2021
7.4 THỨ TƯ TUẦN BÁT NHẬT PHỤC SINH
– Thứ Tư đầu tháng. Kính Thánh Cả Giu-se.
– Thánh Phê-rô Nguyễn Văn Lựu, Linh mục (1861), Tử đạo.
– Không cử hành lễ thánh Gio-an Bao-ti-xi-ta La San (Jean Baptist de la Salle), Linh mục. Và không cử hành lễ nào khác, trừ lễ an táng.
– Các bài đọc Lời Chúa: Cv 3,1-10; Lc 24,13-35.
SỰ HIỆN DIỆN CỦA CHÚA TRONG THÁNH THỂ VÀ LỜI CHÚA
Với Tin Mừng hôm nay, ta suy nghĩ đến sự khủng hoảng của hai môn đệ về làng Emmau, họ mất niềm tin, sống hoang mang lo lắng về ngày mai, nhưng các ông đã được giải thoát, chỉ có phương cách đó là hữu hiệu. Chúng ta hãy lao mình vào phương cách linh hiệu ấy.
Sau thảm kịch thập giá của Đức Kitô, các môn đệ buồn sầu thất vọng và khủng hoảng. Niềm hi vọng về một cuộc giải phóng Israel chưa được thực hiện như họ nghĩ và họ muốn, mà Thầy đã chết. Họ không còn chút hi vọng nào, vì đã ba ngày mà Thiên Chúa không can thiệp để cứu giúp Ngài, vì họ xem Ngài là một ngôn sứ. Họ trở về quê Emmau với công việc trước đây của mình, để xây dựng cuộc sống tương lai.
Đang khi họ buồn sầu bàn luận với nhau về cuộc tử nạn của Đức Giêsu, thì Ngài đến cùng đồng hành với họ, nhưng họ không nhận ra Chúa Giêsu. Ngài bắt chuyện và hỏi họ: “Các anh vừa đi vừa trao đổi với nhau chuyện gì vậy?”. Một người trong họ đáp: “Chắc ông là người duy nhất ngụ tại Giêrusalem mà không hay biết những chuyện xảy đã ra trong thành mấy bữa nay”. Chúa Giêsu hỏi “chuyện gì vậy?”.
Họ trình bày về ông Giêsu là một ngôn sứ người Nazareth, đầy uy thế trong việc làm và lời nói trước mặt Thiên Chúa và toàn dân, thế mà các thượng tế và thủ lãnh Israel đã nộp Người, để Người bị án tử hình và đóng đinh vào thập giá. Có mấy phụ nữ ra mồ không thấy xác Ngài và họ nói có Thiên Thần hiện ra bảo họ “ Ngài vẫn sống” một vài anh trong chúng tôi cũng ra mộ và thấy mọi sự như các phụ nữ đã nói, nhưng họ không thấy Ngài. Chúa Giêsu nhắc lại lời Người đã loan báo trước đây về số phận Đấng Cứu Thế “Con Người sẽ phải chịu đau khổ nhiều, sẽ bị các trưởng lão và các văn sĩ chê chối, sẽ bị giết, nhưng ngày thứ ba sẽ sống lại” ( Lc 9, 22; Lc 17, 25 ).
Ngài nhắc đến ông Maisen và lời các tiên tri làm thành những phần chính yếu trong kinh thánh thường được đọc ở Hội đường, đặc biệt là ( Is 53 ) nói về người tôi tớ đau khổ để làm chứng cuộc tử nạn và phục sinh của Đức Giêsu Kitô. Ngài dần dần soi lòng mở trí cho hai ông, để hai ông ngộ được các biến cố, giúp hai ông khám phá Mầu Nhiệm Vượt Qua. Ánh sáng dần dần tỏ rạng trong tâm trí của hai ông và một ngọn lửa nội tâm sưởi ấm tâm hồn hai ông , như họ đã xác nhận “lòng họ rạo rực lên”. Đức Giêsu đã thắp sáng lại niềm tin của họ.
Tiếp đến, họ mời Chúa Giêsu ở lại với họ khi Ngài giả vờ Ngài còn đi xa hơn nữa. Đây là cử chỉ có tính cách đề nghị và mời gọi hai môn đệ đón nhận Ngài. Chúa Giêsu đáp lại lời mời gọi của họ bằng việc bẻ bánh ra và mạc khải con người của Ngài “Ngài cầm lấy bánh dâng lời tạ ơn, bẻ ra, trao cho các môn đệ” Chúa Giêsu diễn lại bữa tiệc ly, thiếp lập bàn tiệc Thánh Thể. Đoạn Ngài biến mất và họ đã nhận ra Ngài, ngay lúc đó họ được biến đổi từ thất vọng đến hi vọng, họ chỗi dậy trở về Giêrusalem với anh em để báo tin cho họ: Chúa Giêsu đã sống lại thật rồi, và các tông đồ cùng thuật chuyện Chúa đã hiện ra với Phêrô, vị thủ lãnh các tông đồ.
