Thiên Chúa.
Nạn nhân Coronavirus
Với điều đó ở trong tư tưởng, có lẽ Bậc Đáng Kính Cha Michael McGivney là một chọn lựa tốt lành.
Vị linh mục người Mỹ đã qua đời vì chứng viêm phổi vào năm 1890 trong thời gian mà một số người trong giới khoa học hiện tại sẽ nói rất có thể là dịch coronavirus. Khoảng 1 triệu người đã qua đời vì nạn dịch này.
Gần đây Đức Giáo Hoàng Phanxicô đã nhìn nhận một phép lạ thuộc về Cha McGivney, mở đường cho việc phong chân phúc cho Ngài. Cha McGivney đã sáng lập nên tổ chức Knights of Columbus, một tổ chức phục vụ mang tính huynh đệ của những người giáo dân Công Giáo.
Cha McGivney, cầu cho chúng con
Trong một cuộc phỏng vấn với Vatican News, Chiến Sĩ Tối Cao Carl Anderson nói rằng việc nhìn nhận phép lạ diễn ra tại một thời điểm thuận tiện đối với Giáo Hội.
Cha McGivney “đã chịu khổ và qua đời giống như quá nhiều người Mỹ và người khác trên khắp thế giới”, ông nói.
“Vì thế giờ đây khi chúng ta nói ‘Cha McGivney, cầu cho chúng con’, thì chúng ta có ai đó đang ở đó và trải qua gian khó này. Tôi nghĩ những lời cầu nguyện của Ngài sẽ rất mang tính cá nhân”.
Sự xác nhận về gương của Ngài
Ông Anderson đã cho biết việc phong chân phúc sắp tới của Cha McGivney “xác nhận điều mà chúng ta nghĩ về đời sống thánh thiện của Ngài và động lực của Ngài đối với hàng triệu người nam nữ trong hơn một thế kỷ”.
Từ những khởi đầu khiêm tốn vào năm 1882 tại một giáo xứ ở New Haven, Connecticut, Knights of Columbus giờ đã có hơn 16,000 hội đồng ở các nước trên khắp thế giới.
Các Chiến Sĩ từ Hoa Kỳ, Philippines, Mexico, Canada, Pháp, Ba Lan, Ukraine, và Hàn Quốc có thể nhìn đến nhà sáng lập tổ chức của họ với niềm tin vào gương thánh thiện của Ngài.
“Hầu như mỗi ngày chúng tôi đều có một sự hiểu biết sau về việc sống đời sống hiệp nhất và huynh đệ nghĩa là gì, và chúng tôi thêm nguyên tắc ái quốc, vốn quan trọng đối với Cha McGivney”, ông Anderson cho biết.
Lòng bác ái huynh đệ
Trích lời mời gọi thường xuyên của Đức Giáo Hoàng Phanxicô về một xã hội “huynh đệ” hơn, Chiến Sĩ Tối Cao nói Vị Chân Phúc sắp tới có cách tiếp cận tương tự với bác ái.
“Không phải là về việc viết một tờ ngân phiếu giá trị lớn hơn hay đặt thêm vài đô la hay euro vào trong giỏ quyên góp”, ông nói. “Đó là về việc nhìn vào người thân cận của bạn như là anh chị em và khi họ khó khăn, hãy giúp họ”.
Cộng đồng giáo dân Công Giáo
Qua lịch sử, những dòng tu lớn đã xuất hiện để đáp ứng nhu cầu trong Giáo Hội.
“Thế còn về người giáo dân Công Giáo?” ông Anderson tự hỏi. “Thế con người không thể thực hiện lòi khấn khó nghèo vì người ấy lập gia đình, có một gia đình, và phải làm việc trong thế giới và hỗ trợ gia đình mình?”
Cha Michael McGivney, ông cho biết, mang lại cho người giáo dân Công Giáo một cộng đồng huynh đệ nơi mà người ấy “có thể gặp gỡ những người khác để coi họ là anh em, những người sẽ giúp nhau, những người quan tâm nhau, và cũng có thể có một đời sống thiêng liêng cùng nhau”.
Chiến Sĩ Tối Cao Carl Anderson cho biết đây là chìa khoá cho sự thành công của Knights of Columbus.
