2021
Các giám mục Mỹ giúp 3,5 triệu đô la cho Giáo hội ở Trung và Đông Âu
Các giám mục Mỹ giúp 3,5 triệu đô la cho Giáo hội ở Trung và Đông Âu
Năm nay các giám mục Mỹ sẽ dành 3,5 triệu đô la tài trợ cho 208 dự án ở 23 quốc gia để trợ giúp cho các Giáo hội ở Trung và Đông Âu đang cố gắng phục hồi sau nhiều thập kỷ bị cộng sản đàn áp bách hại.
Đây là số tiền quyên góp được nhờ lòng quảng đại của các tín hữu Hoa Kỳ trong cuộc lạc quyên hàng năm được tiểu ban Trợ giúp các Giáo hội ở Trung và Đông Âu tổ chức tại hầu hết các giáo phận ở Hoa Kỳ vào mỗi mùa đông.
Mối quan hệ của người Công giáo ở hai đầu thế giới
Đức cha Jeffrey M. Monforton, giám mục Steubenville, Chủ tịch của Tiểu ban Trợ giúp các Giáo hội ở Trung và Đông Âu nhận định: “Người Công giáo ở Trung và Đông Âu đã gìn giữ đức tin sống động trong thời kỳ đen tối nhất, khi chính họ gặp nguy hiểm to lớn, và nỗ lực truyền lại chính đức tin đó cho con cái của họ”. Và Đức cha khẳng định: “Những người Công giáo đã đóng góp vào cuộc lạc quyên đang yêu thương hỗ trợ các anh chị em của họ, những người đã chịu nhiều đau khổ vì đức tin và đang giúp một thế hệ mới phát triển về mặt thiêng liêng trong những bối cảnh vô cùng khó khăn”. Ngài giải thích: “Nhờ những khoản quyên góp này, các giáo xứ sẽ được đổi mới, các công việc mục vụ xã hội cơ bản sẽ được thực hiện và mối quan hệ giữa những người Công giáo ở cả hai đầu thế giới sẽ được củng cố”.
Các dự án
Trong số các dự án mục vụ được tài trợ có dự án thành lập một trung tâm truyền giáo do nhà thờ chính tòa và một trung tâm mục vụ ở Bishkek, thủ đô của Kyrgyzstan điều phối; các sáng kiến nhằm hồi sinh đời sống của các giáo xứ ở Cộng hòa Séc với sự tham gia của các linh mục và giáo dân và một số dự án hỗ trợ cuộc sống được xúc tiến ở năm quốc gia (Albania, Georgia, Rumani, Slovakia và Slovenia), bao gồm các khóa đào tạo nhằm thu hút các tín hữu tham gia quảng bá cuộc sống và gia đình, các hoạt động giúp đỡ và hỗ trợ các bà mẹ tương lai, các khóa đào tạo về kế hoạch hóa gia đình tự nhiên và giáo dục giới tính để đào tạo thanh niên về tình dục lành mạnh.
Đức cha Monforton nói rằng “Những món quà của người Công giáo ở Mỹ giúp các anh chị em của họ ở Trung và Đông Âu sẽ cứu sống, giúp mọi người khám phá ra Chúa Giêsu, và cho phép Giáo hội đi ra từ các hang toại đạo làm chứng về quyền năng của sự Phục sinh”. (USCCB 07/07/2021)
Hồng Thủy
2021
Những giếng nước nghĩa tình cho anh chị em dân tộc ở Tây nguyên
Những giếng nước nghĩa tình cho anh chị em dân tộc ở Tây nguyên
Mùa hè sông suối cạn khô, lại ô nhiễm, người dân tộc ở Tây nguyên phải cuốc bộ vài cây số để lấy nước. Mùa mưa nước nhiều, nhưng đến nhà thờ, quần áo lấm lem vì “vồ ếch”, lại không có nước rửa mặt mũi chân tay để tham dự Thánh lễ cho đàng hoàng một tí. Nhờ tình liên đới chia sẻ của những tấm lòng đầy nghĩa tình, qua các nữ tu, những giếng nước được khoan và mang nước đến cho người dân tộc. Những giọt nước tinh khiết nhưng đậm nghĩa tình!