Qua Tin Mừng hôm nay, Giáo Hội nhắc nhở chúng ta về sự hiện diện của Chúa trong Thánh Kinh và Thánh Thể. Ngài hiện diện cách vô hình chúng ta chỉ nhận ra Ngài bằng đức tin. Chúa Giêsu luôn hiện diện với chúng ta trong cuộc lữ hành về quê trời, chúng ta phải biết lắng nghe lời Chúa, học hỏi, suy niệm Kinh Thánh, để lòng chúng ta được sưởi ấm, mắt đức tin chúng ta mở ra để nhận ra Chúa Giêsu trong Thánh Thể, và thể hiện niềm tin bằng việc đi đến với anh chị em của mình. Chúng ta cần tin tưởng vào Chúa, cả lúc chúng ta thất vọng chán nản.
Và mỗi người chúng ta cũng có thể nhận ra sự hiện diện của Chúa để đón nhận giáo huấn của Ngài qua các dấu chỉ nơi những người cùng đồng hành với chúng ta trong cuộc sống. Chúng ta siêng năng học hỏi, đọc và suy niệm lời Chúa, để củng cố đức tin và sưởi ấm tâm hồn chúng ta thêm sốt sắng đạo đức, thêm lòng khao khát gặp gỡ Chúa trong các việc đạo đức, và chúng ta trở nên những tông đồ loan báo tin mừng phục sinh cho người khác.
Cảm nghiệm về Ðấng Phục Sinh của hai người môn đệ đang trên đường đi về làng Emmaus cũng có thể diễn ra trong cuộc sống hàng ngày của mỗi người tín hữu Kitô. Ðấng Phục Sinh luôn là người đồng hành với chúng ta. Trên mọi nẻo đường của cuộc sống chúng ta, Ngài luôn đi bên cạnh kể chuyện, hỏi han, tra vấn và tham dự vào mọi sinh hoạt của chúng ta. Cuộc sống của mỗi ngày chính là nơi Ngài đến để gặp gỡ con người.
Cuộc sống mỗi ngày mới là nơi hẹn hò của Ðấng Phục Sinh với con người, là bởi vì cuộc sống ấy không bao giờ có thể làm cho con người thỏa mãn. Bên kia niềm vui và nỗi khổ, bên kia thành công và thất bại, con người vẫn nhận ra sự vong thân và thân phận nghèo hèn của mình. Nỗi khao khát về tuyệt đối con người không thể thỏa mãn được trong cuộc sống này, hoặc nếu có tìm cách xoa dịu thì lại tuyệt đối hóa những giá trị chóng qua của cuộc sống, để rồi cuối cùng vẫn thấy mình bị vong thân và bất lực. Bất lực trước cảnh khốn cùng, bất lực trước chiến tranh nghèo khổ, bệnh tật, bất lực trước hận thù, ích kỷ và nhất là bất lực trước cái chết. Sống trong thân phận ấy, con người không khỏi nêu lên câu hỏi: “Ðâu là ý nghĩa của tất cả những điều đó? Ðâu là ý nghĩa của thân phận con người?”
Và đây chính là kinh nghiệm mà người bạn đồng hành, Chúa Giêsu Phục Sinh, đã chia sẻ cho hai người môn đệ trên đường Emmaus. Tâm hồn họ nóng bừng lên khi Ngài chia sẻ kinh nghiệm của Ngài, và nhất là khi Ngài nói lên ý nghĩa về cái chết của Ngài qua cử chỉ bẻ bánh và trao ban. Mắt của hai người môn đệ đã mở ra để nhận biết Ngài, hiểu được các biến cố vừa xảy ra, và dĩ nhiên thấy được ý nghĩa của chính cuộc sống của họ.
Chính lúc ấy, Chúa Kitô Phục Sinh xuất hiện, Ngài đến không phải để mang lại câu giải đáp, mà trước hết, như một con người giữa chúng ta, một con người cũng từng nêu lên những câu hỏi ấy, và cũng đã từng nổi loạn trước những nghiệt ngã của thân phận con người. Ngài đã từng mơ ước về một nhân loại tốt đẹp hơn. Ngài đã nói tất cả và đã làm hết sức có thể để xây dựng nhân loại ấy. Và cuối cùng, với cái chết đau thương trên thập giá, xem ra Ngài cũng đành bó tay bỏ cuộc. Nhưng chính lúc ấy, vì đã vâng phục Chúa Cha một cách tuyệt đối để sống tận kiếp người và sống trọn vẹn cho con người, Ngài đã mang lại ý nghĩa cho cuộc sống.
2021
Thứ Tư Trong Tuần Bát Nhật Phục Sinh
Thứ Tư Trong Tuần Bát Nhật Phục Sinh
Ðọc kinh Vinh Danh
Ca nhập lễ
Mt 25,34
Chúa nói : “Hỡi những kẻ Cha Ta chúc phúc, hãy đến mà thừa hưởng vương quốc dành sẵn cho các ngươi, ngay từ thuở tạo thành trời đất.” Ha-lê-lui-a.
Lời nguyện nhập lễ
Lạy Chúa là Cha từ ái, hằng năm Chúa ban cho chúng con được vui mừng sống mầu nhiệm Phục Sinh của Chúa Giê-su; xin cho những ngày đại lễ chóng qua này giúp chúng con được hưởng niềm hoan lạc vĩnh cửu ngay khi còn ở dưới thế. Chúng con cầu xin …
Bài đọc
Cv 3,1-10
Cái tôi có, tôi cho anh đây : Nhân danh Đức Giê-su, anh hãy đứng dậy mà đi.
