2020
Môi trường sinh thái dưới nhãn quan Thần học của Thông điệp Laudato si’
– Với Laudato Si’ (viết tắt: LS), Thông điệp về việc chăm sóc Ngôi nhà chung của chúng ta, Đức Phanxicô muốn gửi đến mọi người trên thế giới, cách riêng các tín hữu Công giáo, một lời mời gọi khẩn thiết về việc chăm sóc môi trường thiên nhiên đang bị hủy hoại bởi chính bàn tay con người. Sau chương I với tiêu đề: “Điều gì đang xảy ra cho ngôi nhà chung của chúng ta”, đề cập vắn tắt đến một số khía cạnh của cuộc khủng hoảng sinh thái hiện nay, Đức Phanxicô bắt đầu phần trọng tâm của Thông điệp bằng chương II, được coi như nền tảng thần học của chương trình bảo vệ môi trường sinh thái mà Thông điệp muốn nhắm đến: “Tôi sẽ suy xét một số nguyên tắc được lấy từ truyền thống Do thái – Kitô giáo là truyền thống có thể làm cho sự dấn thân của chúng ta đối với môi trường được thống nhất hơn” (LS 15).
Lý do của việc đưa ra nền tảng thần học này được ngài chia sẻ ở ngay phần đầu chương II: “Hơn thế nữa, dù Thông điệp này đón nhận việc đối thoại với mọi người để cùng nhau tìm kiếm những con đường giải thoát, tôi vẫn muốn ngay từ đầu cho thấy những xác tín có thể mang lại cho các Kitô hữu, và một số những người thuộc niềm tin khác nữa, động lực mạnh mẽ để chăm sóc thiên nhiên và những người yếu đuối nhất trong số những anh chị em của chúng ta” (LS 64).
Trong ý hướng đó, ngài đặt tiêu đề cho chương II là “Tin mừng về sáng tạo”, được mở đầu bằng thuật trình của sách Sáng Thế và kết thúc bằng giáo huấn của Đức Kitô trong các sách Tin Mừng. Nhờ nối kết sách Tin Mừng với sách Sáng Thế, chúng ta thấy “mầu nhiệm Đức Kitô là ánh sáng quyết định soi tỏ mầu nhiệm tạo dựng”.[1] Chính Thánh Phaolô cũng đã nhấn mạnh sự liên tục giữa Tin Mừng và Cựu Ước: Tin Mừng là sự mạc khải mầu nhiệm được ẩn giấu từ muôn đời, nhưng nay được tỏ hiện (x. Rm 16,25t). Thực vậy, phải chờ đến lúc Đức Kitô xuất hiện, thì mầu nhiệm Thiên Chúa tạo thành mới được mạc khải trọn vẹn (x. Ga 1 và Ep 1).
Dưới ánh sáng Tin Mừng, các mạc khải Thánh Kinh Cựu Ước về vũ trụ thiên nhiên được trở nên sáng tỏ, qua đó chúng ta có thể thấy rõ ràng chương trình sáng tạo và cứu độ thế giới đã, đang và sẽ được thực hiện như thế nào, và mỗi người trên thế giới được mời gọi cộng tác vào chương trình ấy, qua việc bảo tồn, phát triển và hoàn thiện môi trường thiên nhiên.
I. MẠC KHẢI THÁNH KINH VỀ CÔNG TRÌNH SÁNG TẠO
1. Vũ trụ được tạo thành bởi Đấng Tạo Hóa là Cha Tình Thương
Đây là tín điều đầu tiên và căn bản nhất trong bản tuyên xưng đức tin hay còn gọi là Kinh tin kính hay Tín biểu của Kitô giáo.[2] Thực vậy, lời tuyên tín đầu tiên trong Tín biểu của các Tông đồ là: “Tôi tin kính Đức Chúa Trời là Cha phép tắc vô cùng dựng nên trời đất”, và trong Tín biểu của Công đồng Nicea-Constantinopoli là: “Tôi tin kính một Thiên Chúa là Cha toàn năng, Đấng tạo thành trời đất muôn vật hữu hình và vô hình”. Cả hai lời tuyên tín căn bản này đều nói lên niềm tin vào Thiên Chúa vừa là Đấng Tạo Hóa toàn năng vừa là Cha.
Qua việc trích dẫn lần lượt các đoạn Thánh Kinh Cựu Ước và Tân Ước, Thông điệp Laudato Si’ đã dẫn đưa chúng ta đi từ một vị Thiên Chúa là Đấng Tạo Hóa đến một vị Thiên Chúa là Cha, rồi từ một vị Thiên Chúa là Cha theo nghĩa là Đấng tác sinh muôn vật đến một vị Thiên Chúa là Cha đầy tình thương đối với muôn loài, nhất là loài người.
“Các Thánh vịnh thường xuyên dạy chúng ta biết chúc tụng Thiên Chúa là Đấng Tạo Hóa, ‘Đấng trải mặt đất này trên làn nước bao la, muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương’ (Tv 136,6). Các Thánh vịnh cũng mời gọi các loài thụ tạo khác hoà cùng chúng ta trong lời ca tụng này: ‘Ca tụng Chúa đi, này vầng ô bóng nguyệt, ca tụng Người, muôn tinh tú rạng soi. Ca tụng Chúa đi, hỡi cửu trùng cao vút, cả khối nước phía trên bầu trời. Nào ca tụng thánh danh Đức Chúa, vì Người ra lệnh, là hết thảy được tạo thành’ (Tv 148,3-5). Chúng ta không chỉ tồn tại nhờ quyền năng của Thiên Chúa; chúng ta còn sống với Người và bên cạnh Người. Đó là lý do vì sao chúng ta tôn thờ Người” (LS 72).
Khi nhấn mạnh đến quan niệm về một Thiên Chúa là Đấng Tạo Hóa đầy quyền năng, Thánh Kinh nhằm mục đích củng cố niềm tin của dân chúng trước những cám dỗ chạy theo các thần của dân ngoại. Trước mặt Thiên Chúa toàn năng, các thần của dân ngoại chỉ là hư vô và vô tích sự, có mắt mà không thể nhìn, có tai mà không thể nghe, có tay chân mà không thể sờ mó hay bước đi… (x. Tv 115,5-7).
Tiếp đến, các ngôn sứ trình bày khuôn mặt Thiên Chúa là Cha, nhưng với tư cách là Đấng Tạo Hóa: “Thế nhưng, lạy Đức Chúa, Ngài là Cha chúng con; chúng con là đất sét, còn thợ gốm là Ngài, chính tay Ngài đã làm ra tất cả chúng con” (Is 64,7). “Tất cả chúng ta chẳng có cùng một Cha sao? Chẳng phải cùng một Thiên Chúa đã dựng nên chúng ta sao?” (Ml 2,10).
Tuy nhiên mạc khải về Thiên Chúa vừa là Đấng Tạo Hóa vừa là Cha chỉ đạt đến ý nghĩa trọn vẹn khi trình bày Thiên Chúa tạo dựng muôn loài không chỉ bằng quyền năng mà còn bằng tình yêu. Trong ý nghĩa ấy, thông điệp Laudato Si’ đã viết: “Tình yêu của Thiên Chúa là sức mạnh chuyển động nền tảng trong tất cả mọi vật được tạo thành: ‘Quả thế, Chúa yêu thương mọi loài hiện hữu, không ghê tởm bất cứ loài nào Chúa đã làm ra, vì giả như Chúa ghét loài nào, thì đã chẳng dựng nên’ (Kn 11,24). Do đó, mọi loài thụ tạo là đối tượng của sự dịu dàng của Chúa Cha, Đấng đặt để nó ở một vị trí trong thế giới. Ngay cả sự sống thoáng qua của sinh vật nhỏ bé nhất cũng là đối tượng của tình yêu Người, và trong một vài giây hiện hữu, Thiên Chúa nâng niu nó bằng lòng trìu mến của Người. Thánh Basiliô Cả đã mô tả Đấng Tạo Hóa là ‘sự thiện hảo không thể đo lường’, trong khi thi sĩ Dante Alighieri nói về Người như ‘tình yêu làm chuyển động mặt trời và các tinh tú’. Do đó, chúng ta có thể đi từ những điều được tạo dựng ‘đến sự cao cả của Thiên Chúa và đến lòng xót thương từ ái của Người'[3] ” (LS 77).
Cuối cùng, sự hoàn tất mạc khải về Thiên Chúa vừa là Đấng Tạo Hóa vừa là Cha yêu thương đã được thể hiện nơi lời rao giảng của Chúa Giêsu: “Chúa Giêsu nhắc lại niềm tin Kinh Thánh vào Thiên Chúa là Đấng Tạo Hóa, Người nhấn mạnh một chân lý nền tảng: Thiên Chúa là Cha (x. Mt 11,25). Trong khi trò chuyện với các môn đệ, Chúa Giêsu mời gọi họ nhận biết mối tương quan phụ tử của Thiên Chúa với hết mọi loài thụ tạo. Người nhắc đến chúng với lòng trìu mến cảm thông vì mỗi loài đều quan trọng trong mắt của Thiên Chúa: ‘Năm con chim sẻ chỉ bán được hai hào phải không? Thế mà không một con nào bị bỏ quên trước mặt Thiên Chúa’ (Lc 12,6). ‘Hãy xem chim trời: chúng không gieo, không gặt, không thu tích vào kho; thế mà Cha anh em trên trời vẫn nuôi chúng’ (Mt 6,26)” (LS 96).
Từ quan niệm Thiên Chúa Tạo Hóa là một người Cha, Thánh Phanxicô Assisi đã coi mọi thụ tạo là anh chị em một nhà. Vì vậy, trong Bài ca vạn vật, ngài đã dâng lời ngợi khen Chúa vì anh Mặt trời, chị Mặt trăng và muôn tinh tú, chị Trái đất, anh Gió cùng với Không khí và Mây trời, anh Lửa, chị Nước, v.v. đã góp phần tạo nên vẻ đẹp của vũ trụ và phục vụ sự sống của muôn loài sinh vật.
2. Ý nghĩa thần học của các thụ tạo trong công trình sáng tạo của Thiên Chúa
Từ mạc khải Thánh Kinh về hình ảnh của một Đấng Tạo Hóa là Cha đầy tình thương, Laudato Si’ giúp chúng ta khám phá những ý nghĩa thần học của các thụ tạo như được trình bày qua các trang Thánh Kinh.
Trước hết là ý nghĩa tạo nên lý do hiện hữu của muôn loài, như lời Sách Giáo lý của Hội Thánh công giáo đã dạy: “Vấn đề không phải chỉ là tìm hiểu trần gian vật chất phát sinh khi nào và cách nào, và con người đã xuất hiện lúc nào, nhưng quan trọng hơn, chính là khám phá ra ý nghĩa của nguồn gốc đó: Phải chăng trần gian bị điều khiển bởi một sự ngẫu nhiên, một định mệnh mù quáng, một tất yếu vô danh, hay được điều khiển bởi một Hữu thể siêu việt, thông minh và tốt lành, được gọi là Thiên Chúa?”[4] Đặt ra câu hỏi như thế tức là đã trả lời. Tuy nhiên, để câu trả lời mang tính khẳng định hơn, Sách Giáo lý đã viết tiếp sau đó: “Trần gian không phải là sản phẩm của bất cứ một luật tất yếu, một định mệnh mù quáng hoặc một sự ngẫu nhiên nào. Chúng ta tin trần gian xuất phát từ ý muốn tự do của Thiên Chúa, Đấng đã muốn cho các thụ tạo được tham dự vào hữu thể, sự khôn ngoan và sự tốt lành của Người”.[5]
Thông điệp Laudato Si’ đã lấy lại giáo huấn trên đây và thêm vào đó một lời khẳng định rằng ý nghĩa căn bản nhất liên quan đến nguồn gốc của công trình sáng tạo chính là tình yêu của Thiên Chúa Tạo Hóa: ” ‘Một lời Chúa phán làm ra chín tầng trời’ (Tv 33,6). Lời này nói với chúng ta rằng thế giới xuất hiện như là kết quả của một quyết định, chứ không phải từ hỗn mang hay tình cờ, và lời này tán dương vũ trụ hơn hết. Lời tạo thành diễn tả một sự chọn lựa tự do. Vũ trụ không xuất hiện như kết quả của một quyền năng độc đoán, một sự phô bày sức mạnh hay một ý muốn tự khẳng định bản thân. Tạo thành là một trật tự của tình yêu” (LS 77). “Toàn bộ vũ trụ vật chất nói về tình yêu của Thiên Chúa, lòng trìu mến vô biên của Người dành cho chúng ta. Đất, nước, núi non: mọi thứ đều là một sự âu yếm của Thiên Chúa, như nó đã là” (LS 84).
Chính yếu tố tình yêu đã khiến cho vũ trụ không chỉ là một thế giới tự nhiên thuần túy, hay một thực tại tự nhiên mà có, nhưng là một quà tặng do chính Thiên Chúa tạo ra và ban cho con người và mọi loài: “Trong truyền thống Do-thái – Kitô giáo, từ ‘tạo thành’ có nghĩa rộng hơn từ ‘thiên nhiên’, vì nó có liên hệ với kế hoạch yêu thương của Thiên Chúa mà trong đó mọi thụ tạo đều có giá trị và ý nghĩa riêng. Thiên nhiên thường được coi là một hệ thống có thể nghiên cứu được, hiểu được và kiểm soát được, trong khi tạo thành thì chỉ có thể hiểu được như một quà tặng từ cánh tay vươn ra của Thiên Chúa là Cha muôn loài, và như một thực tại được soi sáng bởi tình yêu mời gọi chúng ta cùng nhau đi vào sự hiệp thông hoàn vũ” (LS 76).
Cũng chính trong ý nghĩa đó mà các chiều kích của vũ trụ biểu lộ mầu nhiệm sâu thẳm của Thiên Chúa, từ đó toàn bộ lịch sử loài người xảy ra trong đó là một lịch sử thánh thiêng. Thiên Chúa thực hiện ý muốn mà Người có từ thuở đời đời: Người yêu thương loài người, đưa con người tới chỗ trưởng thành và qui tụ mọi người trong Chúa Kitô. Như vậy ý nghĩa thứ nhất của thụ tạo phát xuất từ ý nghĩa của danh hiệu “Thiên Chúa là Tình Yêu”.
Hơn nữa, các thụ tạo mang một ý nghĩa nhiệm mầu và thâm sâu không những vì chúng phát xuất từ tình yêu của Thiên Chúa, mà còn từ sự hiện hữu tuyệt đối của Người. Ở đây chúng ta thấy hai yếu tính quan trọng nhất nơi bản tính của Thiên Chúa được nối kết với nhau một cách chặt chẽ: đó là Tình yêu và Hiện hữu. Sự hiện hữu của muôn loài không thể tự chúng mà có, nhưng được Thiên Chúa trao ban, và do đó sự hiện hữu của chúng cũng là một cách tham dự vào sự hiện hữu tuyệt đối của Người, do đó ý nghĩa sự hiện hữu của chúng không hoàn toàn tùy thuộc vào thiện ích của con người, nhưng phát xuất từ danh hiệu “Thiên Chúa là Đấng Hiện Hữu”. “Chỉ bằng sự hiện hữu của mình, chúng đã ca tụng và tôn vinh Người”.[6] Sự hiện hữu của mọi vật nói riêng và sự hiện hữu của toàn thể tạo thành nói chung tự nó đã hàm chứa một ý nghĩa thâm sâu, ngay cả trước khi có sự khám phá và đánh giá của con người, vì nó gắn liền với Đấng Hiện Hữu.