Joseph C. Pham (Vatican News)
2020
Tôn vinh Chúa Ba Ngôi trong cuộc sống Ki-tô hữu
Trong trình thuật việc Đức Giê-su chịu phép rửa tại sông Gio-đan, thánh Mác-cô đã tóm tắt mấy dòng sau đây: “Hối ấy, Đức Giê-su từ Na-gia-rét miền Ga-li-lê đến, và được ông Gio-an làm phép rửa dưới sông Gio-đan. Vừa lên khỏi nước, Người liền thấy các tầng trời xé ra, và thấy Thần Khí tựa chim bồ câu ngự xuống trên mình. Lại có tiếng từ trời phán rằng: ‘Con là con yêu dấu của Cha, Cha hài lòng về Con’” (Mc 1, 9-11).
Một bức tranh chấm phá nhẹ nhàng, nhưng rất sinh động, rất ý nghĩa, đầy ấn tượng về sự hiện diện của Cha và Thánh Thần trong giờ phút linh thiêng, giới thiệu và chuẩn nhận nguồn gốc, vai trò, sứ mệnh của Con, Đức Giê-su Na-da-rét, Ngôi Hai Thiên Chúa làm người. Đây cũng là một cách nhìn thần học rất sâu sắc của thánh sử về một biến cố đặc biệt, về một mầu nhiệm quan trọng trong cuộc đời của Đức Giê-su.
Thực ra, không phải chỉ có lúc xảy ra phép rửa ở sông Gio-đan chúng ta mới nghe nói về Ngôi Cha, về Ngôi Thánh Thần, mà qua Tin Mừng, chúng ta có thể dễ dàng nhận ra việc Đức Giê-su luôn sống, hoạt động, suy nghĩ và cầu nguyện với Cha.
Thánh Lu-ca đã tường thuật ngắn về việc Đức Giê-su lúc mười hai tuổi, ngồi giữa các bậc thầy Do thái ở Đền Thờ Giê-ru-sa-lem, vừa nghe họ, vừa đặt câu hỏi. Khi cha mẹ Ngài là ông Giu-se và bà Ma-ri-a tìm thấy Ngài trong Đền Thờ, lên tiếng hỏi về việc lạc mất con, Ngài đã trả lời: “Sao cha mẹ lại tìm con? Cha mẹ không biết là con có bổn phận ở nhà của Cha con sao?” (x. Lc 2, 41-50).
Câu nói trên của Đức Giê-su vừa là một trả lời vấn nạn của cha mẹ, vừa là một khẳng định về mạc khải mối quan hệ đặc biệt giữa Ngài và Cha của Ngài. Thực vậy, trong cuộc đời tại thế của mình, Đức Giê-su đã chứng tỏ Ngài luôn hiện diện với Cha, luôn thực hiện chương trình cứu độ mà Cha đã trao cho Ngài. Đức Giê-su đã từng nói: “Cho đến nay, Cha tôi vẫn làm việc, thì tôi cũng làm việc” (Ga 5, 17).
Quả vậy, Đức Giê-su Na-da-rét tràn đầy kinh nghiệm sống với Cha và kinh nghiệm hiệp thông trong Thánh Thần. Những kinh nghiệm ấy Ngài muốn chia sẻ với chúng ta. Thánh Gio-an đã quả quyết: “Không ai đã thấy Thiên Chúa bao giờ; nhưng Con Một là Thiên Chúa và là Đấng hằng ở nơi cung lòng Chúa Cha, chính Người đã tỏ cho chúng ta biết” (Ga 1, 18).
- Đức Giê-su chia sẻ kinh nghiệm về Chúa Cha
Trong đời sống tại thế của mình, Đức Giê-su không bao giờ tỏ ra là người sống đơn độc, ngay cả khi bị thử thách nhất, lúc cái chết gần kề, Ngài cũng cảm thấy Cha đang có mặt để nghe Ngài than thở: “Cha ơi, nếu Cha muốn, xin tha cho con khỏi uống chén này. Tuy vậy, xin đừng làm theo ý con, mà xin theo ý Cha” (Lc 22, 42).
Quả thực, trong bất kỳ hoàn cảnh nào và với tâm trạng nào, Đức Giê-su luôn luôn hiện diện với Cha để sống tâm tình của một người con đích thực.
- Ngài luôn vâng lời và trung tín: “Lương thực của Thầy là thi hành ý muốn của Đấng đã sai Thầy, và hoàn tất công trình của Người” (Ga 4, 34).