Bài trích sách Công vụ Tông Đồ.
1 Một hôm, ông Phê-rô và ông Gio-an lên Đền Thờ, vào buổi cầu nguyện giờ thứ chín. 2 Khi ấy, người ta khiêng đến một người què từ khi lọt lòng mẹ. Ngày ngày họ đặt anh ta bên cửa Đền Thờ gọi là Cửa Đẹp, để xin kẻ ra vào Đền Thờ bố thí. 3 Vừa thấy ông Phê-rô và ông Gio-an sắp vào Đền Thờ, anh liền xin bố thí. 4 Hai ông nhìn thẳng vào anh, và ông Phê-rô nói : “Anh nhìn chúng tôi đây !” 5 Anh ta chăm chú nhìn hai ông, tưởng rằng sẽ được cái gì. 6 Bấy giờ ông Phê-rô nói : “Vàng bạc thì tôi không có ; nhưng cái tôi có, tôi cho anh đây : nhân danh Đức Giê-su Ki-tô người Na-da-rét, anh đứng dậy mà đi !” 7 Rồi ông nắm chặt lấy tay mặt anh, kéo anh trỗi dậy. Lập tức bàn chân và xương mắt cá của anh trở nên cứng cáp. 8 Anh đứng phắt dậy, đi lại được ; rồi cùng với hai ông, anh vào Đền Thờ, vừa đi vừa nhảy nhót và ca tụng Thiên Chúa. 9 Toàn dân thấy anh đi lại và ca tụng Thiên Chúa. 10 Và khi nhận ra anh chính là người vẫn ngồi ăn xin tại Cửa Đẹp Đền Thờ, họ kinh ngạc sững sờ về sự việc mới xảy đến cho anh.
Đáp ca
Tv 104,1-2.3-4.6-7.8-9 (Đ. c.3b)
Đ.Tâm hồn những ai tìm kiếm Chúa, nào hoan hỷ.
1Hãy tạ ơn Chúa, cầu khẩn danh Người,
vĩ nghiệp của Người, loan báo giữa muôn dân.
2Hát lên đi, đàn ca mừng Chúa,
và suy gẫm mọi kỳ công của Người.
Đ.Tâm hồn những ai tìm kiếm Chúa, nào hoan hỷ.
3Hãy tự hào vì danh thánh Chúa,
tâm hồn những ai tìm kiếm Chúa, nào hoan hỷ.
4Hãy tìm Chúa và sức mạnh của Người,
chẳng khi ngừng tìm kiếm Thánh Nhan.
Đ.Tâm hồn những ai tìm kiếm Chúa, nào hoan hỷ.
6Hỡi anh em, dòng dõi Áp-ra-ham tôi tớ Chúa,
con cháu Gia-cóp được Người tuyển chọn !
7Chính Đức Chúa là Thiên Chúa chúng ta,
những điều Người quyết định
là luật chung cho cả địa cầu.
Đ.Tâm hồn những ai tìm kiếm Chúa, nào hoan hỷ.
8Giao ước lập ra, muôn đời Người nhớ mãi,
nhớ lời đã cam kết đến ngàn thế hệ !
9Đó là điều đã giao ước cùng Áp-ra-ham,
đã đoan thệ cùng I-xa-ác.
Đ.Tâm hồn những ai tìm kiếm Chúa, nào hoan hỷ.
Tung hô Tin Mừng
Tv 117,24
Ha-lê-lui-a. Ha-lê-lui-a.
Đây là ngày Chúa đã làm ra,
nào ta hãy vui mừng hoan hỷ. Ha-lê-lui-a.
Tin Mừng
Lc 24,13-35
Họ đã nhận ra Chúa khi Người bẻ bánh.
✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Lu-ca.
13 Vào ngày thứ nhất trong tuần, có hai người trong nhóm môn đệ đi đến một làng kia tên là Em-mau, cách Giê-ru-sa-lem chừng mười một cây số. 14 Họ trò chuyện với nhau về tất cả những sự việc mới xảy ra. 15 Đang lúc họ trò chuyện và bàn tán, thì chính Đức Giê-su tiến đến gần và cùng đi với họ. 16 Nhưng mắt họ còn bị ngăn cản, không nhận ra Người. 17 Người hỏi họ : “Các anh vừa đi vừa trao đổi với nhau về chuyện gì vậy ?” Họ dừng lại, vẻ mặt buồn rầu.
18 Một trong hai người tên là Cơ-lê-ô-pát trả lời : “Chắc ông là người duy nhất trú ngụ tại Giê-ru-sa-lem mà không hay biết những chuyện đã xảy ra trong thành mấy bữa nay.” 19 Đức Giê-su hỏi : “Chuyện gì vậy ?” Họ thưa : “Chuyện ông Giê-su Na-da-rét. Người là một ngôn sứ đầy uy thế trong việc làm cũng như lời nói trước mặt Thiên Chúa và toàn dân. 20 Thế mà các thượng tế và thủ lãnh của chúng ta đã nộp Người để Người bị án tử hình, và đã đóng đinh Người vào thập giá. 21 Phần chúng tôi, trước đây vẫn hy vọng rằng chính Người là Đấng sẽ cứu chuộc Ít-ra-en. Hơn nữa, những việc ấy xảy ra đến nay là ngày thứ ba rồi. 22 Thật ra, cũng có mấy người đàn bà trong nhóm chúng tôi đã làm chúng tôi kinh ngạc. Các bà ấy ra mộ hồi sáng sớm, 23 không thấy xác Người đâu cả, về còn nói là đã thấy thiên thần hiện ra bảo rằng Người vẫn sống. 24 Vài người trong nhóm chúng tôi đã ra mộ, và thấy sự việc y như các bà ấy nói ; còn chính Người thì họ không thấy.”