Hai ý nghĩa thần học trên đây dẫn đến ý nghĩa thứ ba của vũ trụ tạo thành, đó là sự “mạc khải tự nhiên” về Thiên Chúa. Nếu Thánh Kinh là quyển sách chứa đựng những mạc khải siêu nhiên về Thiên Chúa do chính Người linh ứng để các tác giả thánh viết ra, thì vũ trụ thiên nhiên có thể được coi là quyển sách bằng hình ảnh cụ thể cũng do chính Người tạo ra để tự bày tỏ chính mình cho nhân loại và đồng thời để giáo huấn họ. Ý nghĩa này đã được Đức Phanxicô tổng hợp từ nhiều nguồn và trình bày trong thông điệp Laudato Si’ như sau:
“Thiên Chúa đã viết một cuốn sách quý, ‘những dòng chữ của cuốn sách ấy là vô số những vật được tạo thành hiện diện trong vũ trụ’.[7] Hội đồng Giám mục Canada đã chỉ ra cách đúng đắn rằng không có một thụ tạo nào bị loại trừ khỏi biểu hiện này của Thiên Chúa: ‘Từ những khung cảnh toàn diện đến dạng thức sống bé nhỏ nhất, thiên nhiên là một nguồn liên tục của điều kỳ diệu và đáng thán phục. Đó cũng là một sự mạc khải liên tục về Thiên Chúa’.[8] Về phần mình, Hội đồng Giám mục Nhật Bản đưa ra một sự quan sát gợi lên nhiều suy nghĩ: ‘Cảm nhận được mỗi thụ tạo đang hát bài ca hiện hữu là đang sống cách vui tươi trong tình yêu và hy vọng của Thiên Chúa’.[9] Chiêm ngắm công trình sáng tạo giúp chúng ta khám phá trong mỗi sự vật một giáo huấn mà Thiên Chúa muốn trao cho chúng ta, vì ‘đối với người tin, chiêm ngắm công trình sáng tạo là lắng nghe một thông điệp, một tiếng nói trái ngược và thầm lặng’.[10] Chúng ta có thể nói rằng ‘cùng với việc mạc khải chính danh được chứa đựng trong Kinh Thánh, có một sự thần hiện trong ánh sáng chói lọi của mặt trời và sự buông xuống của màn đêm’.[11] ” (LS 85).
3. Sự tốt đẹp và trật tự hài hòa của công trình tạo dựng
Sách Sáng Thế tường thuật công trình tạo dựng vũ trụ trong sáu ngày. Về công trình của mỗi ngày, Sách thánh viết: “Và Thiên Chúa thấy thế là tốt đẹp” (St 1,4.10.12.18.21.25). Đặc biệt, ngày thứ sáu, sau khi tạo dựng con người như chóp đỉnh của công trình tạo dựng vũ trụ, Sách thánh viết: “Thiên Chúa thấy mọi sự Người đã làm ra quả là rất tốt đẹp” (St 1,31). Để giải thích về sự tốt lành này của công trình tạo dựng, thông điệp Laudato Si’ đã mượn lời của Sách Giáo lý Hội Thánh công giáo, số 339: “Mỗi loài thụ tạo sở hữu một sự tốt lành và hoàn hảo của riêng nó… Mỗi loài thụ tạo khác nhau, như đã được định trong hữu thể của nó, phản chiếu một tia khôn ngoan và tốt lành vô biên của Thiên Chúa theo cách của nó” (LS 69). “Vẻ đẹp của công trình tạo dựng phản chiếu vẻ đẹp vô biên của Đấng Tạo Hóa”.[12] Đặc biệt, con người được tạo dựng giống hình ảnh Thiên Chúa, nên sự tốt đẹp của họ trổi vượt hơn mọi loài thụ tạo khác.
Sự tốt đẹp của các thụ tạo được nhận thấy không những nơi mỗi thụ tạo, mà còn nơi tổng thể công trình tạo dựng vô cùng phong phú với một trật tự hết sức hài hòa giữa các loài thụ tạo. Thiên Chúa tạo dựng có nghĩa là Người thiết lập một trật tự. Việc phân chia công trình tạo dựng thành sáu ngày nói lên một lịch trình, diễn tả một trật tự. Tất cả thụ tạo không ở trên cùng một bình diện, nhưng được phân chia theo cấp bậc, từ vật chất vô tri đến các loài thực vật, động vật và trên hết là con người. Tất cả đều xuất hiện đúng thời điểm của mình: các thụ tạo hoàn hảo hơn xuất hiện sau các thụ tạo thấp kém và con người xuất hiện sau cùng.
“Thiên Chúa một cách nào đó đã tự giới hạn chính Người khi tạo dựng nên một thế giới có nhu cầu phát triển, trong đó có nhiều thứ chúng ta xem là sự dữ, mối nguy hay nguồn đau khổ, trong thực tế lại có ý nghĩa như những nỗi đau khi sinh nở mà Chúa sử dụng để cuốn hút chúng ta vào trong hành động hợp tác với Đấng Tạo Hóa. Thiên Chúa hiện diện thiết thân với từng hữu thể, nhưng không tác động đến quyền tự chủ của thụ tạo, và điều này đưa đến sự tự trị chính đáng của các thực tại trần thế. Sự hiện diện thánh thiêng của Người đảm bảo cho sự tồn tại và phát triển của mỗi hữu thể được ‘tiếp tục công cuộc tạo dựng’.[13] Thần Khí Thiên Chúa bao phủ vũ trụ với các khả năng, do đó, từ cung lòng của mọi sự, một điều gì đó mới mẻ luôn luôn có thể nảy sinh: ‘Thiên nhiên không khác gì một loại hình nghệ thuật nhất định, có tên là nghệ thuật của Thiên Chúa, được ghi dấu ấn trên tất cả mọi sự, trong đó mọi sự được chuyển động đến một đích điểm xác định. Cũng như một người thợ đóng tàu có thể chọn đủ các loại gỗ để sắp xếp hình thành một chiếc tàu’.[14] ” (LS 80).
Đó không phải chỉ là một trật tự “tĩnh”, theo nghĩa mỗi vật đều có vị trí của mình, nhưng là một tương quan đa dạng, năng động và hỗ tương. Mặt trời và mặt trăng được tạo dựng không phải chỉ để soi sáng, mà còn để ấn định thời gian, phân chia năm tháng ngày giờ, khiến cho thời tiết xoay vần tạo nên tứ thời bát tiết tiếp nối và ảnh hưởng lẫn nhau. Các sinh vật, từ thảo mộc đến thú vật, mỗi loài sinh sôi nảy nở theo qui luật truyền sinh riêng của mình. Tuy nhiên “các thụ tạo tồn tại trong sự lệ thuộc vào nhau, để hoàn thiện lẫn nhau, phục vụ lẫn nhau”.[15]
“Toàn thể vũ trụ, trong tất cả các mối tương quan đa dạng của nó, cho thấy sự giàu có không bao giờ vơi cạn của Thiên Chúa. Thánh Tôma Aquinô nhấn mạnh cách khôn ngoan rằng sự đa dạng và khác nhau ‘xuất phát từ ý định của tác nhân đầu tiên’, Đấng muốn rằng ‘điều gì nơi một thụ tạo còn thiếu để bày tỏ sự thánh thiêng thì sẽ được bổ sung bởi một thụ tạo khác’,[16] như vậy, sự thiện hảo của Thiên Chúa ‘không thể có bất kỳ một thụ tạo nào đại diện bày tỏ hết được’.[17] Từ đó chúng ta cần phải nắm bắt sự khác nhau của mọi sự trong các mối tương quan đa dạng của chúng” (LS 86).
Trật tự và tương quan hài hòa này không những đã được Thiên Chúa thiết lập giữa các cá thể, các chủng loại, mà còn ở trên bình diện rộng lớn và cao hơn. Đó là mối tương quan giữa các thụ tạo với Thiên Chúa, giữa các loài vật với loài người, giữa loài người với nhau và với Thiên Chúa.
4. Vị trí và vai trò của con người
Thuật trình sáng tạo trình bày công trình tạo dựng con người với một cách thức khác biệt so với việc tạo dựng các thụ tạo khác. Thiên Chúa tạo ra con người đầu tiên bằng cách lấy đất nặn thành một hình người rồi thổi sinh khí vào lỗ mũi, đó là một hình ảnh có rất nhiều ý nghĩa. Đất là biểu tượng của yếu tố vật chất mà Thiên Chúa lấy từ các vật đã được tạo dựng trước. Như vậy nơi con người có một sự tổng hợp các yếu tố vật chất, và điều đặc biệt khác với các loài vật là Thiên Chúa đã nắn khối vật chất ấy thành hình người, với dáng dấp một con người theo thiết kế của Chúa. Sau đó Chúa ban linh hồn cho khối vật chất ấy và lập tức nó biến thành một con người có thể xác và tinh thần, một thụ tạo được tạo thành giống hình ảnh Thiên Chúa.
Với thể xác, con người có tương quan mật thiết với thế giới vật chất, nhưng với linh hồn, con người không còn là một sự vật hay con vật, nhưng là một chủ thể tinh thần có khả năng đối thoại với người khác và với Thiên Chúa, điều đó tạo nên căn tính của con người: “Mỗi người chúng ta có căn tính riêng và có khả năng đi vào việc đối thoại với người khác và với chính Thiên Chúa. Khả năng tư duy, lý luận, sáng kiến, giải thích thực tại và sáng tạo nghệ thuật, cùng với những khả năng chưa khám phá ra, là những dấu chỉ của một sự độc nhất trổi vượt phạm trù vật lý và sinh học” (LS 81).
Như vậy, con người đứng ở vị trí gạch nối giữa thế giới vật chất và thế giới tinh thần, giữa vũ trụ thiên nhiên và Thiên Chúa. Điều này được thể hiện qua dáng đứng của con người, chân đứng trên đất nhưng đầu hướng thẳng lên trời. Đó là tư thế độc đáo mà chỉ con người mới có.
Từ vị trí đặc biệt đó con người cũng được Thiên Chúa giao cho một trách nhiệm đặc biệt đối với vũ trụ tạo thành. Vì được tạo thành giống hình ảnh Thiên Chúa, nên con người được giao cho quyền làm chủ toàn thể công trình tạo dựng. “Thiên Chúa phán: ‘Chúng ta hãy làm ra con người theo hình ảnh chúng ta, giống như chúng ta, để con người làm bá chủ cá biển, chim trời, gia súc, dã thú, tất cả mặt đất và mọi giống vật bò dưới đất” (St 1,26).
Theo đoạn Thánh Kinh trên, Thiên Chúa tạo ra con người giống hình ảnh Người với mục đích là để con người làm chủ những gì Người đã tạo thành, cũng giống như cha mẹ sinh con là để có người kế thừa vừa làm chủ vừa làm việc để phát triển gia nghiệp mình để lại. Trong bài báo tựa đề “L’éthique écologique de la Bible”, Jean-Paul Maréchal đã viết: “Thế giới đã được Thiên Chúa tạo thành và được giao phó cho con người để họ hoàn thành nó”.[18] Cũng một tư tưởng ấy, Jean Halpérin đã viết: “Lao động tự nó không phải là sự chúc dữ. Nó là một hệ quả tất nhiên của sự bất toàn của thế giới và sự cần thiết phải làm chủ và hoàn thiện nó mỗi ngày một hơn. Chính vì thế giới không được tạo thành trong sự hoàn hảo một lần dứt khoát, nên việc lao động của con người là một dữ kiện nền tảng. Và chính vì khả năng sai lầm và sự tự do của con người, là điều rõ ràng ngay từ những trang đầu tiên của sách Sáng Thế, mà yêu cầu trách nhiệm trở nên thật khẩn thiết”.[19]
Con người làm chủ vũ trụ, nhưng con người vẫn là một thành phần của vũ trụ. Trong chương trình sáng tạo của Thiên Chúa, mọi loài thụ tạo đều lệ thuộc nhau và tất cả đều lệ thuộc Thiên Chúa. “Đây là nền tảng cho xác tín của chúng ta, như một phần của vũ trụ, được Chúa Cha mời gọi đi vào trong hiện hữu, tất cả chúng ta được liên kết bởi những mối dây liên kết vô hình và cùng nhau tạo nên một gia đình đại đồng, một sự hiệp thông cao cả thúc đẩy trong chúng ta sự tôn trọng thánh thiêng, yêu thương và khiêm tốn” (LS 89). Do đó, “cuộc sống con người dựa trên ba mối tương quan căn bản có liên hệ mật thiết với nhau: tương quan với Thiên Chúa, tương quan với tha nhân và tương quan với trái đất” (LS 66).
II. TỘI LỖI CỦA CON NGƯỜI VÀ MÔI TRƯỜNG SINH THÁI
“Theo Kinh Thánh, ba mối tương quan thiết yếu này đã bị phá vỡ, cả bên ngoài lẫn bên trong chúng ta. Sự tan vỡ này chính là tội lỗi” (LS 66).
1. Ảnh hưởng của nguyên tội đối với môi trường sinh thái
“Sự hoà hợp giữa Đấng Tạo Hóa, nhân loại và tạo thành đã bị đoạn tuyệt do con người muốn chiếm lấy vị trí của Thiên Chúa và khước từ nhìn nhận những giới hạn thụ tạo của mình. Điều này còn bóp méo lệnh truyền ‘làm bá chủ’ toàn thể trái đất (x. St 1,28), lệnh truyền ‘canh tác và gìn giữ trái đất’ (St 2,15). Hậu quả là mối tương quan hoà hợp nguyên thuỷ giữa con người và thiên nhiên trở nên xung đột (x. St 3,17-19)” (LS 66).
Khi phạm tội bất tuân lệnh Chúa, nguyên tổ của nhân loại đã tự ý phá hủy trật tự giữa mình với Thiên Chúa, đó là sự lệ thuộc của thụ tạo đối với Đấng Tạo Hóa. “Do ma quỉ cám dỗ, con người đã muốn trở nên ‘như Thiên Chúa’ (St 3,5) mà không cần Thiên Chúa, vượt qua Thiên Chúa, và không tuân theo Thiên Chúa” (Thánh Maximô).[20] Như thế, nguyên tổ đã muốn phủ nhận thân phận thụ tạo của mình và chiếm lấy vị trí của Thiên Chúa. Do sự lừa dối của ma quỉ, họ đã hiểu sai về mối tương quan giữa mình với Thiên Chúa, khi tạo ra một hình ảnh sai lầm về Người, coi Người như một vị thần ham hố các đặc quyền (x. St 3,5), một đối thủ tranh giành quyền lực với mình nên bắt mình phải phục tùng. Đó là sự rối loạn đầu tiên và căn bản nhất, là nguồn gốc của tất cả những rối loạn khác.
Hậu quả là sau khi phạm tội, nguyên tổ đã đánh mất tương quan hài hòa với Thiên Chúa là sự thánh thiện nguyên thủy (x. Rm 3,23). Họ đâm ra sợ hãi Thiên Chúa và phải trốn tránh Người (x. St 3,8). Hình ảnh Thiên Chúa nơi họ cũng bị tội lỗi làm tổn thương và bắt đầu có sự rối loạn nơi chính bản thân mình: khả năng làm chủ chính mình trở nên yếu ớt (x. St 3,7). Từ đó con người đánh mất sự hài hòa trong tương quan với môi trường chung quanh bao gồm tương quan giữa người với người và với vũ trụ thiên nhiên: mối quan hệ giữa người nam và người nữ trở nên căng thẳng (x. St 3,11-13), bị đánh dấu bằng ham muốn và thống trị (x. St 3,16). Sự hài hòa giữa con người với công trình tạo dựng bị phá vỡ: thế giới hữu hình trở nên xa lạ và thù nghịch với con người (x. St 3,17.19). Do tội của con người mà muôn loài phải lệ thuộc vào cảnh hư nát (x. Rm 8,20).[21]
Sau khi tạo dựng con người, Thiên Chúa nói: “Đây Ta ban cho các ngươi mọi thứ cỏ mang hạt giống trên khắp mặt đất và mọi thứ cây có trái mang hạt giống, để làm lương thực cho các ngươi” (St 1,29). Với những lời này, Thánh Kinh cho thấy một thế giới an bình, không bạo lực, trong đó các thú vật gần gũi với con người vì không sợ bị con người ăn thịt. Tuy nhiên sau khi con người phạm tội, Thiên Chúa đành phải nhượng bộ và cho con người được ăn thịt các thú vật và chúng khiếp sợ con người (x. St 9,2-3). Vì tội lỗi của con người, cảnh an bình hòa hợp giữa mọi loài thụ tạo không còn nữa.