- Ngài quan tâm lo lắng chu toàn bổn phận: “Sao cha mẹ lại tìm con? Cha mẹ không biết là con có bổn phận ở nhà của Cha con sao?” (Lc 2, 49).
- Ngài được Cha tin tưởng và yêu mến: “Quả vậy, Đấng được Thiên Chúa sai đi thì nói những lời của Thiên Chúa, vì Thiên Chúa ban Thần Khí cho Người vô ngần vô hạn. Chúa Cha yêu thương Người Con và đã giao mọi sự trong tay Người” (Ga 3, 34-35).
- Ngài tuyệt đối trung thành đường lối của Cha: “Đạo lý tôi dạy không phải là của tôi, nhưng là của Đấng đã sai tôi” (Ga 7, 16).
- Ngài hoàn toàn hy sinh vì sứ vụ: “Mạng sống của tôi, không ai lấy đi được, nhưng chính tôi tự ý hy sinh mạng sống mình. Tôi có quyền hy sinh và có quyền lấy lại mạng sống ấy. Đó là mệnh lệnh của Cha mà tôi đã nhận được” (Ga 10, 18).
- Ngài phản ánh cách tuyệt vời dung mạo của Cha: “Ai thấy Thầy là thấy Chúa Cha” (Ga 14, 9).
- Ngài coi trọng tuyệt đối việc thực thi ý Cha: “Phàm ai thi hành ý muốn của Cha tôi, Đấng ngự trên trời, người ấy là anh chị em tôi, là mẹ tôi” (Mt 12, 50).
- Ngài tín thác tuyệt đối nơi Cha: “Lạy Cha, con xin phó thác hồn con trong tay Cha” (Lc 23, 46).
Riêng thánh Phao-lô đã tóm tắt cách sâu đậm sứ mệnh thiên sai của Đức Giê-su như sau:
“Đức Giê-su Ki-tô vốn dĩ là Thiên Chúa mà không nghĩ phải nhất quyết duy trì địa vị ngang hàng với Thiên Chúa, nhưng đã hoàn toàn trút bỏ vinh quang mặc lấy thân nô lệ, trở nên giống phàm nhân sống như người trần thế. Người lại còn hạ mình, vâng lời cho đến nỗi bằng lòng chịu chết, chết trên cây thập tự” (Pl 2, 6-8).
Kinh nghiệm của Đức Giê-su đã củng cố niềm tin của chúng ta vì sau này, qua Hội thánh Chúa Ki-tô, chúng ta được thừa kế ân huệ làm nghĩa tử thần linh của Chúa Cha trong và nhờ Chúa Ki-tô. Chúng ta cũng được quyền gọi Thiên Chúa là Cha như Đức Giê-su Ki-tô đã gọi.
- Đức Giê-su chia sẻ kinh nghiệm về Thánh Thần
Linh mục Amédée Brunot trong cuốn “Bàn tiệc Khôn ngoan” đã viết như sau: “Thần Khí đã đạt đến mức hoàn hảo trong nhân vị của Đức Giê-su Nadarét, con người mang Thần Khí một cách tiêu biểu. Được thụ thai trong lòng trinh nữ Ma-ri-a do Thần Khí, được Thần Khí đưa ra mắt hôm chịu thanh tẩy ở sông Gio-đan, được Thần Khí hướng dẫn suốt cuộc đời, được Thần Khí mạc khải qua cái chết”.[1]
Thực vậy, Thánh Thần hiện diện với Ngôi-Con-nhập-thể như một sức mạnh nội tại và nguồn lực thâm sâu, thường xuyên và mạnh mẽ. Suốt cuộc đời thực thi sứ vụ thiên sai của mình, Đức Giê-su luôn được nâng đỡ, hướng dẫn, hỗ trợ bởi Thánh Thần, Đấng mà Ngài đã lãnh nhận lúc chịu phép rửa:
“Thần Khí Chúa ngự trên tôi,
Vì Chúa đã xức dầu tôn phong tôi,
Để tôi loan báo Tin Mừng cho kẻ nghèo hèn” (Lc 4, 18).