25 Bấy giờ Đức Giê-su nói với hai ông rằng : “Các anh chẳng hiểu gì cả ! Lòng trí các anh thật là chậm tin vào lời các ngôn sứ ! 26 Nào Đấng Ki-tô lại chẳng phải chịu khổ hình như thế, rồi mới vào trong vinh quang của Người sao ? 27 Rồi bắt đầu từ ông Mô-sê và tất cả các ngôn sứ, Người giải thích cho hai ông những gì liên quan đến Người trong tất cả Sách Thánh.
28 Khi gần tới làng họ muốn đến, Đức Giê-su làm như còn phải đi xa hơn nữa. 29 Họ nài ép Người rằng : “Mời ông ở lại với chúng tôi, vì trời đã xế chiều, và ngày sắp tàn.” Bấy giờ Người mới vào và ở lại với họ. 30 Khi đồng bàn với họ, Người cầm lấy bánh, dâng lời chúc tụng, và bẻ ra trao cho họ. 31 Mắt họ liền mở ra và họ nhận ra Người, nhưng Người lại biến mất. 32 Họ mới bảo nhau : “Dọc đường, khi Người nói chuyện và giải thích Kinh Thánh cho chúng ta, lòng chúng ta đã chẳng bừng cháy lên sao ?”
33 Ngay lúc ấy, họ đứng dậy, quay trở lại Giê-ru-sa-lem, gặp Nhóm Mười Một và các bạn hữu đang tụ họp tại đó. 34 Những người này bảo hai ông : “Chúa trỗi dậy thật rồi, và đã hiện ra với ông Si-môn.” 35 Còn hai ông thì thuật lại những gì đã xảy ra dọc đường và việc mình đã nhận ra Chúa thế nào khi Người bẻ bánh.
Lời nguyện tiến lễ
Lạy Chúa, đây là hy lễ làm giá chuộc muôn người; cúi xin Chúa vui lòng chấp nhận và thực hiện ơn cứu độ cho hồn xác chúng con. Chúng con cầu xin …
Lời tiền tụng Phục Sinh
Lạy Chúa chúng con tuyên xưng Chúa mọi lúc, nhất là trong mùa cực thánh này chúng con càng hãnh diện tung hô Chúa khi Ðức Ki-tô đã được hiến tế làm Chiên Vượt Qua của chúng con, thật là chính đáng, phải đạo và đem lại ơn cứu độ cho chúng con.
Vì chính Người là Chiên thật đã xoá bỏ tội trần gian, Người đã chết để hủy diệt sự chết nơi chúng con, và sống lại để phục hồi sự sống cho chúng con.
Vì thế, với niềm hân hoan chứa chan trong lễ Phục Sinh, toàn thể nhân loại trên khắp địa cầu đều nhảy mừng. Cũng vậy, các Dũng thần và các Quyền thần không ngừng hát bài ca chúc tụng vinh quang Chúa rằng:
Thánh! Thánh! Thánh! …
Ca hiệp lễ
Lc 24,35
Các môn đệ đã nhận ra Chúa Giê-su,
khi Người bẻ bánh. Ha-lê-lui-a.
Lời nguyện hiệp lễ
Lạy Chúa, Chúa đã cho chúng con tham dự vào mầu nhiệm Vượt Qua của Ðức Kitô; xin thanh tẩy chúng con sạch mọi vết nhơ con người cũ, và biến đổi chúng con thành tạo vật mới. Chúng con cầu xin …
2021
Sự Phục Sinh của Đức Giêsu, Đấng Chịu Chết và Chịu Đóng Đinh
Sự Phục Sinh của Đức Giêsu, Đấng Chịu Chết và Chịu Đóng Đinh
Ảnh: Đức Kitô Phục Sinh, của Hendrik de Klerck (1560/1570–1630)
SỰ PHỤC SINH CỦA ĐỨC GIÊSU, ĐẤNG CHỊU CHẾT VÀ CHỊU ĐÓNG ĐINH
WGPQN (04.04.2021) – Sau cú sốc đóng đinh, các môn đệ của Đức Giêsu lại phải kinh nghiệm thêm một điều còn hoang mang hơn: sự phục sinh. Sự biến đổi của hữu thể là một thực tại siêu vượt, khó tả bằng lời và đôi khi bị những người tin hiểu nhầm, dù đây là nền tảng của đức tin Kitô giáo. Để làm sáng tỏ vấn đề này, Christiane Cloutier Dupuis vạch lại những dấu vết của niềm tin này trong Cựu Ước, lưu ý đến ý nghĩa của nó đối với người Do Thái thời Đức Giêsu và kết luận với một suy tư về ý nghĩa của nó đối với chúng ta hiện nay. (Người dịch)
Chỉ cần đọc năm chương đầu tiên của sách Tông đồ công vụ đủ để nhận thấy tầm quan trọng của sự phục sinh Đức Giêsu đối với những cộng đoàn Kitô giáo tiên khởi. Chính ở đây ta tìm thấy Tin mừng tiên khởi (kérygme), nghĩa là sự tuyên xưng đức tin ở đầu nguồn Kitô giáo: “Đức Giêsu Nadarét, là người đã được Thiên Chúa phái đến với anh em […] anh em đã dùng bàn tay kẻ dữ đóng đinh Người vào thập giá mà giết đi […] Nhưng Thiên Chúa đã làm cho Người sống lại” (Cv 2, 22-24). Khẳng định này, đặc biệt nói về cuộc đóng đinh và sống lại của Đức Giêsu, cũng được tìm thấy trong Cv 2, 31-33; 3, 13-15; 4, 10-11; 5, 30-31. Như thế, đủ để thấy tầm quan trọng của nó.