2. Vấn đề phá hủy môi trường sinh thái trong thời hiện đại
Trong chương I với tiêu đề: “Điều đang xảy ra cho ngôi nhà chung của chúng ta”, Đức Phanxicô đã liệt kê một số thực trạng liên quan đến việc hủy hoại môi trường sinh thái hiện nay như: ô nhiễm và biến đổi khí hậu (các số 20-26), sự cạn kiệt nguồn nước (các số 27-31), đánh mất sự đa dạng sinh học (các số 32-42), suy giảm phẩm chất đời sống con người và suy thoái xã hội (các số 43-47), sự bất bình đẳng toàn cầu (các số 48-52). Từ những thực trạng ấy, trong chương II, việc phá hủy môi trường sinh thái hiện nay được nêu lên như một vấn đề quan trọng liên quan đến trách nhiệm của con người. Vấn đề này cần phải được tìm hiểu dưới ánh sáng của Thánh Kinh.
Có ý kiến cho rằng, theo Thánh Kinh, đâu phải đợi đến sau khi con người phạm tội mới có việc phá hủy môi sinh, bởi vì điều đó dường như Thiên Chúa đã ban phép cho con người ngay khi họ mới được tạo thành. Nếu như thế, thì việc phá hủy môi trường sinh thái phải được qui trách cho Thiên Chúa chứ đâu phải cho con người! Hoặc con người có thể đổ trách nhiệm cho truyền thống Do-thái – Kitô giáo, hay cụ thể hơn, cho các Kitô hữu. Có đúng như vậy không?
Cũng trong bài báo tựa đề “L’éthique écologique de la Bible”, Jean-Paul Maréchal đã viết: “Đối với nhiều nhà sinh thái học và đặc biệt đối với những người dựa vào khoa sinh thái học chiều sâu (écologie profonde),[22] nguyên nhân căn bản dẫn đến việc phá hủy hành tinh có lẽ bắt nguồn từ truyền thống Do thái – Kitô giáo, qua cuộc cách mạng khoa học, của thời hiện đại công nghệ kỹ thuật mang tính rất cướp bóc đối với môi trường thiên nhiên. Đặc biệt, Kitô giáo lại thấy mình đang đứng tại hàng ghế các bị cáo và, theo lối chú giải dài dòng câu hỏi của Thiên Chúa đối với Cain, Kitô giáo nhiều lần bị hỏi: “Ngươi đã làm gì đối với người anh em của ngươi là vũ trụ?”[23]
Vào khoản thập niên 60 của thế kỷ XX, một nhà nghiên cứu người Mỹ về thời Trung Cổ tên là Lynn White đã viết rằng chính Thiên Chúa muốn con người khai thác thiên nhiên cho mục đích riêng của mình và khi phá hủy tín ngưỡng vật linh của người ngoại giáo, Kitô giáo đã tạo điều kiện cho việc khai thác thiên nhiên bất kể những tâm tình đối với các vật tự nhiên.[24] Lập luận trên phát xuất từ cách giải thích Thánh Kinh sai lạc, như lời Đức Phanxicô trong Thông điệp Laudato Si’:
“Chúng ta không phải là Thiên Chúa. Trái đất đã có trước chúng ta và đã được ban tặng cho chúng ta. Điều này giúp chúng ta đáp trả vấn nạn mà theo tư tưởng Do thái – Kitô giáo, trên nền tảng của trình thuật Sáng Thế về việc con người ‘thống trị’ trên toàn trái đất (x. St 1,28), đã cổ võ một sự khai thác thiên nhiên không kiềm chế qua việc vẽ nên hình ảnh con người bị thiên nhiên thống trị và hủy diệt. Cách giải thích Kinh Thánh như thế không đúng với cách hiểu của Hội Thánh. Cho dù đôi khi các Kitô hữu giải thích Kinh Thánh không đúng, nhưng ngày nay chúng ta phải mạnh mẽ phủ nhận quan niệm này: hữu thể của chúng ta được tạo dựng theo hình ảnh Thiên Chúa và được trao quyền thống trị trên toàn cõi đất, và từ mệnh lệnh này, người ta có thể biện minh cho một sự thống trị tuyệt đối trên các loài thụ tạo khác. Các bản văn Kinh Thánh phải được đọc trong ngữ cảnh của nó, với một sự tường giải thích hợp, nhận biết rằng các bản văn này nói với chúng ta hãy ‘canh tác và gìn giữ’ khu vườn của thế giới (x. St 2,15)” (LS 67).
Như vậy, vấn đề phát xuất từ bối cảnh và ý nghĩa của quyền làm chủ vũ trụ mà Đấng Tạo Hóa đã ban cho con người. Bối cảnh biên soạn thuật trình Sáng tạo là dân Israel đang sống giữa dân ngoại và thường xuyên bị cám dỗ bỏ việc tôn thờ Thiên Chúa để theo đa thần giáo và phiếm thần của dân ngoại. Qua thuật trình Sáng tạo, mọi vật mọi loài đều là những thụ tạo của Thiên Chúa; mặt trời, mặt trăng, các tinh tú, dã thú, sức mạnh thiên nhiên… không phải là những thần thánh. Con người đỉnh cao của toàn thể công trình tạo dựng vì được Thiên Chúa tạo dựng giống hình ảnh Người và được Người trao quyền bá chủ trên toàn thể vũ trụ.
Vũ trụ có thể được coi như là một cuốn sách chứa đựng “mạc khải tự nhiên” của Thiên Chúa, bởi vì thiên nhiên mang dấu ấn của Đấng Tạo Hóa như lời thánh Phaolô ở đầu thư Rôma (x. Rm 1,19-20). Mạc khải tự nhiên này của Thiên Chúa nơi vạn vật chỉ là một phần, nhưng con người được tạo nên giống hình ảnh Thiên Chúa vẫn có thể nhận ra trong vũ trụ thiên nhiên dấu ấn của thiên tính. Do đó, thánh Phaolô nói rằng các dân ngoại vẫn có tội khi họ không tôn thờ Đấng Tạo Hóa mà đi tôn thờ tạo vật. Thay vì làm chủ trên cá biển, chim trời và muôn thú, con người lại thờ phượng các thụ tạo và coi chúng là thần thánh (x. Rm 1,21-23).
Ngoài bối cảnh biên soạn của thuật trình Sáng tạo, giờ đây đến lượt ý nghĩa thực sự của việc con người làm bá chủ trên vũ trụ thiên nhiên (x. St 1,26.28) là điều quan trọng.
Một số tôn giáo và hệ thống triết học dạy con người đừng can thiệp vào thiên nhiên, điều này được gợi hứng từ một chủ nghĩa duy tâm thần bí hay định mệnh thuyết, mà chúng ta có thể nhận thấy một số ảnh hưởng xấu trên các dân tộc trong suốt một thời gian dài, như bệnh tật, thiếu dinh dưỡng và sinh sản không hạn chế. Ngược lại, theo sách Sáng Thế, con người được Thiên Chúa trao quyền làm bá chủ vũ trụ thiên nhiên. Thực ra, chỉ Thiên Chúa mới là chủ tể duy nhất và đích thực, bởi vì chính Người đã tạo dựng vũ trụ, đã xếp đặt vũ trụ trong trật tự hài hòa, đã ban cho vũ trụ những qui luật để vận hành và phát triển, vì “Người ra lệnh, là hết thảy được tạo thành; Người định nơi cho tất cả đến muôn đời muôn thuở, ban truyền lề luật, luật đó chẳng hề qua” (Tv 148,5b-6). Con người được tham dự vào quyền chủ tể của Thiên Chúa bằng việc tôn trọng và phát huy trật tự hài hòa trong thiên nhiên, tôn trọng các qui luật mà Thiên Chúa đã xếp đặt trong vũ trụ. “Do đặc ân có phẩm giá độc nhất và món quà của trí thông minh, chúng ta được mời gọi tôn trọng tạo thành và các quy luật của nó, bởi ‘Ðức Chúa dùng khôn ngoan đặt nền cho trái đất’ (Cn 3,19)” (LS 69).
Theo Catherine Chalier, việc Thiên Chúa ban cho con người quyền bá chủ trên vũ trụ thiên nhiên không có nghĩa là con người được quyền “bắt trái đất phải chịu sức đẩy cuồng nhiệt từ các khát vọng của họ, tự ý biến đổi nó theo lòng tham vô độ đối với quyền lực và lợi ích, đồng thời con người cũng không được phép tàn xử thú vật theo ý muốn. Bởi lẽ việc bắt trái đất phục tùng và điều khiển thú vật chắc chắn đặt con người vào một vị trí đặc biệt đối với phần còn lại của các thụ tạo, nhưng một vị trí đặc biệt như thế phải được hiểu như một trách nhiệm vô biên đối với vũ trụ thụ tạo, chứ không được phép có những cách hành xử đầy khát vọng quyền lực sẽ sớm dẫn đến bạo quyền”.[25]
Theo sách Sáng Thế, con người được ban quyền làm chủ vũ trụ trong sự hiệp thông với Thiên Chúa, tức là với tình yêu, sự khôn ngoan và phân định mà Thiên Chúa soi sáng cho họ. Đây không phải là việc con người hành xử cách độc đoán trên các thụ tạo, nhưng đúng hơn là chăm sóc cho lợi ích của mọi thụ tạo và cho vinh quang của Thiên Chúa. Việc làm chủ vũ trụ thiên nhiên này cũng giống như việc con người làm chủ bản thân, để thực hiện trật tự hài hòa giữa các khả năng tinh thần và các bản năng thể lý. Rồi từ việc làm chủ bản thân, con người sẽ có thể làm chủ gia đình, làm chủ một quốc gia và làm chủ cả thế giới, theo phương châm của Nho giáo: “Tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ”.
Như thế, việc làm chủ của con người đối với vũ trụ vừa là một quyền, vừa là một trách nhiệm. Con người có quyền sử dụng và xếp đặt các thụ tạo để chúng phục vụ sự sống và sự phát triển của mình: “Mỗi cộng đồng có thể lấy từ sự rộng lượng của trái đất bất cứ điều gì cần thiết cho sự tồn tại của mình, nhưng cộng đồng ấy cũng có nghĩa vụ bảo vệ trái đất và đảm bảo sự dồi dào phong phú của trái đất cho các thế hệ kế tiếp” (LS 67). Tuy nhiên con người cũng có trách nhiệm phải tôn trọng mọi loài thụ tạo, bởi vì chúng phản ánh sự khôn ngoan của Thiên Chúa, mỗi loài theo cách thức của mình, đồng thời cũng “phải tôn trọng các quy luật của tự nhiên và thế quân bình mỏng manh tồn tại giữa các loài thụ tạo của thế giới này” (LS 68).
Hơn nữa, ý nghĩa việc con người được đặt làm chủ vũ trụ thiên nhiên ở sách Sáng Thế 1,26 trở nên sáng tỏ hơn trong St 2,15: “Đức Chúa là Thiên Chúa đem con người đặt vào vườn Êđen, để cày cấy và canh giữ đất đai”. Con người được giao nhiệm vụ “canh giữ”, tức là gìn giữ, bảo vệ thiên nhiên, và “cày cấy” tức là làm cho thiên nhiên phát triển. “Điều này hàm chứa một mối tương quan có trách nhiệm hỗ tương giữa con người và thiên nhiên” (LS 67). Vũ trụ thụ tạo được Chúa dựng nên thì tốt đẹp và trật tự hài hòa, nhưng đó mới chỉ là bước đầu trên con đường phát triển và hoàn thiện qua thời gian. Chính con người nhận trách nhiệm từ Thiên Chúa để làm cho vũ trụ ngày càng hoàn thiện, tốt đẹp và phong phú hơn. Qua hoạt động của mình, con người đã in dấu trên vũ trụ thiên nhiên và làm cho vũ trụ được nhân hóa và tinh thần hóa.
Ngoài ra, trong tiếng Hipri, các động từ “canh tác” (‘avad) và “gìn giữ” (Samar) cũng có ý nghĩa tôn giáo: người ta giữ các điều răn của Chúa; các tư tế phải gìn giữ thánh điện và nhất là phải giữ nơi thánh khỏi mọi ô uế. Động từ canh tác, làm việc, có thể có nghĩa là phục vụ Thiên Chúa, chỉ hoạt động của các thầy Lêvi trong nhà tạm hay trong đền thờ. Luật nghỉ ngày thứ bảy buộc con người không được làm việc trong ngày ấy là dấu chỉ nói lên sự lệ thuộc của con người đối với Thiên Chúa. Điều này nhắc nhở họ rằng họ là những thụ tạo giới hạn trong không gian và thời gian và họ phải tôn trọng những giới hạn của họ cũng như những giới hạn của các loài thụ tạo. Hơn nữa “việc nghỉ ngơi vào ngày thứ bảy không chỉ có ý dành cho con người, mà còn ‘để bò lừa của ngươi được nghỉ ngơi’ (Xh 23,12). Rõ ràng, Kinh Thánh không có chỗ cho chủ nghĩa nhân chủng tàn bạo không quan tâm gì đến các loài thụ sinh khác” (LS 68). Ngay cả đất đai cũng phải được hưởng ngày hưu lễ, được nghỉ ngơi để trở nên phong phú hơn.
Nhờ được tạo nên giống hình ảnh Đấng Tạo Hóa và được ban quyền làm chủ, canh tác, gìn giữ vũ trụ thiên nhiên, mà con người qua các thời đại đã phát triển khoa học và kỹ thuật, làm cho vũ trụ được phát triển và hoàn thiện, đồng thời góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống con người. Tuy nhiên hậu quả của nguyên tội và tội lỗi của các thế hệ nhân loại đã làm cho con người vượt quá giới hạn của mình, giành quyền chủ tể của Thiên Chúa, cộng với tính tham lam của cải vật chất, từ đó họ đã làm đảo lộn phần nào trật tự vũ trụ, khiến cho kho tàng trái đất ngày càng trở nên kiệt quệ, của cải không được phân phối đồng đều cho mọi người theo như ý định của Thiên Chúa, khiến cho sự phân hóa giàu nghèo ngày càng trở nên gay gắt, từ đó dẫn đến chiến tranh, chết chóc và bệnh tật ngày càng gia tăng.
Tóm lại, con người ngày nay với một nhãn quan máy móc chỉ chấp nhận một thế giới không có Thiên Chúa, trong đó họ chỉ thấy một chuỗi nguyên nhân và hậu quả mà họ muốn nắm bắt để dễ dàng thống trị nó. Tuy nhiên, khi muốn thống trị vũ trụ để hưởng thụ hết sức có thể và ngay lập tức, họ đã làm cho vũ trụ thiên nhiên trở nên nghèo nàn đến độ báo động, bị ô nhiễm và biến dạng, mà chính họ không có khả năng làm chủ được những thay đổi đó, phần nào giống như tay phù thủy mới học việc! Từ việc chối bỏ Thiên Chúa là Đấng Tạo Hóa và Chủ Tể của toàn thể vũ trụ, con người đã khai thác thiên nhiên một cách vô trách nhiệm, để rồi khi bị phê phán thì họ lại qui trách cho truyền thống Thánh Kinh Do-thái – Kitô giáo!
III. CHƯƠNG TRÌNH PHỤC HỒI VẠN VẬT
Đứng trước sự tàn phá vũ trụ thiên nhiên do tội lỗi của con người gây ra qua các thế hệ, Thiên Chúa vẫn không bỏ mặc vũ trụ cho cảnh hư nát, một vũ trụ mà Người thấy là tốt đẹp và trật tự hài hòa như một tác phẩm nghệ thuật. Vì vậy, Người đã có kế hoạch phục hồi vạn vật trong chương trình cứu độ của Đức Kitô khi thời gian đến hồi viên mãn. Chương trình cứu độ của Đức Kitô không chỉ nhắm đến con người, mà còn nhắm đến toàn thể vũ trụ bị tội lỗi con người làm cho hư hỏng. Chương trình này đã được chuẩn bị từ trong thời Cựu Ước.
1. Được chuẩn bị và báo trước trong Cựu Ước
“Mặc dù ‘sự gian ác của con người quả là nhiều trên mặt đất’ (St 6,5) và Thiên Chúa ‘hối hận vì đã làm ra con người trên mặt đất’ (St 6,6), tuy nhiên, qua ông Nôe, một người vô tội và ngay chính, Thiên Chúa quyết định mở ra một con đường cứu độ. Bằng cách này Người đã ban cho nhân loại cơ hội một khởi đầu mới. Điều cần là một người tốt lành để khôi phục niềm hy vọng! Truyền thống Kinh Thánh cho thấy sự đổi mới này đi kèm với việc khôi phục và tôn trọng các nhịp điệu đã được bàn tay của Đấng Tạo Hóa khắc ghi trong thiên nhiên” (LS 71).