Vì được Thiên Chúa ban Thần Khí vô ngần vô hạn (x. Ga 3, 34), nên Đức Giê-su sung mãn kinh nghiệm sống trong và với Thánh Thần. Ngài cũng muốn chia sẻ cho chúng ta kinh nghiệm hiệp thông với Thánh Thần. Hiệp thông để có sức mạnh hoàn thành sứ mệnh cứu chuộc và hoàn tất cuộc Vượt Qua đầy gian khổ.
- Sức mạnh chống chọi cám dỗ thử thách: “Bấy giờ Đức Giê-su được Thần Khí dẫn vào hoang địa, để chịu quỷ cám dỗ…” (x. Mt 4, 1-11).
- Sức mạnh để chu toàn sứ vụ: “Nếu tôi dựa vào Thần Khí của Thiên Chúa mà trừ quỷ, thì quả là triều đại Thiên Chúa đã đến giữa các ông” (Mt 12, 28).
- Sức mạnh để tái sinh, đổi mới toàn diện: “Không ai có thể vào Nước Thiên Chúa, nếu không sinh ra bởi nước và Thần Khí” (Ga 3, 5).
- Sức mạnh để bước vào sự thờ phượng Thiên Chúa một cách mới mẻ, chính đáng và chân thật: “Nhưng giờ đã đến – và chính là lúc này đây – giờ những người thờ phượng đích thực sẽ thờ phượng Chúa Cha trong thần khí và sự thật, vì Chúa Cha tìm kiếm những ai thờ phượng Người như thế” (Ga 4, 23).
- Sức mạnh để vượt thắng mọi sóng gió nguy nan: “Chính Thầy đây, đừng sợ!” (Ga 6, 20).
- Sức mạnh để yêu mến và tuân giữ các lệnh truyền của Thiên Chúa: “Ai yêu mến Thầy, thì sẽ giữ lời Thầy. Cha của Thầy sẽ yêu mến người ấy. Cha của Thầy và Thầy sẽ đến và ở lại với người ấy… Đấng Bảo Trợ là Thánh Thần Chúa Cha sẽ sai đến nhân danh Thầy, Đấng đó sẽ dạy anh em mọi điều và sẽ làm cho anh em nhớ lại mọi điều Thầy đã nói với anh em” (x. Ga 14, 22-26).
- Sức mạnh để làm chứng cho sự thật: “Khi Đấng Bảo Trợ đến, Đấng mà Thầy sẽ sai đến với anh em từ nơi Chúa Cha, Người là Thần Khí sự thật phát xuất từ Chúa Cha, Người sẽ làm chứng về Thầy. Cả anh em nữa, anh em cũng làm chứng, vì anh em ở với Thầy ngay từ đầu” (Ga 15, 26-27).
- Tôn vinh Chúa Ba Ngôi trong đời sống Ki-tô hữu
Đức Giê-su chẳng những chia sẻ cho ta kinh nghiệm về Ngôi Cha và Thánh Thần, mà Ngài còn ban ơn giúp ta sống trọn vẹn tình nghĩa con thảo với Cha trong Thánh Thần. Chúng ta đang sống thời kỳ hậu-Phục-sinh, nên có đủ ơn huệ dồi dào và điều kiện cần thiết để hiệp thông cách sâu xa với Thiên Chúa Ba Ngôi.
Linh mục Amédée Brunot cũng đã khẳng định: “Ba Ngôi thần linh muốn sống bên trong mỗi một chúng ta. Thiên đàng của Ba Ngôi chẳng phải là nơi thần thoại nào, nhưng chính là tâm hồn của ta…”[2]
Bản thân và cuộc sống Ki-tô hữu chúng ta, vì đã mặc lấy Đức Ki-tô nên trở thành đền thờ của Thiên Chúa và cũng là của lễ toàn thiêu làm đẹp lòng Thiên Chúa nhất. Chúng ta đã được ơn tái sinh, ơn gia nhập cộng đoàn cứu độ, ơn được làm con cái Thiên Chúa, ơn làm anh em nghĩa thiết với Đức Ki-tô. Với những ơn ấy, chúng ta không ngừng cảm tạ và tôn vinh Thiên Chúa bằng cách tích cực sống đạo.
Đó là điều mà chính Chúa Giê-su đã truyền dạy: “Chính anh em là ánh sáng cho trần gian… Ánh sáng của anh em phải chiếu giãi trước mặt thiên hạ, để họ thấy những công việc tốt đẹp anh em làm, mà tôn vinh Cha của anh em, Đấng ngự trên trời” (x. Mt 5, 14-16).