Nguồn gốc và tiến triển.
Để hiểu rõ hơn về sự phục sinh, phải ngược dòng lên đến tận nguồn của niềm tin này trong Do Thái giáo, bởi vì Đức Giêsu, các môn đệ và tông đồ của Ngài, các thành viên của cộng đoàn Giêrusalem đầu tiên, họ đều là người Do Thái tự huyết thống, với tôn giáo và văn hóa của họ. Vì thế chúng ta phải đặt sự phục sinh trong bối cảnh này. Nếu các tông đồ cũng như các môn đệ đã tin thì chính là vì sự phục sinh những kẻ chết là một phần trong niềm tin tôn giáo của họ. Niềm tin vào sự phục sinh đã xuất hiện vào thế kỷ II trước Công nguyên, với sự bách hại của Antiochus IV Épiphane, người muốn Hy Lạp hóa dân tộc Do Thái, bắt buộc họ phải thay đổi tôn giáo và ngôn ngữ của mình. Lúc ấy, người Do Thái nổi loạn lên để giữ trung thành với Thiên Chúa và rồi sau đó là cuộc chiến đẫm máu. Biến cố này đã mở ra một suy tư thần học quan trọng: nếu Thiên Chúa là công bình và khi người ta chết vì lòng trung thành với Ngài, thì điều gì xảy ra với những người trẻ tuổi đã bị giết vì lòng tin của họ? Câu trả lời thần học cho câu hỏi này được diễn tả trong sách II Macabê 7, 9 : “Vua [Antiochus Épiphane] là một tên hung thần, vua khai trừ chúng tôi ra khỏi cuộc đời hiện tại, nhưng bởi lẽ chúng tôi chết vì Luật pháp của Vua vũ trụ, nên Người sẽ cho chúng tôi sống lại để hưởng sự sống đời đời” và trong sách Đanien 12, 2: “Trong số những kẻ an nghỉ trong bụi đất, nhiều người sẽ trỗi dậy: người thì để hưởng phúc trường sinh, kẻ thì để chịu ô nhục và bị ghê tởm muôn đời”.
Vào thời Đức Giêsu
Vào thế kỷ I của kỷ nguyên chúng ta, người ta đọc lại và giải thích những bản văn Cựu Ước dưới ánh sáng của văn chương cận Kinh Thánh (parabiblique), những bản văn Do Thái giáo và Kitô giáo được soạn thảo bên ngoài Kinh Thánh, nhưng không được xem như là được linh hứng. Chẳng hạn, người Pharisiêu tin rằng sự phục sinh sẽ xảy ra sau khi Đấng Cứu Thế (Messie) đến và đó sẽ là sự sống được biến đổi với Thiên Chúa như diễn tả của sách Đanien, sách Các dụ ngôn (phần thứ hai của sách Hênốc được soạn thảo vào khoảng năm 100 trước Công nguyên) và Các thánh vịnh Salômon (63-50 trước Công nguyên): “Những ai kính sợ Thiên Chúa sẽ được sống lại để sống đời đời và sự sống của họ trong ánh sáng của Đức Chúa sẽ không bao giờ ngừng” (33, 16). Trong Mc 12, 18-27, khi những người Sađucêô hỏi Đức Giêsu về vấn đề phục sinh, câu trả lời đã thể hiện quan niệm của Ngài: “Khi người ta từ cõi chết sống lại, thì chẳng còn lấy vợ lấy chồng, nhưng sẽ giống như các thiên thần trên trời” (12, 25). Đây là ảnh hưởng trực tiếp của sách Hênốc: “Tất cả những người công chính sẽ trở nên như thiên thần trên trời” (51, 4). Nhưng ví dụ quyết định để thấy sự khai triển này là sự đọc lại của ngôn sứ Hôsê 6, 2 (thế kỷ VIII trước Công nguyên): “Sau hai ngày, Người sẽ hoàn lại cho chúng ta sự sống; ngày thứ ba, sẽ cho chúng ta trỗi dậy, và chúng ta sẽ được sống trước nhan Người”. Vào thời Đức Giêsu, câu này được đọc lại trong sách Targum (bản dịch Sách Thánh từ tiếng Hípri sang tiếng Aram, ngôn ngữ của Đức Giêsu): “Ngài sẽ làm cho chúng ta sống lại vào ngày an ủi sẽ xảy đến; ngày mà Ngài sẽ cho những kẻ chết sống lại, Ngài sẽ cho chúng ta trỗi dậy và chúng ta sẽ sống trước sự hiện diện của Ngài”. Câu này chuyển từ một thời gian có tính niên đại (chronologique) sang thời gian có tính biểu tượng (symbolique); ngày thứ ba đồng nghĩa với ngày sống lại. Ta thấy cùng một giải thích như trên trong sách Midrash Rabbah về sách Sáng Thế Ký 22, 4[1]: “Ngày thứ ba, đó là ngày sống lại của những kẻ chết”.