Thiên Chúa phán: “Ta sẽ không bao giờ nguyền rủa đất đai vì con người nữa… Bao lâu đất này còn, thì mùa gieo mùa gặt, trời lạnh và trời nóng, tiết hạ và tiết đông, ban ngày và ban đêm sẽ không ngừng đắp đổi” (St 8,21-22). Thiên Chúa không thể để cho những sai lầm của con người đưa vũ trụ trở về tình trạng hỗn mang. Để cho nhịp điệu sinh hoạt của con người và vũ trụ được điều hòa, Người đã truyền cho dân Israel phải bắt chước Người: một tuần làm việc trong sáu ngày, nhưng đến ngày thứ bảy thì nghỉ ngơi. Ngày đó gọi là ngày sabat, tức ngày hưu lễ (x.St 2,2-3; Xh 16,23; 20,10). Việc nghỉ ngơi không chỉ áp dụng cho con người mà còn cho các gia súc và đất đai, để phục hồi sinh lực. Rồi cứ mỗi bảy năm thì có năm sabat (x. Lv 25,1-7), và sau bảy tuần năm thì có Năm thánh (x. Lv 25,8-17), để cho con người, gia súc và đất đai được nghỉ ngơi hoàn toàn. “Luật này xuất hiện như một nỗ lực để đảm bảo sự quân bình và công bằng trong các mối tương quan của họ với người khác và với đất đai, nơi họ sống và làm việc. Đồng thời, đó cũng là ý thức về quà tặng của trái đất với các hoa trái của nó thuộc về mọi người. Những ai canh tác và gìn giữ đất đai buộc phải chia sẻ hoa trái, đặc biệt là với người nghèo, với các bà goá, các cô nhi và ngoại kiều ở ngay giữa họ” (LS 71).
Vì tội lỗi của con người gắn liền với sự đổ vỡ, mất trật tự hay biến chất trong môi trường thiên nhiên, nên khi loan báo về Đấng Cứu Thế và ơn cứu độ của Người trong tương lai, các ngôn sứ thời Cựu Ước thường dùng những hình ảnh của “một vườn địa đàng bị mất”, nhưng không phải để tiếc nuối về một quá khứ đã qua, mà để gợi lên nơi dân Chúa một niềm hy vọng hướng đến một tương lai còn tốt đẹp hơn nhiều. Niềm hy vọng đó được đặt vào Đấng Cứu Thế, tác giả của thế giới mới, cũng là Đấng Tạo Hóa thuở ban đầu. Đó là một Thiên Chúa toàn năng có khả năng tạo nên một sự đổi mới toàn diện. “Các bản văn của các ngôn sứ mời gọi chúng ta hãy tìm kiếm sức mạnh đổi mới trong những lúc thử thách bằng việc chiêm ngắm Thiên Chúa toàn năng, Đấng dựng nên vũ hoàn” (LS 73). “Thiên Chúa, Đấng tạo nên vũ trụ từ hư không cũng có thể can thiệp vào trong thế giới này và vượt thắng mọi hình thức sự dữ. Bất công không phải là bất khả chiến bại” (LS 74).
Vì vậy, để báo trước về thời kỳ Đấng Cứu Thế sẽ hoàn tất chương trình cứu độ loài người và phục hồi vạn vật, ngôn sứ Isaia đã mượn những hình ảnh của vườn địa đàng: “Từ gốc Giêsê sẽ đâm ra một nhánh nhỏ, từ cội rễ ấy sẽ mọc lên một mầm non… Bấy giờ sói sẽ ở với chiên con, beo nằm bên dê nhỏ. Bò tơ và sư tử non được nuôi chung với nhau, một cậu bé sẽ chăn dắt chúng. Bò cái kết thân cùng gấu cái, con của chúng nằm chung một chỗ, sư tử cũng ăn rơm như bò. Bé thơ còn đang bú giỡn chơi bên hang rắn lục, trẻ thơ vừa cai sữa thọc tay vào ổ rắn hổ mang. Sẽ không còn ai tác hại và tàn phá trên khắp núi thánh của Ta, vì sự hiểu biết Đức Chúa sẽ tràn ngập đất này, cũng như nước lấp đầy lòng biển” (Is 11,1.6-9).
2. Được thực hiện nơi Đức Kitô
Viễn tượng “tìm lại địa đàng đã mất” mà ngôn sứ Isaia tiên báo trên đây đã được thực hiện nơi Đức Kitô. “Định mệnh sau cùng của vũ trụ là ở trong sự viên mãn của Thiên Chúa, đã được Đức Kitô phục sinh đạt tới, Người là thước đo cho sự trưởng thành của tất cả mọi sự” (LS 83).
Trước hết, qua mầu nhiệm Nhập thể, Ngôi Lời đã từ trời bước vào thế giới và mang lấy một thân xác được cấu tạo từ những chất liệu của vũ trụ, và trở thành một thành phần của vũ trụ. Người chính là Ngôi Lời đã tạo dựng thế giới, giờ đây Người trở thành xác phàm giữa lòng thế giới. “Theo sự hiểu biết Kitô giáo về thế giới, định mệnh của tất cả mọi loài thụ tạo được tháp nhập với mầu nhiệm Đức Kitô, ngay từ thuở ban đầu: ‘vì trong Người, muôn vật được tạo thành’ (Cl 1,16).[26] Phần lời tựa của Tin Mừng Gioan (Ga 1,1-18) mạc khải công việc sáng tạo của Đức Kitô như là Ngôi Lời (Logos). Nhưng sau đó, lời tựa ấy bất ngờ nói cùng Lời ấy ‘đã trở thành xác phàm’ (Ga 1,14). Một Ngôi trong Ba Ngôi đi vào trong vũ trụ được tạo dựng, nhưng đặc biệt là ngang qua việc nhập thể, mầu nhiệm Đức Kitô đang hoạt động theo một cách kín ẩn trong toàn thể thế giới tự nhiên, mà không tác động đến tính tự chủ của nó” (LS 99).
Tiếp đến, cuộc sống tại thế của Người hòa hợp trọn vẹn với công trình sáng tạo. Người tiếp xúc hằng ngày với vật chất mà Thiên Chúa đã tạo thành để làm ra sản phẩm cung cấp cho những nhu cầu hằng ngày của cuộc sống của mình và những người xung quanh. Khi đi rao giảng Tin Mừng, Người thường xuyên hiện diện tại những khung cảnh thiên nhiên: bên bờ hồ, trên đồi núi, trên cánh đồng, trong hoang địa, tiếp xúc với những người đơn sơ chất phác. Người đưa vào các bài giảng của Người những hình ảnh chim trời, cá biển, hoa cỏ đồng nội, những nhân vật đời thường. Người dạy mọi người khám phá ý nghĩa và vẻ đẹp của những loài thụ tạo và sự chăm sóc đặc biệt của Thiên Chúa Cha đối với mọi loài, cho dù bé nhỏ như chim sẻ trên sân hay khóm hoa dại trên cánh đồng.
“Kinh Thánh Tân Ước không chỉ nói cho chúng ta về Chúa Giêsu trần thế, mối tương quan cụ thể và yêu thương của Người với thế giới. Kinh Thánh còn cho thấy Người đã sống lại và vinh hiển, Người hiện diện trong mọi thụ tạo với quyền Chủ Tể vũ hoàn: ‘Vì Thiên Chúa đã muốn làm cho tất cả sự viên mãn hiện diện ở nơi Người, cũng như muốn nhờ Người mà làm cho muôn vật được hoà giải với mình. Nhờ máu Người đổ ra trên thập giá’ (Cl 1,19-20). Điều này hướng tầm nhìn của chúng ta đến tận cùng của thời gian, khi Người Con sẽ trao hết mọi sự cho Chúa Cha, để ‘Thiên Chúa có toàn quyền trên muôn loài’ (1Cr 15,28). Các loài thụ tạo của thế giới này không còn xuất hiện trước mắt chúng ta dưới dáng vẻ thuần tuý tự nhiên nữa, vì Đấng phục sinh sẽ bao phủ chúng cách nhiệm mầu và hướng chúng đến sự viên mãn tận cùng. Những bông hoa ngoài đồng và những cánh chim trời mà Người đã chiêm ngắm giờ đây được mặc lấy sự hiện diện đầy vẻ uy linh của Người” (LS 100).
Cuộc đời tại thế của Chúa Giêsu mở đầu với mầu nhiệm Nhập Thể và kết thúc với mầu nhiệm Thăng Thiên. Trong mầu nhiệm Nhập Thể, Ngôi Hai Thiên Chúa đã mang lấy xác phàm của con người được cấu tạo bằng những yếu tố của vũ trụ thiên nhiên. Trong mầu nhiệm Thăng Thiên, Ngôi Hai Thiên Chúa trở về trời cùng với thân xác ấy nhưng đã được biến đổi qua mầu nhiệm Phục sinh, và như thế những yếu tố của vũ trụ thiên nhiên mà Người đã đảm nhận trong chính bản thân Người đã được đưa vào thế giới thần linh cùng với thần tính của Người, mở đầu cho cuộc phục hưng và canh tân vạn vật sẽ được thực hiện trong sự kết hợp với Người.
Dưới một góc nhìn tương tự, Thánh Kinh bắt đầu bằng sách Sáng Thế và kết thúc bằng sách Khải Huyền. Cả hai đều liên quan đến vũ trụ tạo thành và Đức Kitô. Thật vậy, nếu trong phần đầu của sách Sáng Thế, toàn thể vũ trụ đã được tạo thành trong Đức Kitô, thì trong phần cuối của sách Khải Huyền, toàn thể vũ trụ cũng được tái tạo trong Đức Kitô, Người phán: “Này đây Ta đổi mới mọi sự… Ta là Alpha và Omega, là Khởi Nguyên và Tận Cùng” (Kh 21,5.6).
3. Với sự cộng tác của con người
Trong khi chờ đợi ngày Đức Kitô hoàn tất công trình phục hồi, canh tân vạn vật và làm cho chúng đạt đến sự viên mãn cuối cùng của “trời mới đất mới” để trao hết mọi sự cho Chúa Cha, thì con người được mời gọi tích cực cộng tác vào công trình ấy. “Đối với vũ trụ, mạc khải khẳng định rằng nhân loại và vũ trụ vật chất có chung một vận mệnh sâu xa: ‘Muôn loài thụ tạo những ngong ngóng đợi chờ ngày Thiên Chúa mạc khải vinh quang của con cái Người… Vẫn còn niềm trông cậy là có ngày cũng sẽ được giải thoát, không phải lệ thuộc vào cảnh hư nát… Thật vậy, chúng ta biết rằng: cho đến bây giờ, muôn loài thụ tạo cùng rên siết và quằn quại như sắp sinh nở. Không phải muôn loài mà thôi, cả chúng ta cũng rên siết trong lòng… khi trông đợi sự cứu chuộc thân xác chúng ta’ (Rm 8,19-23)”.[27]
Vì vậy Đức Phanxicô đã viết: “Con người được phú ban sự thông minh và tình yêu, được cuốn hút bởi sự viên mãn của Đức Kitô, được mời gọi để dẫn dắt mọi loài thụ tạo trở về với Đấng Tạo Hóa của chúng” (LS 83). Tuy nhiên, hơn ai hết, chính các Kitô hữu là những người đã được Đức Kitô trao cho sứ mạng ấy. Thật vậy, trước khi về trời, Đức Kitô đã nói với các tông đồ: “Anh em hãy đi khắp tứ phương thiên hạ, loan báo Tin Mừng cho mọi loài thụ tạo” (Mc 16,15). Loan báo Tin Mừng cho mọi loài thụ tạo là gì nếu không phải là làm cho sự cứu độ mà Đức Kitô đã thực hiện được thể hiện không những nơi con người, mà còn nơi toàn thể vũ trụ. Bởi lẽ nếu vì tội lỗi của con người và muôn loài bị hư hoại, thì khi con người được cứu độ, toàn thể vũ trụ cũng được cứu độ.
Việc con người cộng tác vào công trình cứu độ của Đức Kitô để phục hồi vạn vật phải được thực hiện dưới ánh sáng Tin Mừng của Đức Kitô, tức là theo giáo huấn và mẫu gương đời sống của Người, như chúng ta đã đề cập trên đây. Cũng chính trong ánh sáng Tin Mừng đó các Kitô hữu đọc lại tường thuật về công trình sáng tạo của sách Sáng Thế, để nhận ra ý nghĩa của toàn bộ công trình tạo dựng cũng như của mỗi loài thụ tạo, tái khám phá vẻ đẹp và trật tự hài hòa mà Thiên Chúa đã thiết lập trong vũ trụ thiên nhiên để trân trọng, giữ gìn và phát triển.
“Việc tái khám phá thiên nhiên có thể không bao giờ thực hiện được nếu không có sự tự do và trách nhiệm của con người, là một thành phần của thế giới, có nghĩa vụ phải vun trồng các khả năng của mình để bảo vệ thiên nhiên và phát triển hết tiềm năng của nó. Nếu chúng ta nhìn nhận giá trị và sự mong manh của thiên nhiên, cùng với những khả năng Thiên Chúa ban tặng cho chúng ta, chúng ta có thể bỏ lại phía sau huyền thoại hiện đại về sự tiến bộ vật chất vô hạn. Một thế giới mong manh, được Thiên Chúa uỷ thác cho sự chăm sóc của con người, đang thách đố chúng ta phát minh ra những cách thế thông minh của việc định hướng, phát triển và giới hạn sức mạnh của chúng ta” (LS 78). Nếu kỹ thuật từ lâu nay bị coi như có vai trò đáng trách trong việc phá hủy môi sinh, thì nay nó có thể trở thành một phương tiện tuyệt vời giúp con người tham dự vào việc cải tạo vũ trụ, nếu nó được áp dụng với tinh thần trách nhiệm.
Tuy nhiên, khi nói đến trách nhiệm của con người đối với vũ trụ thiên nhiên, thông điệp Laudato Si’ cũng đồng thời phủ nhận việc thần thánh hóa các vật thụ tạo, điều mà ngay từ bản tường thuật về việc sáng tạo trong sách Sáng Thế đã mặc nhiên phủ nhận: “Tư tưởng Do-thái – Kitô giáo giảm bớt đi chiều kích thần bí của thiên nhiên. Trong khi vẫn tiếp tục ngưỡng mộ thiên nhiên cao cả và bao la, tư tưởng này không coi thiên nhiên là thần thánh. Làm như vậy, nó nhấn mạnh trên hết tất cả là trách nhiệm của con người đối với thiên nhiên” (LS 78). Con người có nhiệm vụ “dẫn dắt mọi loài thụ tạo trở về với Đấng Tạo Hóa của chúng” (LS 83), chứ không phải để tôn thờ chúng mà quên mất Đấng đã tạo thành chúng.
Việc phục hồi vạn vật phải được gắn liền và lệ thuộc vào ơn cứu độ của con người. Vì vậy việc tôn trọng các thụ tạo phải đi liền với việc tôn trọng con người, vì theo trật tự của vũ trụ thụ tạo, phẩm giá của các loài vật khác không thể cao trọng hơn phẩm giá của con người. Tôn trọng thiên nhiên không đồng nghĩa với việc hạ thấp con người, đến độ nhiều lúc người ta nhiệt thành quá mức trong việc bảo vệ các chủng loại khác hơn là bảo vệ phẩm giá của con người được tạo thành giống hình ảnh Thiên Chúa và bình đẳng với nhau. Không thể tôn trọng sự sống của các sinh vật hoang dã, đồng thời coi thường sinh mạng của con người, như trong những vụ phá thai hay diệt chủng. Không thể đấu tranh chống lại nạn buôn bán các chủng loại đang gặp nguy cơ nhưng lại hoàn toàn thờ ơ với nạn buôn bán người. Cũng không thể đổ một khoản tiền lớn vào việc chăm sóc và bảo vệ thiên nhiên mà đồng thời lại tỏ ra dửng dưng hay bỏ quên những người nghèo khổ bệnh tật. Không thể tìm mọi cách để bảo vệ sự cân bằng sinh thái mà lại tạo ra những mất cân bằng trong các quan hệ xã hội loài người.