“Những công việc tốt đẹp” không gì khác hơn là những hoa trái của một đời sống đạo chân chính và tích cực.
Đó là thi hành trọn vẹn, mọi nơi mọi lúc, thánh ý Thiên Chúa theo ơn gọi của mình.
Đó là nêu gương sáng chứng nhân Ki-tô hữu giữa trần gian.
Đó là thực thi bác ái Ki-tô giáo một cách hoàn hảo và sâu đậm.
Đó là theo gương Chúa Ki-tô và các tông đồ hiến tế đời mình theo lời mời gọi của Tin Mừng
Đó là để cho Chúa Thánh Thần hướng dẫn, vững bước đi theo đường lối của Chúa chỉ dẫn, xứng đáng với tư cách là con cái Thiên Chúa.
Đó là biết đồng cảm với những thao thức của Chúa và Hội thánh, biến những điều đó thành mối quan tâm của chính mình.
Tóm lại, sự tôn vinh Chúa Ba Ngôi sẽ là hoàn hảo và tuyệt vời, khi chúng ta sống đầy ắp tâm tình của Đức Giê-su Ki-tô, khi chúng ta cảm nhận trong tin yêu tình yêu bao la của Cha và khi chúng ta hiệp thông sâu xa trong Thánh Thần./.
[1] A. Brunot, diễn giải Lời Chúa CN lễ Hiện Xuống năm A q. I, Editions Salvator, Mulhouse 1980, trang 99
[2] A. Brunot, Sđd trang 104
Aug. Trần Cao Khải
2020
Những gương mặt của Giáo hội đã chống lại sự phân biệt chủng tộc
Những gương mặt của Giáo hội đã chống lại sự phân biệt chủng tộc
Dù đó là những bậc thánh nhân, chân phước hay đáng kính, Giáo hội cũng có rất nhiều gương mặt mà trong suốt cuộc đời họ đã chống lại sự phân biệt chủng tộc. Aleteia mời bạn khám phá vài người trong số họ khi các cuộc biểu tình tố cáo phân biệt chủng tộc ở nước Mỹ lan rộng.
“Phân biệt chủng tộc là một bệnh dịch”, Thánh Gioan Phaolô II từng nhắc lại trong một bài giảng của Ngài. Khi các cuộc biểu tình chống phân biệt chủng tộc và bạo lực của cảnh sát đang lan rộng ở các thành phố trên khắp nước Mỹ, nhiều người đã lên tiếng trong nhiều thế kỷ. Trong số đó, một số nhân vật của Giáo hội ít được công chúng biết đến nhưng sự dấn thân của họ thật không thể phủ nhận.
- CHÂN PHƯỚC PIERRE KASUI KIBE (1587 – 1639)
Sinh ra ở Nhật Bản có cha mẹ là Kitô hữu, Pierre Kasui Kibe từ rất sớm đã cảm thấy được mời gọi gia nhập Dòng Tên. Bị lưu đày cùng với số lượng lớn Kitô hữu, sau đó Ngài đến Macau để học tiếng Latin và học thần học. Nhưng tại Macau, lãnh thổ Bồ Đào Nha, người Nhật không được nhận vào chức linh mục. Theo đuổi ước muốn trở thành linh mục, Pierre Kasui Kibe sau đó đã tới Goa, nơi anh cũng bị từ chối.
Không nản lòng hay tức giận vì sự phân biệt đối xử này, anh đã thực hiện một hành trình dài đến Rome để cuối cùng được thụ phong linh mục vào tháng 11 năm 1620. Trở thành một tu sĩ Dòng Tên, cha trở về Nhật Bản để phục vụ các Kitô hữu bị bắt bớ đang sống chui. Bản thân cha cũng bị bắt, bị tra tấn và sau đó bị xử tử vì đức tin.
Ngài được phong chân phước vào ngày 24 tháng 11 năm 2008 tại Nagasaki, cùng với 187 vị tử đạo khác. Giáo hội tưởng nhớ Ngài vào ngày 4 tháng 7.