Ta lại thấy ý nghĩa này trong các trình thuật của Tân Ước. Tân Ước không gợi lên điều gì về sự hồi sinh một xác chết nhưng là sự đi vào một sự sống mới mà ta có thể hiệp thông trọn vẹn với Thiên Chúa trong một hiện hữu được biến bình, như diễn tả của văn chương Do Thái vào thời ấy. Chứng nhân tuyệt vời xác nhận cách hiểu này chính là tông đồ Phaolô, người đã viết các thư của mình trước cả các tin mừng. Đây là điều mà ngài giải thích cho các tín hữu Côrintô khi họ đặt vấn nạn về vấn đề này: “Nhưng có người sẽ nói: kẻ chết trỗi dậy thế nào? Họ lấy thân thể nào mà trở về? Đồ ngốc! […] Việc kẻ chết sống lại cũng vậy: gieo xuống thì hư nát, mà trỗi dậy thì bất diệt; gieo xuống thì hèn hạ, mà trỗi dậy thì vinh quang; gieo xuống thì yếu đuối, mà trỗi dậy thì mạnh mẽ, gieo xuống là thân thể có sinh khí, mà trỗi dậy là thân thể có thần khí” (1 Cr 15, 35-44). Đó là tình trạng được ở với Thiên Chúa, một hữu thể hoàn toàn thiêng liêng. Cũng nên lưu ý rằng từ soma trong tiếng Hy Lạp, thường được dịch là “thân xác”, tuy nhiên nó cũng có nghĩa là “ngôi vị” (personne) trong ngôn ngữ phổ thông của những người thuộc thế kỷ I của kỷ nguyên chúng ta. Như thế, đối với Thánh Phaolô, chính ngôi vị phục sinh. […]
Hiểu các trình thuật phục sinh như thế nào?
So sánh các trình thuật phục sinh ta thấy nhiều khác biệt và lệch nhau đến độ có thể mất đức tin! Chính vì thế nên thật quan trọng để nắm bắt điều chính yếu trong những trình thuật này mà thoạt nhìn xem ra có vẻ mâu thuẫn. Daniel Marguerat[2] giải thích rằng kinh nghiệm sống của một người không phải là bản sao của người khác, thế nên có sự rời rạc rõ ràng. Có tính chủ quan và tính cá biệt trong đó vì nó luôn là một kinh nghiệm cực kỳ cá nhân.
Câu hỏi lớn được đặt ra vào thời đại ấy là: làm sao thuật lại một sự kiện tương tự nhau? Làm sao diễn tả một kinh nghiệm thiêng liêng liên quan đến điều khó nói và khó tả? Các nhân chứng của sự phục sinh đều là người Sêmít. Vì thế, họ diễn tả theo nền văn hóa của họ có khuynh hướng nại đến các hình ảnh trước hết. Họ có cảm hứng dồi dào từ ngôn ngữ của Cựu Ước mà theo đó thì nhìn thấy Thiên Chúa không có nghĩa là thấy được mặt Ngài nhưng nghe Lời Ngài. Đó là một thành ngữ Hípri, một lối nói Sêmít. Vì thế, khi các môn đệ và tông đồ muốn thuật lại rằng Đức Giêsu vẫn luôn luôn sống, họ đã kín mức từ trong nền văn hóa tôn giáo của mình. Các tác giả đã chọn những động từ phù hợp trong tiếng Hy Lạp: “thấy” với nghĩa là “nghe” hoặc “hiểu” và “làm cho thấy” có nghĩa là “tỏ mình”. Điều này giải thích tại sao trong các bản văn nói về sự hiện ra của Đức Giêsu phục sinh, người ta không mô tả nó mà chỉ nói rằng đã nhận ra Ngài nhờ lời và các cử chỉ của Ngài. Và khi người ta dịch rằng: “Ngài đã hiện ra”, thì phải đọc theo ý nghĩa Sêmít của động từ Hy Lạp: “Ngài đã tỏ mình”. Những thế hệ Kitô hữu đầu tiên đã hiểu rõ ý nghĩa của phục sinh. Có lẽ vì thế mà nó thật đáng tin dưới mắt họ và kém đi dưới mắt chúng ta.
Ngày nay, làm sao hiểu về sự phục sinh?