Thiên Chúa đã tạo nên vũ trụ cho muôn vật và mọi người hưởng dùng. Vì vậy quyền chung hưởng của cải trần thế là quyền căn bản của mọi người không phân biệt. “Do đó, mọi cách tiếp cận sinh thái cần phải phối hợp với góc độ xã hội, biết suy xét đến các quyền lợi nền tảng của người nghèo và người xấu số” (LS 93). Vì vậy, không ai được quyền độc chiếm tài sản thiên nhiên cho riêng mình mà không chịu chia sẻ cho người khác. Điều này tạo nên một sự mất cân bằng sinh thái quan trọng nhất, bởi lẽ con người không phải là một thụ tạo tách biệt khỏi môi trường sinh thái, nhưng cũng là một phần của môi trường sinh thái. Do đó, “công việc của Hội Thánh không chỉ là tìm cách nhắc nhớ mọi người về nghĩa vụ chăm sóc thiên nhiên, mà ‘Hội Thánh trên hết phải bảo vệ nhân loại khỏi sự tự huỷ diệt’.[28]” (LS 79).
Tóm lại, môi trường sinh thái là một tổng thể bao gồm không những các mối tương quan giữa các loài vật với nhau, mà còn những mối tương quan giữa chúng với con người và giữa con người với nhau. Vì vậy, việc phục hồi vạn vật phải là một công trình phục hồi, phát triển và hoàn thiện các mối tương quan ấy, bởi vì có một mối quan hệ hỗ tương giữa các mối tương quan ấy.
“Khi tâm hồn chúng ta mở ra cách đúng đắn cho sự hiệp thông hoàn vũ, cảm thức về tình huynh đệ này không loại trừ điều gì và bất cứ một ai. Sự thờ ơ hay sự tàn bạo của chúng ta đối với các thụ tạo của thế giới này sớm muộn gì cũng ảnh hưởng đến cách hành xử của chúng ta với những anh em đồng loại khác. Chúng ta chỉ có một trái tim, và cùng một nỗi khốn khổ làm chúng ta đối xử tệ bạc với một động vật không bao lâu sẽ thể hiện trong cách đối xử của chúng ta với người khác. Mọi hành vi tàn bạo hướng đến bất kì một thụ tạo nào đều ‘trái với phẩm giá con người’.[29] Thật khó chấp nhận rằng chúng ta đang yêu thương một cách trọn vẹn nếu chúng ta coi thường bất kì một khía cạnh nào của thực tại: ‘Hoà bình, công lý và sự bảo tồn tạo thành là ba chủ đề tuyệt đối liên hệ với nhau, không thể tách lìa và suy xét cách cá biệt mà không một lần nữa rơi vào chủ nghĩa giản lược’.[30] Mọi sự đều có liên hệ, và chúng ta là những con người hiệp nhất với nhau như anh chị em trên cuộc lữ hành kỳ diệu, đan dệt với nhau bằng tình yêu Thiên Chúa dành cho mỗi thụ tạo và tình yêu ấy cũng hiệp nhất chúng ta trong tình cảm trìu mến với anh mặt trời, chị mặt trăng, anh sông và mẹ đất” (LS 92). Đây cũng là thông điệp mà thánh Phanxicô Assisi gửi đến tất cả mọi người, để mỗi người cùng cộng tác vào chương trình phục hồi vạn vật của Đức Kitô.
KẾT LUẬN
Qua phần trình bày của toàn bộ chương hai trong thông điệp Laudato Si’, Đức Phanxicô đã dựa vào Thánh Kinh để giới thiệu với mọi người, cả Công giáo lẫn không Công giáo, một nhãn quan thần học về môi trường sinh thái, làm sáng tỏ một số điểm ngộ nhận hay quan điểm bất đồng vốn đã khơi mào cho rất nhiều cuộc tranh cãi, thậm chí kết án các Kitô hữu. Những bất đồng này phần lớn phát xuất từ những sự hiểu biết phiến diện hay sai lạc về Thánh Kinh.
Theo Thánh Kinh, toàn thể vũ trụ được tạo thành do Đấng Tạo Hóa toàn năng và tốt lành. Do đó, vũ trụ thiên nhiên là tác phẩm tuyệt vời của Thiên Chúa vì phản ánh sự tốt lành và khôn ngoan của Người. Tột đỉnh của tác phẩm ấy là con người được tạo nên giống hình ảnh Thiên Chúa và được Người cho tham dự vào quyền Chủ tể của Người để cộng tác với Người vào việc hoàn thiện vũ trụ. Đó là một vinh dự lớn lao, đồng thời cũng là một trách nhiệm nặng nề. Tuy nhiên, con người ngày nay quá tự hào về những thành quả khoa học kỹ thuật của mình, nên đã phủ nhận Thiên Chúa và chiếm lấy quyền Chủ tể của Người trên vũ trụ, đến độ tự ý khai thác thiên nhiên bất chấp những quy luật mà Đấng Tạo Hóa đã sắp đặt cho vũ trụ thiên nhiên được vận hành cách hài hòa và phát triển bền vững. Từ đó môi trường sinh thái ngày càng bị tàn phá đến độ báo động. Tuy nhiên, vấn đề sinh thái vẫn cứ lẩn quẩn không tìm ra một giải pháp thỏa đáng, bao lâu con người vẫn còn loay hoay trong sự tự hào về kiến thức khoa học của mình, mà không nhận ra rằng vấn đề sinh thái không chỉ đơn thuần là vấn đề khoa học, mà còn là vấn đề thần học cần phải được nhìn bằng một nhãn quan thần học và phải tìm kiếm những giải pháp dưới ánh sáng thần học.
Để kết luận, chúng ta có thể chọn một đoạn trong chương hai của chính Thông điệp Laudato Si’: “Một nền linh đạo lãng quên Thiên Chúa là Đấng toàn năng và là Đấng Tạo Hóa thì không thể chấp nhận được. Kết cục của nó sẽ là tôn thờ các quyền lực trần thế, hay chính bản thân chúng ta chiếm đoạt vị thế của Thiên Chúa, thậm chí đến mức công bố một quyền vô hạn để chà đạp lên công trình tạo dựng của Người. Cách tốt nhất để khôi phục người nam và người nữ về đúng vị trí của họ, là đặt dấu chấm hết cho sự công bố quyền thống trị tuyệt đối trên trái đất, là công bố thêm một lần nữa về hình tượng của Người Cha – Đấng Tạo Hóa và chỉ mình Người làm chủ thế giới này. Nếu không thì con người sẽ luôn tìm cách áp đặt luật lệ và lợi ích của họ trên thực tại” (LS 75).
Nguồn: gpquinhon.org
[1] Sách Giáo lý của Hội Thánh công giáo, số 280.
[2] “Ngay từ đầu, Hội Thánh thời các Tông đồ đã diễn tả và lưu truyền đức tin của mình bằng những công thức ngắn và có giá trị chuẩn mực đối với mọi người (x. Rm 10,9; 1Cr 15, 3-5). Không lâu sau đó, Hội Thánh lại muốn thu thập những điểm cốt yếu của đức tin vào những bản tóm lược mạch lạc và rõ ràng, chủ yếu dành cho những người chuẩn bị lãnh nhận bí tích rửa tội” (Sách Giáo lý của Hội Thánh công giáo, số 186).
“Các bản tổng hợp đức tin đó được gọi là các ‘Bản tuyên xưng đức tin’, vì chúng tóm lược đức tin mà các Kitô hữu tuyên xưng. Chúng được gọi là ‘Kinh tin kính’ vì thường bắt đầu bằng thuật ngữ ‘Tôi tin kính’. Chúng cũng còn được gọi là các ‘Tín biểu’ (Symbola fidei)” (Sách Giáo lý của Hội Thánh công giáo, số 187).
[3] BÊNÊĐICTÔ XVI, Giáo lý (9.11.2005), 3: Giáo lý 1 (2005), 768.
[4] Sách Giáo lý của Hội Thánh công giáo, số 284.
[5] Sách Giáo lý của Hội Thánh công giáo, số 295.
[6] Sách Giáo lý của Hội Thánh công giáo, số 2416.
[7] GIOAN PHAOLÔ II, Giáo lý (30.01.2002), 6: Giáo lý 25/1 (2002), 140.
[8] HỘI ĐỒNG GIÁM MỤC CANADA, ỦY BAN XÃ HỘI, Thư mục vụ Chúa yêu thương tất cả mọi loài hiện hữu… Mọi sự thuộc về Ngài, lạy Thiên Chúa của Sự Sống (4.10.2003), 1.
[9] HỘI ĐỒNG GIÁM MỤC NHẬT BẢN, Tôn kính sự sống. Sứ điệp cho Thế Kỷ XXI (01.01.2000), 89.
[10] GIOAN PHAOLÔ II, Giáo lý (26.01.2000), 5: Giáo lý 23/1 (2000), 123.
[11] GIOAN PHAOLÔ II, Giáo lý (02.8.2000), 3: Giáo lý 23/2 (2000), 112.
[12] Sách Giáo lý của Hội Thánh công giáo, số 341.
[13] TÔMA AQUINÔ, Summa theologiae, I, q. 104, art 1-4.
[14] TÔMA AQUINÔ, In octo libros Physicorum Aristotelis expositio, Lib. II, lectio 14.
[15] Sách Giáo lý của Hội Thánh công giáo, số 340.
[16] TÔMA AQUINÔ, Summa theologiae, I, q. 47, art. 1.
[17] Ibid.
[18] JEAN-PAUL MARÉCHAL, “L’éthique écologique de la Bible”, trong Presses de Sciences Po, 2006/2, No. 33, tr. 196.
[19] JEAN HASPÉRIN, “Le Judaïsme”, trong Travail, cultures, religions, Anthropos, Paris, 1983, tr. 55.
[20] Sách Giáo lý của Hội Thánh công giáo, số 398.
[21] Sách Giáo lý của Hội Thánh công giáo, số 400.
[22] Sinh thái học chiều sâu hay triệt để là một triết thuyết về sinh thái của thời hiện đại, với đặc tính là bảo vệ giá trị nội tại của các sinh vật và thiên nhiên, tức là giá trị độc lập với lợi ích của chúng đối với con người. Arne Næss là người đã sáng tạo ra thuật ngữ này trong một bài báo xuất bản lần đầu tiên năm 1973 với tựa đề: “The Shallow and the Deep Long Range Ecology Movement”.
Xem https://fr.wikipedia.org/wiki/Écologie_profonde.
[23] JEAN-PAUL MARÉCHAL, “L’éthique écologique de la Bible”, Sđd., tr. 187.
[24] Xem LYNN WHITE Jr., “The Historical roots of our ecological crisis”, được trích dẫn trong JEAN-PAUL MARÉCHAL, “L’éthique écologique de la Bible”, Sđd., tr. 187.
[25] CATHERINE CHALIER, L’Alliance avec la nature, Cerf, coll. “La nuit surveillée”, Paris 1989, tr. 73.
[26] Thánh Giustinô nói về “hạt giống của Lời” trong thế giới: xem II Apologia 8,1-2; 13, 3-6.
[27] Sách Giáo lý của Hội Thánh công giáo, số 1046.
[28] BÊNÊĐICTÔ XVI, Thông điệp Caritas in Veritate (29.6.2009), số 51.
[29] Giáo lý của Hội Thánh công giáo, số 2418.
[30] HỘI ĐỒNG GIÁM MỤC DOMINICA, Thư mục vụ Mối tương quan của con người với thiên nhiên (21.01.1987).
Gm. Matthêô Nguyễn Văn Khôi
2020
Đón nhận khổ đau
26/09/2020
Thứ Bảy Tuần XXV Mùa Thường Niên
Lc 9, 44b-45
ĐÓN NHẬN KHỔ ĐAU
Sống trên cuộc hồng trần này, mầu nhiệm về khổ đau luôn là điều bí nhiệm. Các nhà hiền triết, các bậc thánh nhân, các nhà tiên tri và tri thức thần bí… từ ngàn đời đã trăn trở tìm kiếm để cho đau khổ một ý nghĩa. Sách sáng thế cho thấy đau khổ là hậu quả tất nhiên của tội lỗi, của việc con người không vâng phục những lời dạy bảo của Thiên Chúa, hay nói khác đi đầu mối của nó chính là sự kiêu ngạo, bất tuân đường lối, thánh ý Người.
Chúa Giêsu đã đón nhận khổ đau, Ngài đã biến khổ đau thành hiến lễ tình yêu, do đó khổ đau đã trở thành nguồn ơn cứu thoát cho nhân loại. Chúa Giêsu mời gọi các môn đệ hãy vác lấy thập giá mình mà đi theo Ngài. Mỗi ngày có nỗi khổ riêng của ngày đó, hạnh phúc hay không, bình an hay không, là tùy con người có biết đón nhận khổ đau với tình yêu hay không.
Đối với niềm tin Kitô của chúng ta, đau khổ còn luôn có một giá trị trong việc tìm kiếm và thi hành thánh ý Chúa – thánh ý đã muốn cho con người được hạnh phúc nhờ sống yêu thương như chính Thiên Chúa là tình yêu. “Đang lúc mọi người còn bỡ ngỡ về tất cả các việc Chúa Giêsu làm, thì Người phán cùng các mộn đệ rằng: “Phần các con, các con hãy ghi vào lòng những lời này là: Con Người sẽ phải bị nộp vào tay người đời”” (c. 43b – 44).
Trong Tin Mừng hôm nay, khi loan báo cuộc khổ nạn của Ngài, Chúa Giêsu mời gọi các môn đệ của Ngài hãy đối đầu với khổ đau, nếu khổ đau là thành phần thiết yếu của cuộc sống. Vấn đề không phải là chối bỏ hiện thực của khổ đau hay tìm cách tránh né khổ đau, mà là đối đầu với nó. Chúa Giêsu đã vạch ra cho chúng ta cách thế đối đầu với khổ đau, đó là chấp nhận khổ đau với tình yêu. Ðau khổ mà không có tình yêu thì chỉ là hỏa ngục mà thôi.
Xem chừng tất cả các vấn đề của con người đều được gắn liền với khổ đau. Vì không muốn chấp nhận khổ đau mà con người gây ra bao nhiêu tội ác, vì không muốn hy sinh mà một người mẹ đang tâm giết đứa con trong lòng mình, vì không muốn thấy người thân đau khổ mà người ta giết họ một cách êm dịu, vì không muốn đối đầu với thực tại khổ đau mà người ta tìm quên trong men rượu, ma túy và mọi thứ kích thích khác: hỏa ngục là như thế đó.
Người ta bỡ ngỡ, kinh ngạc về điều gì? Chúng ta hãy đọc lại những trình thuật bên trên của cùng chương 9: Sau lời tuyên tín của thánh Phê-rô: “Ngài là Đấng Kitô của Thiên Chúa” (Lc 9, 20b), Đức Kitô “tiên báo cuộc thương khó lần nhất”; Khoảng tám ngày sau, Ngài hiển dung trên núi cao (Ta-bo) (Lc 9, 28 – 36); rồi hôm sau, Chúa Giêsu chữa lành bệnh đứa trẻ bị bệnh kinh phong khiến mọi người đều kinh ngạc trước quyền năng cao cả của Thiên Chúa (Lc 9, 37 – 43) – và chính lúc này đây, Chúa Giêsu “tiên báo cuộc thương khó lần hai” cho các môn đệ, nhưng “các ông vẫn không hiểu.” Tin mừng nói “các ông không hiểu, vì nó còn bị che khuất” (mắt các ông còn bị ngăn cản).
Tại sao mắt các ông lại bị ngăn cản? Thưa, vì những vinh quang đã làm mờ mắt các ông. Dù gì khi theo Chúa Giêsu, các môn đệ hiển nhiên vẫn có những tính toán; như Phê-rô đã có lần thưa với Chúa Giêsu: “Thưa thầy, chúng con đã bỏ tất cả mọi sự mà theo thầy, chúng con sẽ được gì?” (Mt 19, 27).