- CHERABA TERESA CHIKABA (1676 – 1748)
Giống như thánh Josephine Bakhita, Teresa Chikaba, đến từ Ghana, bị bắt cóc và bán làm nô lệ khi cô còn nhỏ. Mặc dù được bà chủ Tây Ban Nha đối xử tốt, Teresa Chikiba dù sao cũng là nô lệ và phải chịu những lời lăng mạ, chế nhạo phân biệt chủng tộc và đánh đập bởi những người hầu khác trong nhà. Sau cái chết của bà chủ, chị được trả tự do và muốn vào tu viện. Mặc dù thực tế rằng chị được tự do và có một số tài sản được thừa kế từ bà chủ, chị tiếp tục bị từ chối đội lúp dòng. Cuối cùng, chị được phép vào một tu viện Đa Minh ở Salamanca nhưng bị buộc phải sống ở đó với tư cách là một người hầu hơn là một nữ tu. Tuy nhiên, chị vẫn trung thành với Chúa và tận hiến cuộc đời cho Ngài.
- FRANÇOIS DE PAULE VICTOR (1827 – 1905)
Sinh ra là một nô lệ từ người cha vô danh, ở Brazil, François de Paule Victor, khi còn là một thiếu niên, đã cảm thấy ước muốn tận hiến cuộc đời mình cho Chúa. Anh trình bày điều đó với ông chủ của mình, ông đã lôi anh xuống đường và đánh anh dữ dội. Nhưng chàng trai trẻ vẫn kiên trì và thành công trong việc thuyết phục Đức Cha Antônio Ferreira Viçoso, giám mục của mình, người sau này cũng trở nên bậc đáng kính, người quyết định đưa cho anh làm chủng sinh. Là người da đen duy nhất trong chủng viện, nên ít nhất là anh phải chịu đựng sự khinh bỉ và chế nhạo của người khác. Nhưng qua nhiều ngày, lòng tốt và sự rạng rỡ của anh khiến người khác im lặng. Khi được phong chức linh mục, nhiều giáo dân da trắng đã từ chối rước lễ từ tay ngài. Ở đây một lần nữa, tìm cách đến gần Chúa hàng ngày, Cha François de Paule Victor, qua cuộc sống hàng ngày, đã thành công trong việc bịt miệng những lời nhạo báng, lăng mạ và miễn cưỡng và trở thành một nhân vật tốt bụng trong cộng đồng của mình. Ngài được mừng lễ vào ngày 23 tháng 9.
- CHÂN PHƯỚC CEAXINO NAMUNCURÁ (1886 – 1905)
Ceferino Namuncurá là người may mắn đầu tiên được sinh ra ở Argentina. Là con trai của một thủ lĩnh của bộ lạc Mapuche, một người dân bản địa sống ở Chile và Argentina, anh cảm thấy rất khao khát Chúa trong lòng và xin phép cha cho học tại Buenos Aires.
Vì là người bản địa duy nhất trong lớp, anh là mục tiêu của những trò nhạo báng và phân biệt chủng tộc độc ác. Nhưng nếu những lời nói đó làm tổn thương anh, thì hành vi của anh đã thể hiện lòng tốt đối với mọi người. Cuối cùng anh vào Dòng Sa-lê-diêng với ước mong trở thành linh mục, nhưng anh đã chết vì bệnh lao vào năm 18 tuổi.
“Ceferino là sự phản chiếu chân thực và là hoa trái từ các giá trị của các dân tộc mà Giáo hội đánh giá cao và khuyến khích,” Đức giám mục của Ngài nói sau đó. Ngài được kính nhờ vào ngày 11 tháng Năm.
- CHÂN PHƯỚC ISIDORE BAKANJA (1887 – 1909)
Một giáo lý viên nơi các cha dòng Trappist ở Mbandaka, Zaire (nay là Cộng hòa Dân chủ Congo), Isidore Bakanja làm công trong một đồn điền cao su. Anh không ngại nói lên tình yêu của mình dành cho Chúa và khao khát giới thiệu Chúa Giêsu cho mọi người mà anh biết.
Nhưng ông chủ của anh, kẻ đã từ chối bài diễn văn của Giáo hội về sự bình đẳng và không cho phép anh được đọc kinh Mân côi, rồi đã đánh anh đến chết. Anh chết vì những vết thương sau khi đã tha thứ cho những kẻ tấn công mình.
Thánh Gioan Phaolô II phong chân phước cho anh vào năm 1984 và Isidore Bakanja được kính nhớ vào ngày 12 tháng 8. Meg Hunter Kilmer
Đình Chẩn dịch từ Fr.aleteia.org