Các thành viên của thế hệ Kitô hữu đầu tiên đã kinh nghiệm về Đức Giêsu chịu chết vì đóng đinh, nhưng vẫn luôn luôn sống. Họ hoàn toàn bị xáo trộn về điều đó. Vì thế buộc họ phải đọc lại căn tính và hành động của Ngài: Ngài thật sự là ai và sứ mệnh Ngài là gì, một sứ mệnh rất quan trọng dưới mắt Thiên Chúa? Trong những chương đầu của sách Tông đồ công vụ, chính kinh nghiệm về sự phục sinh của Ngài đã mở tâm thức của họ về hai vấn đề này. Diễn từ của Thánh Phêrô trong Cv 2, 22-24 rất rõ ràng về vấn đề này: “Thưa đồng bào Ítraen, xin nghe những lời sau đây. Đức Giêsu Nadarét, là người đã được Thiên Chúa phái đến với anh em. Và để chứng thực sứ mệnh của Người, Thiên Chúa đã cho Người làm những phép mầu, điềm thiêng và dấu lạ giữa anh em. Chính anh em biết điều đó. Theo kế hoạch Thiên Chúa đã định và biết trước, Đức Giêsu ấy đã bị nộp, và anh em đã dùng bàn tay kẻ dữ đóng đinh Người vào thập giá mà giết đi. Nhưng Thiên Chúa đã làm cho Người sống lại, giải thoát Người khỏi những đau khổ của cái chết. Vì lẽ cái chết không tài nào khống chế được Người mãi”. Họ đã nhận ra Ngài đích thị là Đấng Cứu Thế và sứ mệnh của Ngài đến từ Thiên Chúa. Họ đã hiểu tầm quan trọng của sứ mệnh Ngài vì sự phục sinh là lời đáp trả của Thiên Chúa đối với sự trung thành của Đức Giêsu. Chính vào thời khắc này mà họ ý thức được mọi trọng trách của tình trạng làm môn đệ của mình. Nếu thực tế họ đã gặp gỡ Ngài, đã tin vào Ngài, đã đi theo Ngài và đã chấp nhận được Ngài chọn lựa, thì chính vì thế mà họ phải tiếp tục sứ mệnh của Ngài khi loan báo sứ điệp Ngài và làm lại những cử chỉ của Ngài.
Chúng ta không thể hỏi các môn đệ đầu tiên về kinh nghiệm này và tại sao họ tin chắc như thế. Nhưng sự thay đổi thái độ của họ giữa cuộc khổ nạn và sau phục sinh là dấu hiệu rõ ràng nhất cho sự phục sinh. Trong trình thuật khổ nạn, Phêrô đã chối Ngài và tất cả họ đều trốn hết vì sợ. Trong Công vụ, họ đã trở nên cam đảm và kiên quyết; không gì có thể làm họ thinh lặng hay ngăn cản họ nói về Ngài. Chúng ta cũng phải nắm vững về sự phục sinh. Sự vững vàng của đức tin chúng ta dựa vào đó. Chúng ta cũng phải suy nghĩ lại về hiện trạng làm môn đệ của chúng ta như là các chứng nhân cho sự phục sinh đã làm. Đâu là sứ mệnh của chúng ta ở đây và bây giờ? Chúng ta có thể nói về Đức Kitô phục sinh một cách có hiểu biết và có ý nghĩa không? Chúng ta sống sứ điệp mà Ngài đã loan báo đến đâu và như thế nào? Đó là chất liệu để suy tư trong mùa Phục Sinh này!
Tác giả: Christiane Cloutier Dupuis
Chuyển ngữ: Lm. Phaolô Nguyễn Minh Chính
Từ: Parabole, Mars 2021, Vol. XXXVII, No 1, tr. 7-9
[1] Stk 22, 4: “Sang ngày thứ ba, ông Ápraham ngước mắt lên, thấy nơi đó ở đàng xa”.
[2] Trong Résurrection, une histoire de vie, Poliez-le-Grand, Editions du Moulin, 2001, tr. 57-69.
2021
Sơ Alicia Vacas Moro, người được trao giải “Người Phụ nữ can đảm” năm 2021
Sơ Alicia Vacas Moro, người được trao giải “Người Phụ nữ can đảm” năm 2021
Ngày 8/3/2021, trong một hội nghị trực tuyến, cùng với 13 phụ nữ khác, sơ Alicia Vacas Moro, 41 tuổi, người Tây Ban Nha, dòng Comboni, đã được Ngoại trưởng Hòa Kỳ Anthony Blinken trao giải quốc tế “Người Phụ nữ can đảm” năm 2021, vì cuộc đời cống hiến cho hòa bình và công lý của sơ Alicia, đặc biệt là vì những người dễ bị tổn thương nhất.
Đại sứ quán Hoa Kỳ cạnh Tòa thánh ở Roma cũng đã tổ chức sự kiện trực tuyến nhân dịp trao giải “Phụ nữ can đảm” vào cùng Ngày Quốc tế Phụ nữ.
Trước buổi lễ, ông Patrick Connell, xử lý thường vụ của đại sứ quán Hoa Kỳ, nói rằng cá nhân ông được truyền cảm hứng từ “cuộc đời cống hiến cho hòa bình và công lý của sơ Alicia, đặc biệt là vì những người dễ bị tổn thương nhất.” Ông cho biết, hơn 20 năm, sơ Alicia đã phục vụ tại những cộng đồng bị chiến tranh tàn phá ở Trung Đông, ủng hộ những người không thể lên tiếng nói ở những nơi bị chiến tranh và bất an bao vây. Ông nói: “Sơ Alicia đã làm việc với tư cách là một y tá chuyên nghiệp và một nhà vận động nhân quyền đấu tranh để trao quyền cho phụ nữ, giáo dục trẻ em và cung cấp dịch vụ chăm sóc y tế trong các cộng đồng chủ yếu là người Hồi giáo.”