Cũng thế, khi tuyên xưng Đức Giê-su là “Đấng Ki-tô của Thiên Chúa”, trong lòng các môn đệ vẫn mơ đến một Đấng Kitô – Messia của trần thế ‘đầy quyền lực và vinh quang’ sẽ khôi phục và làm cho Israel trở thành tiếng tăm lẫy lừng; và điều hiển nhiên là các ông sẽ có một tương lai huy hoàng với chức tước và bổng lộc vì lý do đó mà “Mắt các ông bị ngăn cản!” Và điều Chúa Giêsu nói: “Con Người sẽ phải bị nộp vào tay người đời” (c.44b) khiến các ông không thể hiểu được, “không thể lĩnh hội được”.
Không chỉ với các môn đệ, ngày nay đối với chúng ta, đau khổ, thập giá vẫn luôn là điều khó hiểu. Nhất là chúng ta không thể hiểu nổi tại sao người công chính cứ gặp gian nan, khốn khó, thất bại và bị bách hại, còn phường gian ác lại cứ nhởn nhơ sung sướng.
Hơn nữa, trước mặt người đời, Thập giá luôn là điều khờ dại; vì con người sự thường ai mà không thích thảnh thơi, dễ dãi, ai mà không thích được thành đạt, ca ngợi, tôn vinh, ai mà không thích sung sướng, vui vẻ…. Nhưng Chúa Giêsu đã cho thấy một chân lý khác – chân lý của “một hạt lúa mì không thể sinh hoa kết trái nếu không phải chịu mục nát và thối rữa đi” và có “gieo trong lệ sầu mới gặt trong hân hoan vui sướng”.
Chính vì vậy mà khi các môn đệ đang phơi phới hân hoan, và mơ tưởng những ‘vinh quang phù phiếm’ thì Chúa Giêsu tuyên bố: “Con Người sẽ bị nộp vào tay người đời”; Đồng thời người cho biết ai muốn làm môn đệ bước theo dấu chân Người không thể không ôm ẵm, vác thập giá hằng ngày mà đi theo Người. (Lc 9, 23). Các môn đệ đã không hiểu không dám hỏi và cũng chẳng muốn đối diện với điều xem ra ‘ngược đời’ ấy. Và chỉ Thần khí của Đấng phục sinh – Thánh Thần của Thiên Chúa mới làm cho các môn đệ hiểu để rồi như Chúa Giêsu các ngài đã giơ tay ôm ẵm Thập giá để loan truyền Tin mừng tình yêu của Thiên Chúa.
Chúa Giêsu nhấn mạnh tính quan trọng của điều Ngài sắp nói bằng cách lưu ý các môn đệ phải “nghe cho kỹ” lời Ngài. Ngài tiên báo cuộc Thương khó sắp đến: “Con Người sắp bị nộp vào tay người đời”. Luca tường thuật rõ: các môn đệ không nhận ra ý nghĩa lời tiên báo vừa rồi của Chúa Giêsu, bởi vì đối với các ông, “lời đó còn bí ẩn”. Họ từng xây dựng một hình ảnh và đặt niềm tin về một Thiên Chúa quyền lực vinh quang, nên đã trở nên xa lạ hay khó chấp nhận một Thiên Chúa chịu đau khổ và chịu chết.
Khổ đau không bao giờ buông tha chúng ta. Chỉ có điều chúng ta đối đầu với chúng trong sự tiêu cực thì chính khổ đau sẽ vùi dập cuộc đời và nó sẽ làm cho chúng ta thất vọng. Còn nếu chúng ta đón nhận nó trong lòng mến Chúa và sứ vụ thì sẽ bình an và đôi khi hạnh phúc hiện lên từ những gian nan khốn khổ. Bởi lẽ, theo niềm tin của người Công Giáo thì: “Qua đau khổ mới được vào vinh quang”.
Như các môn đệ sau biến cố ‘vượt qua và Phục sinh’, chúng ta hãy cầu xin Chúa Thánh Thần mở trí, mở mắt tâm hồn để hiểu được con đường thập giá tình yêu mà Chúa Giêsu đã chọn để làm giá cứu chuộc muôn người.
Và rồi ta cũng xin Chúa Thánh Thần ban cho chúng ta đủ tình yêu và sức mạnh để đi trọn con đường thử thách gian nan; Bởi vì như thánh Phaolô, người đã coi cuộc đời này là một trận chiến, một thao trường mà chúng ta phải chiến đấu để dành cho được ngành lá thiên tuế – ngành lá chiến thắng; Do đó mà không có sự dễ dãi, thoải mái hay hưởng thụ ích kỷ cho người môn đệ. Nhưng hạnh phúc đích thực chỉ có cho người biết gieo rắc tình yêu thương, Mà đường yêu thương là con đường hy sinh và dâng hiến.
2020
Thứ Bảy Tuần XXV – Mùa Thường Niên
Thứ Bảy Tuần XXV – Mùa Thường Niên
Ca nhập lễ
Chúa phán : “Ta là Đấng cứu độ dân Ta,
trong mọi cơn gian nan thử thách,
nếu chúng kêu cầu Ta,
Ta sẽ thương nhận lời,
và cho đến muôn đời muôn thuở,
Ta sẽ là Chúa Trời của chúng.”
Lời nguyện nhập lễ
Lạy Chúa, Chúa đã thu gọn toàn thể lề luật thánh vào giới răn độc nhất là mến Chúa yêu người, xin giúp chúng con hằng vâng giữ điều Chúa truyền dạy, để sau này đạt tới phúc trường sinh. Chúng con cầu xin …
Bài đọc 1
Gv 11,9 – 12,8
Giữa tuổi thanh xuân, bạn hãy tưởng nhớ Đấng đã dựng nên mình. Đừng chờ đến khi bụi đất lại trở về với đất.
Bài trích sách Giảng viên.
119Này bạn thanh niên,
cứ vui hưởng tuổi xuân của bạn,
và làm cho tâm hồn được hạnh phúc
trong những ngày còn trẻ :
cứ chiều theo ước muốn của lòng mình
và những gì mắt mình ưa thích.
Nhưng bạn phải biết rằng :
về tất cả những điều đó,
Thiên Chúa sẽ gọi bạn ra xét xử.
10Hãy đẩy lui sầu não khỏi tâm hồn,
khử trừ đớn đau khỏi thân xác,
vì tuổi trẻ đầu xanh đều là phù vân cả.
121Giữa tuổi thanh xuân,
bạn hãy tưởng nhớ Đấng đã dựng nên mình.
Đừng chờ đến ngày tai ương ập tới,
đừng chờ cho năm tháng qua đi,
những năm tháng mà rồi bạn sẽ phải nói :
“Tôi chẳng có được một niềm vui nào trong thời gian đó cả !”
2Đừng chờ đến khi mặt trời với ánh sáng,
mặt trăng cùng tinh tú đều trở thành tối tăm,
và mây đen tụ lại khi cơn mưa đã dứt.
3Ngày ấy, người giữ nhà sẽ run lẩy bẩy,
chàng trai vạm vỡ phải khòm lưng,
các cô xay bột không còn xay tiếp vì không đủ người xay,
các bà nhìn qua cửa sổ : chỉ nhìn thấy lờ mờ.
4Ngày ấy, cánh cửa ngó ra đường sẽ đóng lại,
tiếng cối xay bột từ từ nhỏ đi,
người ta trỗi dậy khi vừa nghe tiếng chim hót
và mọi cô ca sĩ sẽ phải lặng thinh.
5Ngày ấy, đường hơi dốc cũng làm người ta sợ,
chân bước đi mà lòng thật kinh hoàng.
Ngày ấy, hoa hạnh đào nở ra trắng xoá,
loài châu chấu trở nên chậm chạp nặng nề,
trái bạch hoa hết còn hương vị.
Bởi vì con người tiến đến nơi ở ngàn thu,
bên đường đầy những người khóc than ai oán.
6Đừng chờ đến khi chỉ bạc đứt, bình vàng vỡ,
vò nước bể ngay tại hồ chứa nước,
ròng rọc gãy, vụt rơi xuống giếng sâu.
7Đừng chờ đến khi bụi đất lại trở về với đất,
khi phàm nhân trả lại cho Thiên Chúa
hơi thở Người đã ban cho mình.
8Ông Cô-he-lét nói :
“Phù vân, quả là phù vân, mọi sự đều là phù vân cả !”
Đáp ca
Tv 89,3-4.5-6.12-13.14 và 17 (Đ. c.1)
Đ.Lạy Chúa, trải qua bao thế hệ,
Ngài vẫn là nơi chúng con trú ẩn.
3Chúa bắt phàm nhân trở về cát bụi,
Ngài phán bảo : “Hỡi người trần thế, trở về cát bụi đi !”4Ngàn năm Chúa kể là gì,
tựa hôm qua đã qua đi mất rồi,
khác nào một trống canh thôi !
Đ.Lạy Chúa, trải qua bao thế hệ,
Ngài vẫn là nơi chúng con trú ẩn.
5Ngài cuốn đi, chúng chỉ là giấc mộng,
như cỏ đồng trổi mọc ban mai,6nở hoa vươn mạnh sớm ngày,
chiều về ủ rũ tàn phai chẳng còn.
Đ.Lạy Chúa, trải qua bao thế hệ,
Ngài vẫn là nơi chúng con trú ẩn.
12Xin dạy chúng con đếm tháng ngày mình sống,
ngõ hầu tâm trí được khôn ngoan.13Lạy Chúa, xin trở lại ! Ngài đợi đến bao giờ ?
Xin chạnh lòng thương xót những tôi tớ Ngài đây.
Đ.Lạy Chúa, trải qua bao thế hệ,
Ngài vẫn là nơi chúng con trú ẩn.
14Từ buổi mai, xin cho đoàn con được no say tình Chúa,
để ngày ngày được hớn hở vui ca.17Xin cho chúng con được vui hưởng
lòng nhân hậu của Chúa là Thiên Chúa chúng con.
Việc tay chúng con làm, xin Ngài củng cố,
xin củng cố việc tay chúng con làm.
Đ.Lạy Chúa, trải qua bao thế hệ,
Ngài vẫn là nơi chúng con trú ẩn.
Tung hô Tin Mừng
- 2 Tm 1,10
Ha-lê-lui-a. Ha-lê-lui-a. Đấng Cứu Độ chúng ta là Đức Giê-su Ki-tô đã tiêu diệt thần chết, và đã dùng Tin Mừng mà làm sáng tỏ phúc trường sinh. Ha-lê-lui-a.
Tin Mừng
Lc 9,43b-45
Con Người sắp bị nộp vào tay người đời. Các ông sợ không dám hỏi lại Người về lời ấy.
✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Lu-ca.
43b Khi ấy, đang lúc mọi người còn bỡ ngỡ về tất cả các việc Đức Giê-su làm, thì Người nói với các môn đệ rằng : 44 “Phần anh em, hãy lắng tai nghe cho kỹ những lời sau đây : Con Người sắp bị nộp vào tay người đời.” 45 Nhưng các ông không hiểu lời đó, vì đối với các ông, lời đó còn bí ẩn, đến nỗi các ông không nhận ra ý nghĩa. Nhưng các ông sợ không dám hỏi lại Người về lời ấy.
Lời nguyện tiến lễ
Lạy Chúa, xin vui lòng chấp nhận của lễ cộng đoàn chúng con dâng, và nhờ thánh lễ này, xin cho chúng con được hưởng những hồng ân cao cả, mà chúng con hết lòng tin tưởng cậy trông. Chúng con cầu xin …
Lời Tiền Tụng
Lạy Chúa là Cha chí thánh, là Thiên Chúa toàn năng hằng hữu, chúng con tạ ơn Chúa mọi nơi mọi lúc, nhờ Ðức Ki-tô, Chúa chúng con, thật là chính đáng, phải đạo và đem lại ơn cứu độ cho chúng con.
Vì chính Người, khi sinh ra đã đổi mới con người cũ, khi chịu khổ hình, đã tẩy xoá tội lỗi chúng con, khi từ cõi chết sống lại, đã khai lối vào chốn trường sinh, và khi lên cùng Chúa là Cha, Người đã mở cửa Nước Trời.
Vì thế, cùng với toàn thể Thiên thần và các thánh, chúng con hát bài ca chúc tụng Chúa và không ngừng tung hô rằng:
Thánh! Thánh! Thánh! …
Ca hiệp lễ
Tv 118,4-5
Lạy Chúa, Ngài đã ban huấn lệnh,
truyền chúng con tuân giữ vẹn toàn.
Ước mong sao con hằng vững bước
theo thánh chỉ Ngài ban.
Lời nguyện hiệp lễ
Lạy Chúa, Chúa đã lấy Mình và Máu Ðức Kitô nuôi dưỡng chúng con; xin nâng đỡ và giữ gìn chúng con luôn mãi, để chúng con được hưởng nhờ hiệu quả ơn cứu chuộc trong thánh lễ cũng như trong đời sống hàng ngày. Chúng con cầu xin …
2020
Nghệ thuật đồng hành ơn gọi linh mục
NGHỆ THUẬT ĐỒNG HÀNH ƠN GỌI LINH MỤC
Dẫn nhập
Cha Anthony de Melo kể lại một câu chuyện rất ý vị: Một ngày nọ, có một chú chuột đi kiếm ăn. Chuột ta thấy một miếng thịt bò ở trong một tủ đựng thức ăn. Chuột tìm cách đề vào nhưng không có cách gì vào trong được. Tìm hết cách, bổng nhiên, chú chuộc phát hiện ra ở phía dưới của tủ, có một lỗ thông khí, nên nghĩ là sẽ chui vào trong được. Nhưng khổ nổi, lỗ thì nhỏ mà mình chuột thì to quá; sau bao nhiêu cố gắng cũng bất thành. Chuột mới phát sinh một sáng kiến, để vào trong đó, cần phải nhịn ăn để mình nhỏ lại. Thế là chuột đã nhịn ăn mấy ngày, và cuối cùng chuột thành công. Chú vào trong và ăn hết miếng thịt bò cách ngon lành. Sau khi ăn xong, chuột lại mập ù lên và không thể nào thoát ra được. Thế là chuột lại phải tìm diệu kế ăn kiêng, cuối cùng đâu vào đấy, chú chuột gầy ra và thoát chết sau khi được miếng thịt bò.
Câu chuyện ngụ ngôn này có thể giúp chúng ta xem lại quan niệm về thiên chức linh mục. Chức linh mục không phải như “miếng thịt bò trong mắt chuột”, cũng không phải là phần thưởng, “đặc ân” hay địa vị, bằng mọi cách, với mọi giá, “chấp nhận nín thở qua sông” để tìm kiếm và chiếm giữ cho bằng được, khi đạt được rồi thì muốn sống thế nào thì sống. Nhưng trở thành linh mục là sự đáp trả tình yêu cho một lời gọi cao quý của Thiên Chúa qua một quá trình rèn luyện, biến đổi mình nên giống Chúa Kitô, khuôn mẫu lý tưởng của linh mục.
Không ai có thể tự nhiên là thánh, cũng không ai có thể tự nhiên là quỷ, thánh hay quỷ là một quá trình trở nên. Ơn gọi linh mục cũng thế. Trở nên linh mục cần phải trải qua một quá trình huấn luyện “bởi, trong và cho” Giáo Hội. Tiến trình đó được cụ thể hóa trong tiến trình đồng hành.
I. Khái niệm và ý nghĩa
Trong tiến trình huấn luận, có ba hạn từ quan trọng mà chúng ta cần đặc biệt lưu tâm, đó là: giáo dục (education), huấn luyện (formation) và đồng hành (accompagnament). Educere có nghĩa là dẫn ra, phân biệt, làm cho rõ. Áp dụng trong đào tạo, nó có nghĩa là đào bới, kéo ra, là đưa ra ánh sánh sự thật về mình, giáo dục là giúp biết mình, giúp khám phá cái tôi hiện tại (actual self) của người thụ huấn.