Người nữ tu vì người nghèo
Là một nữ tu dòng truyền giáo thánh Comboni, sơ Alicia đã phục vụ người nghèo ở Ai Cập 8 năm; sơ điều hành một phòng khám y tế phục vụ 150 bệnh nhân có thu nhập thấp mỗi ngày. Sau đó sơ được gửi đến Betania, ở Bờ Tây; tại đây sơ đã thành lập các trường mẫu giáo và các chương trình đào tạo cho phụ nữ trong các trại Bedouin nghèo khó. Hiện tại sơ là điều phối viên khu vực của các nữ tu dòng Comboni ở Trung Đông, với 40 nữ tu trợ giúp các nạn nhân của bạn buôn người, người tị nạn và người xin tị nạn trong khu vực.
Năm 2020, sơ Alicia đã đến Ý để giúp đỡ các nữ tu cùng dòng sau khi đại dịch Covid-19 bùng phát tại tu viện của họ ở miền bắc nước Ý. Tại một hội nghị chuyên đề được các đại sứ quán Hoa Kỳ và Anh cạnh Tòa thánh tổ chức trực tuyến vào tháng 6 năm 2020, sơ đã chia sẻ kinh nghiệm của mình trong thời kỳ đại dịch: “Thật không may, một trong những cộng đoàn của chúng tôi ở Bergamo đã bị nhiễm virus corona ngay từ khi đại dịch bùng phát, và chúng tôi bắt đầu nhận được tin tức rất xấu từ cộng đoàn. Một số nữ tu trẻ, một số y tá chúng tôi tình nguyện và giúp đỡ họ.”
Chia sẻ cuộc sống và đau khổ với người dân là một đặc ân
Khi sơ Alicia đến Bergamo, ở miền Lombardia, tâm điểm của đợt bùng phát virus corona ở Ý, sơ thấy rằng nhà mẹ của dòng Comboni “thực sự hỗn loạn” bởi vì “mọi người đều bị bịnh.” Sơ ước tính có 45 nữ tu trong số 55 người sống ở Bergamo bị bệnh. 10 nữ tu trong cộng đoàn đã qua đời trong thời gian dịch bệnh bùng phát. Sơ Alicia nói: “Sống bên trong nỗi đau của người dân ở Bergamo thật là một trải nghiệm rất mạnh mẽ”, một trải nghiệm về cuộc Thương khó của Chúa Kitô. Theo sơ, “là một nữ tu dòng Comboni, chia sẻ cuộc sống, đau khổ với người dân là một đặc ân, một quà tặng Thiên Chúa trao ban cho hội dòng.”
Giải thưởng quốc tế “Người Phụ nữ dũng cảm”
Giải thưởng quốc tế “Người Phụ nữ dũng cảm” được tổ chức từ 15 năm nay. Nó nhìn nhận “những phụ nữ trên toàn cầu đã thể hiện lòng dũng cảm và khả năng lãnh đạo phi thường trong việc ủng hộ hòa bình, công lý, nhân quyền, bình đẳng giới và trao quyền cho phụ nữ, thường phải chịu rủi ro và hy sinh cá nhân lớn”.
Những nữ tu đã được trao giải
Sơ Alicia không phải là nữ tu đầu tiên được Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ trao giải “Người Phụ nữ can đảm”. Năm 2019, sơ Orla Treacy, một nữ tu người Ai-len, dòng Đức Mẹ Loreto đã được nhận được giải thưởng vì công việc giáo dục các thiếu nữ ở Nam Sudan. Năm 2018, một nữ tu người Ý, sơ Maria Elena Berini, đã được vinh danh trong danh sách “Người Phụ nữ can đảm” vì công việc phục vụ những người phải di tản trong nước từ các khu vực xung đột ở Cộng hòa Trung Phi. Trước đó, năm 2017, sơ Carolin Tahhan Fachakh, dòng Salêdiêng người Syria, người đã chăm sóc cho các phụ nữ và trẻ em ở Damascus trong cuộc nội chiến Syria, đã nhận được giải thưởng.
Các nữ tu tại là những tia sáng hy vọng cuối cùng cho người khốn khổ
Đại diện của Đại sứ quán Hoa Kỳ cạnh Tòa Thánh nói rằng sơ Alicia là một trong nhiều “nữ tu truyền cảm hứng cho người khác, những người làm việc không mệt mỏi để nâng cao phẩm giá và tự do của con người.” Ông lưu ý rằng các nữ tu thường phục vụ ở các khu vực mà chính phủ đã thất bại và nơi mà các tổ chức nhân đạo cố gắng để hoạt động và gặp rủi ro rất cao. Theo ông, “các nữ tu là một trong những đối tác quan trọng và hiệu quả nhất mà chúng tôi có ở tiền tuyến trong các cộng đồng mong manh trên khắp thế giới. Họ thường là những tia sáng hy vọng cuối cùng cho hàng triệu người, những người mà nếu không có các nữ tu thì tiếng nói của họ không được lắng nghe.” (CNA 09/03/2021)
Hồng Thủy
(vaticannews.va 04.04.2021)