Hạn từ huấn luyện trong tiếng Latinh dùng động từ formare, có nghĩa là “đưa ra một khuôn mẫu, tạo một hình thức mới để trở nên.” Huấn luyện là tạo nên căn tính mới, đời sống mới nơi ứng sinh, là tạo nên cái tôi lý tưởng (ideal self). Theo nghĩa này, huấn luyện không chỉ là năng động tự thể hiện mình (self-realization), mà còn là năng động tự siêu việt bản thân (self-transcendence) theo một khuôn mẫu lý tưởng là Đức Kitô.
Còn hạn từ đồng hành (accompagnament) từ thời Trung Cổ, trong tiếng Latinh dùng là từ “cum-panio”, có nghĩa là chung một tấm bánh. Tự bản chất, đồng hành có nghĩa chia sẻ. Theo ý nghĩa này, đồng hành là muốn nói đến sự chia sẻ, chia sẻ điều gì đó từ cuộc sống như “của ăn đàng,” đó là đức tin, là ký ức về Thiên Chúa, kinh nghiệm về cuộc chiến đấu thiêng liêng, về việc tìm kiếm và cả tình yêu dành cho Người.[1]
Theo ý nghĩa thần học, huấn luyện linh mục là công trình của Ba Ngôi: Chúa Cha giáo dục, Chúa Con huấn luyện và Chúa Thánh Thần đồng hành.
Theo ý nghĩa Giáo Hội học, huấn luyện là sứ vụ được giáo phó cho các nhà đào tạo và là trách vụ của các ứng sinh. Sứ vụ này được cụ thể hóa trong việc đồng hành ơn gọi.
Có nhiều cách định nghĩa về việc đồng hành thiêng liêng, trong số đó, chúng ta chỉ chọn một định nghĩa được nhiều người đón nhận. Đó là định nghĩa của cha Manenti SJ.: “Đồng hành là một sự giúp đỡ tạm thời (temporaneo) và như phương tiện (strumentale) mà một người làm cho người khác để họ có thể nhận ra hành động của Thiên Chúa nơi bản thân và đáp trả lại hành động này bằng việc dần dần sống kết hợp với Thiên Chúa qua việc bắt chước Chúa Kitô.”[2]
Liên quan đế vấn đề này, Bộ Giáo Sỹ nói rất chí lý như sau: “Trong các giai đoạn khác nhau của tiến trình đào tạo, chủng sinh cần những người có trách nhiệm về đào tạo đồng hành cách riêng, mỗi vị theo vai trò và thẩm quyền riêng của mình. Mục đích của việc đồng hành cá nhân là giúp phân định ơn gọi và đào tạo người môn đệ truyền giáo.”[3]
Khi nói đến những phương tiện đào tạo, Bộ Giáo Sỹ nói đến hai hình thức của việc đồng hành cá nhân và cộng đoàn: Về việc đồng hành cá nhân, Ratio hướng dẫn: “Vì nhắm đến sự ngoan ngùy (docibilitas) đối với Chúa Thánh Thần, nên việc đồng hành riêng với từng người là một phương tiện đào tạo thiết yếu. Những cuộc trao đổi riêng (colloquio personale) với các nhà đào tạo phải được diễn ra đều đặn và thường xuyên. Như vậy, trong thái độ ngoan ngùy với Chúa Thánh Thần, chủng sinh sẽ dần dần nên giống Chúa Kitô. Việc đồng hành này phải đưa vào mọi khía cạnh của nhân cách và phải giáo dục để chủng sinh biết lắng nghe, biết đối thoại, biết ý nghĩa đích thực của đức vâng lời và đạt được sự tự do nội tâm. Mỗi nhà đào tạo, theo lãnh vực và thẩm quyền riêng, có nhiệm vụ giúp chủng sinh ngày càng sẵn sàng đối với tác động của ân sủng, đồng thời sáng suốt về chính con người mình, về những tài năng đã lãnh nhận và cả về những mỏng giòn nơi chính mình.”[4]
Về thời gian đồng hành, Bộ Giáo Sỹ khuyên: “Việc đồng hành phải được thực hiện từ lúc khởi đầu của tiến trình đào tạo và suốt cả đời, mặc dù sẽ được làm theo một cách khác sau khi chịu chức.”[5]
Bộ Giáo Sỹ còn nói đến việc đồng hành cộng đoàn: “Đời sống cộng đoàn phải ảnh hưởng trên mỗi chủng sinh, thanh lọc ý hướng của họ, biến đổi cách sống của họ, để từng bước họ nên đồng hình đồng dạng với Chúa Kitô.” Chủng viện là “ngôi nhà và trường của tình hiệp thông và có được mối hiệp thông từ sự hiệp thông của Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần, linh mục được mời gọi trở nên ‘con người của hiệp thông.’ Vì vậy, ở chủng viện, những mối dây liên kết được dệt nên giữa nhà đào tạo và chủng sinh cũng như giữa chính chủng sinh với nhau phải mang đậm dấu ấn tình phụ tử và tình huynh đệ.”[6]
II. Mô hình đồng hành
Có nhiều mô hình đồng hành như mô hình đồng hành của Gioan Tẩy Giả với các môn đệ ông (x. Ga 1,29; 3,30), mô hình Chúa Giêsu nói chuyện với người phụ nữ Samari bên bờ giếng Giacóp (x. Ga 4,5-15) v.v…, nhưng sau khi suy nghĩ và bàn luận, Thượng Hội Đồng Giám Mục Thế Giới về giới trẻ (2019) đã chọn mô hình đồng hành Emmaus để áp dụng cho việc huấn luyện người trẻ.[7]
Theo đó, hành trình Emmaus là sự đồng hành mà Chúa Giêsu đã thực hiện với hai môn đệ trên đường về quê khi trời đã về chiều. Sự đồng hành này là hình tượng của mọi hình thức đồng hành trong đức tin. Theo đó, Chúa Giêsu gặp gỡ, cùng bước đi với hai môn đệ, trò chuyện với họ, nói cho họ nghe những chuyện xảy ra, đi vào trong đêm tối của họ và giải thích cho họ hiểu các sự kiện dưới ánh sáng Lời Chúa. Rồi sau đó, cùng với họ Người “bẻ bánh,” họ nhận ra Người, lòng họ bừng lên, mắt họ sáng ra và liền quay trở về Giêrusalem để loan báo cho mọi người biết Chúa đã sống lại (Cf. Lc 24, 13-35).[8]
Theo mô hình hành, đồng hành là một tiến trình, trong đó có thể phân biệt ba giai đoạn, hay có 3 năng động: Nhìn (Vedere), hiểu (Comprendere) và hành động (Agire), hay nói cách khác có ba bước đồng hành: khởi đầu, cùng hợp tác và kết thúc.
1. Nhìn (Vedere), “Người cùng đi với họ” (Lc 24,17-24)
Như Chúa Giêsu đã làm trên hành trình Emmaus, đồng hành là nghệ thuật tiếp cận, tiến lại gần, đi bên cạnh với một người được đồng hành, để nhận diện và tình trạng đời sống, cũng như thấy vấn đề của họ nhờ sự quan sát.
Trong gian đoạn khởi đầu này, trước hết, nhà đồng hành và người được đồng hành cần tạo những mối tương quan gần gũi, thân thiện, tin tưởng và cởi mở với nhau. Đặc biệt hai bên tạo nên “môi trường tin tưởng và chân thành” với nhau.
Sau đó, cần xác định phạm vi đồng hành: về thời gian, lúc nào, bao nhiêu lần? Đâu là mục đích của việc đồng hành thiêng liêng (ơn gọi); vai trò của nhà đồng hành (khác với vai trò của giám đốc, giáo sư, giám học, quản lý…).
Để việc đồng hành hiệu quả, cần tìm hiểu về lịch sử ơn gọi, lịch sử đời sống của ứng sinh, đọc lại hồ sơ của họ để hiểu biết họ đầy đủ hơn.
2. Thấu hiểu (Comprendere), “mắt họ mở ra” (Lc 24,25-27)
Nhờ sự gần gũi lắng nghe và chia sẻ dưới ánh sáng Lời Chúa, Chúa Giêsu làm cho hai môn đệ trên đường về Emmaus thấu hiểu những gì đang xảy ra và ý nghĩa của các biến cố trong cuộc sống của họ. Chúa thấu hiểu nỗi buồn, sự thất vọng và dự định của họ sau biến cố thập giá.
Đồng hành là nghệ thuật tiếp cận để thấu hiểu một hoàn cảnh, một vấn đề của người được đồng hành trong toàn bộ đời sống của họ. Trong đồng hành, Lời Chúa đóng vai trò rất quan trọng trong việc soi sáng để nhận biết thực tại và đương sự. Sự hiểu biết này không thể là sơ sài, hời hợt, bên ngoài, nhưng là sự hiểu biết đúng, đầy đủ và sâu xa; hiểu rõ hoàn cảnh, tình trạng và vấn đề của người thụ huấn, cùng nhau đào bới, đưa ra ánh sáng sự thật về mình, tìm hiểu lý do, nguyên nhân và hậu quả của chúng để tìm giải pháp và quyết định thay đổi dưới sự tác động của Chúa Thánh Thần hướng dẫn.
Đây là giai đoạn hợp tác giữa hai bên. Chỉ khi tương quan đồng hành được thiết lập cách ổn định và lành mạnh, chúng ta mới có thể thực hiện việc khám phá bản thân để hiểu biết mình. Trong giai đoạn này, đồng hành là giúp người thụ huấn khám phá và nhận thức một cách chính xác nếp sống, các hành vi, thái độ sống, thói quen, tâm tư, tình cảm, cảm xúc, động lực bên trong, chọn lựa nền tảng; giúp nhận diện những sở thích, sở trường, các phản ứng, phán đoán trước một hoàn cảnh v.v… Tất cả những điều này có phù hợp với các giá trị Tin Mừng và lý tưởng linh mục không?Quá trình đồng hành là cố gắng giúp ứng sinh khám phá những bất nhất nền tảng thuộc vô thức, nghĩa là làm cho người thụ huấn ý thức về điều mà họ đang sống trong cách thế vô thức và giải quyết những bất nhất nền tảng vô thức đó.
3. Hành động (Agire), “họ trở lại Giêrusalem” (Lc 24,28-35)
Sau khi đã gần gũi, chia sẻ với họ, Chúa Giêsu cùng cử hàng lễ Bẻ Bánh, nhờ Lời Chúa và Thánh Thể, mặt họ sáng ra, lòng họ bừng cháy lên lửa yêu mến và lòng nhiệt thành tông đồ, họ nhận ra Chúa đã phục sinh và quay trở lại Giêrusalem để loan báo cho mọi người.Mục đích của đồng hành là giúp người thụ huấn nhận ra chính Chúa đang hiện diện trong cuộc sống mình, nhờ sự chia sẻ kinh nghiệm đức tin, nhờ Lời Chúa và cử hành Thánh Thể, họ càng ngày càng gia tăng lòng yêu mến Chúa và trở nên người tông đồ nhiệt thành cho tha nhân.Trong giai đoạn cuối này, đồng hành là cùng nhau đưa ra chương trình hành động, là tìm ra giải pháp cho vấn đề đang xảy ra trong họ.Trong giai đoạn này, huấn luyện là tiến trình xây dựng nơi người thụ huấn con người mới trong Đức Kitô, hình thành nơi họ cách sống mới, thái độ sống mới, lối suy nghĩ mới, tâm tình và ước muốn của chính Chúa Kitô. Ở đây, mầu nhiệp thập giá và mầu nhiệm phục sinh gắn liền nhau. Phải qua hy sinh, tự hủy, chết đi thì mới phục sinh phục sinh con người mới trong Đức Kitô nhờ Thánh Thần. Nghĩa là trở nên đồng hành đồng dạng với Chúa Kitô, là Đầu và Mục Tử.Nhà đồng hành cần khôn ngoan biết dành khoảng trống cho người được đồng hành tự đảm nhận trách nhiệm của mình, tự quyết định và hành động để thay đổi cuộc sống mình tốt hơn. Nhà đồng hành cuối cùng cũng phải như Gioan Tẩy Giả, nghĩa là ý thức mình là người dọn đường, người dọn chỗ, mà không chiếm giữ họ, nhưng vui vẻ với sứ vụ của mình là “bạn của chàng rể”: “Giờ đây, niềm vui của tôi được trọn vẹn. Người phải lớn lên, con tôi phải nhỏ lại” (Gv 3,30).Ngày nay trong sư phạm giáo dục, người ta thích nói đến vai trò chủ động của người thụ huấn, nhờ sự đồng hành, cuối cùng họ được mời gọi trở nên tự trưởng thành, người có khả năng tự đứng vững trên đôi chân của mình, dù phải đối diện với những khó khăn thử thách.
III. Những phẩm chất và thái độ đồng hành
Ai trong chúng ta muốn hay chấp nhận đồng hành với một người nào đó trên hành trình tiến tới sự trưởng thành thiêng liêng và tự do nội tâm, người ấy cần phải được cảm hứng bởi một quan niệm tích cực về con người và mở ra giá trị hướng tới sự siêu việt.
Theo quan điểm triết học, con người không được nhìn như là một vấn đề (problème), nhưng là một huyền nhiệm (mystère) (x. Grabriel Marcel).
Theo quan điểm Kinh Thánh, con người là hình ảnh Thiên Chúa (St 1,26). Bởi thế, người ta không được phép giảm thiểu con người chỉ là vấn đề. Con người cưu mang trong mình nguồn lực phong phú vô tận mà Thiên Chúa phú bẩm và những khát vọng vô biên, hướng tới sự tự siêu việt bản thân, tới giá trị cao cả.
Nhưng nơi con người cũng mang dấu ấn của những giới hạn và những nét mỏng giòn: bất toàn, yếu đuối, sợ hãi, tội lỗi v.v… Đây là thực tại nghịch lý hiện hữu trong chính con người. Mỗi ứng sinh là một “mầu nhiệm” đối với chính mình (Ratio 28).
Để thực hiện tốt việc đồng hành, nhà đào tạo và cả người thụ huấn cần có những phẩm chất và thái độ thiết yếu cho công việc này.
1. Đòi hỏi từ phía nhà đồng hành
Về phẩm chất, Bộ Giáo Sỹ đòi hỏi: “Các nhà đào tạo được mời gọi giữ kín về những gì liên quan đến cuộc đời chủng sinh. Nếu muốn đồng hành một cách đúng đắn, quân bình, với thái độ kính trọng sự tự do và lương tâm của người khác, cũng như giúp cho sự phát triển nhân bản và thiêng liêng của họ, thì mỗi nhà đào tạo phải có những điều kiện thích hợp và những khả năng về nhân bản, thiêng liêng, mục vụ và chuyên môn xứng đáng… Ngoài ra, bất cứ ai được trao cho trọng trách đào tạo cũng phải được chuẩn bị một cách chuyên biệt và phải có lòng tận tụy quảng đại. Nhà đào tạo phải hiện diện toàn thời gian, và trước hết, họ phải là chứng nhân qua lòng yêu mến và phục vụ dân Chúa, bằng cách xả thân hết mình cho Giáo Hội mà không tính toán” (số 49).[9]
2. Đòi hỏi từ phía người được đồng hành
Sau đây là những thái độ cần thiết mà người thụ huấn cần có:
* Tin tưởng: Bộ Giáo Sỹ nói rằng: “Sự tin tưởng lẫn nhau là một nhân tố thiết yếu trong tiến trình đồng hành. Trên bình diện giáo dục, cần xác định rõ những phương thức cụ thể nhằm nuôi dưỡng và nâng đỡ một sự tin tưởng như thế. Trước hết, cần phải tạo điều kiện để có được một bầu khi thanh thản thuận lợi cho sự tín nhiệm hoàn toàn và tin tưởng nhau.”[10] Hễ ai tin cậy Chúa Thánh Thần thì cũng tin cậy những trung gian của Người. Hễ ai biết phó mình trong tay Chúa Thánh Thần thì không lo sợ khi chia sẻ lịch sử đời mình với người đồng hành trong sự cởi mở, tin tưởng và phó thác.
* Cởi mở: Điều kiện để đồng hành và biến đổi là thái độ cởi mở. Ứng sinh sẵn sàng bộc lộ thế giới nội tâm của mình, những trở ngại và tổn thương, hy vọng và lo âu, thói quen và tật xấu, sở trường và sở đoản, cả sự bất nhất nền tảng vô thức và có ý thức v.v… với các nhà đào tạo, nhất là cha Linh hướng. Không có cởi mở không có đào tạo. Vì thế, việc đồng hành chỉ làm cho qua chuyện, là tán gẫu!
* Thái độ ngoan ngùy (Docibilitas): Đây là thái độ sẵn sàng của một người luôn “biết học để lớn lên.” Học từ mọi người, mọi hoàn cảnh, kể cả từ những sai lầm của mình và của người khác để trưởng thành. Người luôn ở trong tình trạng huấn luyện.
Ngoan ngùy cũng có nghĩa là trở nên dễ bảo, dễ uốn nắn, thay vì cứng cỏi, cứng đầu, cứng lòng.
Về điều này, Bộ Giáo Sỹ quả quyết: “Vì nhắm đến sự ngoan ngùy đối với Chúa Thánh Thần, nên việc đồng hành riêng với từng người là một phương thế đào tạo thiết yếu.”[11]
IV. Phương pháp đồng hành
Đồng hành với một người là một nghệ thuật của các nghệ thuật. Người thi hành sứ vụ này cần phải có sự hiểu biết, phương pháp và chiến lực đồng hành phù hợp thì mới hy vọng việc đồng hành đó có kết quả tốt.
Có nhiều phương pháp để áp dụng trong đồng hành ơn gọi, ở đây, chúng ta chỉ giới thiệu phương pháp của “trọng tâm nhân vị” của Carl Rogers. Ông cung cấp cho chúng ta một phương pháp mới để thực hiện sứ mạng này trong hành trình hướng tới sự trưởng thành nội tâm của người thụ huấn.
1. Carl Rogers và liệu pháp “trọng tâm nhân vị” (client-centered psychotherapy)
Carl Rogers (1902-1987) đưa ra một lối tiếp cận và phương pháp giúp làm sáng tỏ tầm quan trọng của những nguồn năng lực và những khả thể tiềm ẩn trong mỗi cá thể.
Carl Rogers phát triển lối tiếp cận tư vấn tâm lý “tập trung trên bệnh nhân hay trên nhân vị,” dựa trên một quan niệm tích cực (positive) về con người, khởi đi từ giả thiết rằng mỗi người có những giá trị nội lực vô tận, khả năng tự xác định, khả năng tự giải quyết và tự siêu việt chính mình. Theo lối nhìn này, Rogers cho rằng chính những “bệnh nhân” hay người được đồng hành là nhân vật chính trong việc khám phá khả năng tái lập sự quân bình cho mình cách tốt hơn; chính họ là người tự thân tìm ra giải đáp cho chính mình dựa trên “sức mạnh nền tảng” (forza di base); chính họ có khả năng để hiểu và tái cấu trúc, tái tổ chức bản thân từ những nguồn lực và sức mạnh nội tại nơi mình.
Theo phương pháp này, người tư vấn hay nhà đồng hành chỉ đóng vai trò là người “hộ sinh,” nói theo ngôn ngữ của triết gia Socrates. Nghĩa là chỉ đóng vai trò đi bên cạnh, trợ giúp và khơi thông những nguồn lực đó nơi bệnh nhân hay người được đồng hành để họ phát huy tối đa tố chất và năng lực của mình cho một sự phát triển toàn diện, cũng như để chính họ tìm ra giải pháp cho những khó khăn trong hành trình của mình. Nhiệm vụ của người hướng dẫn đơn giản chỉ là như thế, nghĩa là đi bên cạnh và giúp đỡ chứ không áp đặt cách một chiều mọi giải pháp cho người được đồng hành.
Đây là một phương pháp được gọi là “giúp những người khác biết tự giúp mình”. Hình thức giúp đỡ này đặt vai trò của người được đồng hành như là nhân vật chính trong hành trình của mình hướng tới sự trưởng thành. Chính vì lý do này mà ngày nay, người ta thường thích dùng hạn từ “đồng hành” (accompagnamento) để diễn tả công việc này hơn là hạn từ “hướng dẫn” (direzione).
2. Phát triển lối đồng hành “trọng tâm nhân vị”
Phát triển việc đồng hành “tập trung trên người thụ huấn” dựa trên bốn nguyên tắc nền tảng sau đây: tính phù hợp; đón nhận vô điều kiện, thấu cảm và không chỉ thị.
Những khía cạnh nền tảng này giúp thiết lập một tương quan lành mạnh giữa người đồng hành và người được đồng hành. Chúng kiến tạo một bầu khí dễ dàng cho việc đối thoại, phù hợp với sự tiến bộ của con người trong tương quan liên vị, linh hướng và huấn luyện.
Giờ đây chúng ta cần tìm hiểu từng phương diện:
2.1. Tính phù hợp (Congruence)
Trước hết, nhà đồng hành phải là một người chân thật, chân thành và trong sáng, không có gì giả tạo cũng như không che giấu cảm xúc và suy nghĩ của mình đằng sau chiếc mặt nạ chuyên môn hay giả hình. Nhà huấn luyện phải là người chân thực. Nếu nhà đồng hành là người chân thực, ngài sẽ có khả năng để thiết lập một tương quan trong sáng với chính mình, với người khác và cả với Thiên Chúa. Họ phải là người trong sáng trong tư duy, lời nói và cung cách nết ở của mình trước người thụ huấn. Để việc đồng hành có hiệu quả, họ phải biết xây dựng tương quan trong sáng với người thụ huấn.
Nhà đồng hành là người chân thành, nghĩa là phải có sự đón tiếp cách hồn nhiên và cởi mở, được gợi hứng từ sự kính trọng chân thành đối với người thụ huấn và tin tưởng, xác tín về những nguồn lực hiện diện trong mỗi con người. Sự chân thành phát xuất sự an nhiên tự tại sẽ trở thành nền tảng để xây dựng tương quan tốt trong tương lai.
2.2. Đón nhận vô điều kiện (Unconditional positive regard)
Nhà đồng hành không được đặt ra những điều kiện để đón nhận người khác, mỗi người được đánh giá và nhìn nhận vô điều kiện mà không rơi vào việc đánh giá có tính chọn lọc, thiên kiến hay thành kiến, nhưng xét như một nhân vị và huyền nhiệm, mỗi người được nhìn theo mức độ là một chủ thể phân biệt, đặc biệt và duy nhất, với những năng lực, tình cảm, tính cách, hoàn cảnh và kinh nghiệm riêng của họ. Đón nhận người khác vô điều kiện là đón nhận họ như họ là, với một thứ tình cảm tự nhiên, một lối tiếp cận tích cực, mà không được ưu tiên hay phân biệt, không có sự đánh giá chủ quan. Nó loại bỏ mọi hình thức của việc xét đoán hay suy đoán chủ quan về người khác theo hệ quy chiếu của mình.
Bởi thế, sự đón nhận vô điều kiện hệ tại trong những yếu tố sau:
Về sự kiện, tình trạng và giá trị của từng người phải được đón nhận như họ là (così come è). Đây là thái độ của Chúa Giêsu trong dụ ngôn “lúa và cỏ lùng” (Mt 13,24-30). Đó là thực tại tốt và xấu, nhân đức và tội lỗi đồng hiện hữu trong cuộc sống, nơi từng người mà chúng ta phải chấp nhận.
Không xét đoán và vội vàng đánh giá như Chúa Giêsu đã dạy và đã sống: “Đừng xét đoán, để không bị xét đoán” (Mt 7,1). Chẳng hạn đối với các tội nhân, Chúa Giêsu không kết án và lên án họ. Nếu ta kết án ai vì một lỗi lầm, điều đó có nghĩa là hiển nhiên ta việc hạ giá người đó với lỗi lầm của họ; sự la mắng vì sự yếu đuối được cảm nhận như sự từ chối con người yếu đuối và bất nhất. Vì thế, cần phải biết phân biệt giữa tội nhân và tội lỗi. Tội lỗi cần phải từ chối nhưng tội nhân thì cần đón nhận.
Tương quan “đích thực” của nhà đồng hành với người được đồng hành phải được xây dựng dựa trên nhu cầu căn bản là muốn được nhìn nhận như một nhân vị (persona).
2.3. Sự thấu cảm (Accurate empathy)
Marian Kinget định nghĩa sự thấu hiểu như sau: “Thấu hiểu là khả năng đặt mình ở vị trí của người khác, để thấy thế giới của họ như họ thấy.”[12] Theo Carl Rogers, đây là định nghĩa đầy đủ nhất về sự thấu hiểu: “Là sự cảm nhận thế giới cá vị của người khác như nó là của chúng ta mà không bao giờ đánh mất chất lượng của chúng như chúng là… cảm nhận sự sợ hãi, nóng giận, sự lo lắng của bệnh nhân như chúng là của chúng ta, tuy nhiên, chúng ta không thêm vào đó cơn giận của chúng ta, sự sợ hãi và cả sự lo lắng của chúng ta.”[13]
Như thế, thấu cảm là hành vi ra khỏi mình và đặt mình trong “tà áo của người khác” để nhìn và cảm nhận như họ. Thấu cảm cũng là hành vi tự siêu việt bản thân. Vì thế, sự thấu cảm quan trọng hơn cả kiến thức lý thuyết và kinh nghiệm riêng của bản thân.[14]
2.4. Không chỉ thị (non directive)
Như đã nói, đây là phương pháp “trọng tâm nhân vị,” chứ không tập trung trên nhà đồng hành, trên sự hiểu biết hay trên vấn đề mà chúng ta muốn giải quyết.
Rogers gọi liệu pháp của mình là “liệu pháp không chỉ thị” (non-directive therapy). Ông khám phá ra rằng nếu có hai điều kiện sau đây thì trình trạng của thân chủ thường sẽ được cải thiện: một là, khi nhà tư vấn có thể biểu hiện sự quan tâm tích cực đối với thân chủ, không phán xét thân chủ và biết đón nhận thân chủ như một con người mà không hề đặt một điều kiện tiên thiên nào cho sự đón nhận đó; hai là, khi nhà tư vấn có thể cho thấy mình thấu cảm đối với thân chủ.
Ông nhấn mạnh vào tính chất đặc trưng của nhà trị liệu là không hướng dẫn bệnh nhân của mình. Mục đích trị liệu là tạo ra một bầu không khí cởi mở và không can thiệp. Đây là phương pháp diễn tả một ý nghĩa kép: trước hết là phương pháp hướng chủ thể tới một mục đích mà người hướng dẫn muốn; thứ đến là phương pháp để chứng thực một cách cụ thể sự tin tưởng của nhà đồng hành vào người được đồng hành có những nguồn năng lực nội tại và về khả năng hướng tiến tới sự thực hiện bản thân.
Chúng ta dẫn chứng ở đây một minh họa về phương pháp này: Người ta kể rằng có một người phụ nữ rất buồn khổ, bà đến gõ cửa rất nhiều cha linh hướng và các nhà tâm lý trị liệu để được giải thoát khỏi tình trạng đau khổ này. Bà được chữa lành một cách nhanh chóng chỉ nhờ cuộc gặp gỡ với cha Maurice Zundel, một nhà thần học, một tác giả tu đức nổi tiếng người Thụy Sĩ, cũng là bạn thân Đức Giáo Hoàng Phaolô VI. Khi người ta hỏi bà rằng, cha Zundel đã khuyên bà lời khuyên nào mà làm cho bà được chữa lành nhanh như thế, bà trả lời: “Cha không nói một lời nào cả, ngài chỉ đơn giản lắng nghe tôi, ngài nhìn tôi khóc. Và sau đó, ngài đã khóc với tôi. Chúng tôi đã khóc với nhau một hồi lâu.” Sự thấu cảm sâu xa với nỗi đau của người khác nhiều lúc không chỉ an ủi họ mà còn chữa lành những tổn thương bên trong những dòng nước mắt. Sự thấu cảm càng hiệu quả hơn trong tương quan đồng hành. Nó trở thành hình ảnh của sự đón tiếp đầy nhân ái mà Chúa Cha trên trời đã dành cho mỗi tội nhân. Đó là dấu chỉ hữu hiệu về lòng thương xót, hay là bí tích của sự chữa lành mà Thiên Chúa dành cho tội nhân.
Trong những phương pháp chỉ thị (directive), sự hướng dẫn đóng một vai trò trực tiếp khuyên bảo, chỉ dạy, hướng dẫn làm theo ý của mình; ngược lại, trong phương pháp không chỉ thị, người đồng hành tự giới hạn để hoạt động một cách gián tiếp mà không đưa ra chỉ thị trực tiếp, không áp đặt theo ý riêng, nhưng gợi ý và giúp người được đồng hành trở về với chính nguồn lực của mình.
Phương pháp không chỉ thị là một hình thức can thiệp trong đó người hướng dẫn tập trung nơi sự phát triển của con người, khi giúp họ tự ý thức về chính thế giới cảm xúc của mình, để suy tư về những phương diện khác nhau của tình trạng được bày tỏ, và đánh giá ý nghĩa nhân bản, luân lý của chính thái độ của mình, và đi đến quyết định khi dám chịu trách nhiệm về những quyết định đó.
Kết luận
Đồng hành ơn gọi là một nghệ thuật của các nghệ thuật. Để việc đồng hành này có kết quả, cần hội đủ nhiều yếu tố:
1) Yếu tố ân sủng của Thiên Chúa và tác động của Chúa Thánh Thần.
2) Yếu tố đáp trả của ứng sinh là thiết yếu và cần thiết.
3) Yếu tố Giáo Hội học, đó là vai trò của các nhà đào tạo và cộng đoàn huấn luyện.
Nhờ hội đủ những yếu tố trên, công cuộc huấn luyện linh mục mới hứa hẹn những kết quả tốt đẹp như Chúa và Giáo Hội mong muốn.
Lm. Phêrô Nguyễn Văn Hương
Tài liệu tham khảo
- Manenti, Comprendere e accompagnare la persona umana, EDB, 2016, 205.
- Sinodo dei Vescovi XV, Documento finale, Giovanni, Fede e Discernemento vocazionale, Vaticano 2018.
- Bộ Giáo Sỹ, Đào Tạo Linh Mục. Hồng Ân và Ơn Gọi Linh Mục, Tôn Giáo, Tp. HCM, 2016.
- Cencini, I sentimenti del Figlio. Il cammino formativo della vita consacrata, Bologna 1998.
- Di Fabio, Counseling. Dalla teoria all’applicazione, Giunti, Firenze 1999.
- Rogers C. R., Client-centered therapy: its current practice, implications, and theory, Houghton Mifflin, Boston 1951.
- Giordani –A. Mercatali, La direzione spirituale come incontro di aiuto, Antonianum, Roma 1984.
[1] Cf. A. Cencini, I sentimenti del Figlio. Il camino formativo della vita consacrata, Bologna 1998, 48-49.
[2] A. Manenti, Comprendere e accompagnare la persona umana, EDB, 2016, 205.
[3] Bộ Giáo Sỹ, Đào Tạo Linh Mục. Hồng Ân và Ơn Gọi Linh Mục, Nxb. Tôn Giáo, Tp. HCM, 2016, số 44.
[4] Ibidem, số 45-46.
[5] Ibidem, số 48.
[6] Ibidem, số 50.52.
[7] Trong ĐGH. Phanxicô, Tông Huấn Chúa Kitô đang sống, Nxb. Tôn Giáo, Tp. HCM 2019, số 291-297.
[8] Cf. Sinodo dei Vescovi XV, Documento finale, Giovanni, Fede e Discernemento vocazionale, Vaticano 2018, n. 4.
[10] Bộ Giáo Sỹ, Đào Tạo Linh Mục, số 45.
[11] Bộ Giáo Sỹ, Đào Tạo Linh Mục, số 45.
[12] C. R. Rogers, – Marian Kinget, Psychothérapie et relations humaines: théorie et pratique de la thérapie non-directive, Publications Universitaires, Louvain 1962-1965, p. 92.
[13] Cf. A. Di Fabio, Counseling. Dalla teoria all’applicazione, Giunti, Firenze 1999, pp. 130-131.
[14] Cf. Ibidem.
Chuyên đề khai giảng năm học 2020-2021
Đại Chủng viện Thánh Phanxicô Xaviê