Những giếng nước nghĩa tình cho anh chị em Tây nguyên
Nước là nguồn sống, nơi nào có nước nơi ấy có sự sống. Nước ở đồng bằng thì dễ, nhưng nước trên đại ngàn Tây Nguyên là một bài toán khó cho anh chị em tu sĩ Loan báo Tin mừng tại đó.
Người dân thường hay ra suối tắm giặt và lấy nước về uống; mùa mưa nước đổ xuống đục ngầu; mùa nắng cạn khô hoặc chỉ còn cạn và cấn… Có những vùng có nước giọt, tức là nước trên núi chảy xuống, dân bản xứ lấy những cây tre chẻ làm đôi và đóng nào núi, tạo ra những dòng nước cho dễ lấy… nhưng mùa khô thì nước hiếm.
Mà nước bây giờ cũng ô nhiễm lắm rồi, người Kinh làm rẫy bón phân. Người ta chăn bò và phân bò cứ chỗ trũng mà chảy, dân cứ chỗ có nước đến lấy…
Hình ảnh mùa khô, các bà các chị bế theo những đứa con, lưng gùi những bình nhựa ra suối, những đứa con lớn lon ton chạy theo váy mẹ. Ra suối họ tắm giặt và gùi nước về làng. Quãng đường dài, gần thì hai cây số, xa thì ba bốn cây. Lưng gùi những bình nước đã đầy, tay ôm con, miệng nhắc nhở những đứa chạy lon ton theo kịp mẹ; thi thoảng mấy chú chó cũng quấn quýt theo chủ ra suối.
Giếng nước là cái gì đó rất xa xỉ và xa lạ với anh chị em J’rai, Bana…Xa lạ vì văn hoá của họ là cùng nhau tắm giặt gặp gỡ bên suối hay bên những giọt nước từ trên núi xuống. Nước nhìn thấy chứ không tưởng tượng nổi một cái lỗ bé tí có thể mang nước về cho cả làng. Xa xỉ vì anh chị em đong gạo hàng ngày, hôm nay ăn hết gạo, ngày mai không biết có tiền mua gạo hay không, nên mỗi cái giếng khoan cộng với tất cả những gì đi theo nó tổng cộng ít nhất cũng năm mươi triệu đồng là điều họ không bao giờ dám nghĩ tới.
Rồi nắng hạn và nước cạn dần, khó lòng tìm được các con suối và giọt nước. Thi thoảng ở những ngôi nhà người Kinh có giếng, anh chị em đến đó xin, nhưng mùa nắng người đến xin đông quá, họ không chịu xiết tiền điện nên cho hạn chế.
Các nữ tu mới “đánh liều xin trợ giúp giếng khoan”. Một cái giếng có thể cho cả làng sử dụng, hoặc làng nào địa lý quá rộng thì hai đầu làng hai cái… Cứ cần mẫn như chú ong, các nữ tu dòng Đa Minh Rosa Lima đã làm được mười tám cái giếng. Mười sáu cái trên Tây Nguyên cho mười sáu làng và hai cái trên vùng anh em dân tộc ở Đà Lạt cho hai làng.
Ngày bắt đầu khoan giếng, bà con trong làng tụ tập chung quanh già làng và cùng nhau cầu nguyện, xin cho việc khoan giếng được mọi việc suôn sẻ. Bởi vì mỗi vùng địa chất khác nhau nên các nữ tu đứng ra lo việc khoan giếng cũng lo lắm. Có những cái giếng chỉ 50m đã có nước nhưng có vùng phải khoan tới 80 hay 90 hay 100m. Chỗ nào cũng có đá, mũi khoan mang lên những viên đá tròn đường kính 20cm và dài nhất là 2m.
Sau khi có nước, các nữ tu sẽ gọi lũ trẻ trong làng cho nếm thử những giọt nước đầu tiên ấy. Thường thì chúng là những đức trẻ lẫm chẫm chẳng mặc gì vì trời nóng…; đứa lớn hơn may ra có cái quần xà-lỏn… Chúng reo hò tắm mát dưới vòi nước; chúng tròn xoe mắt khi thấy điều diệu kỳ từ cái vòi đen đen. Làm sao cái ống này lại cho nhiều nước đến thế, nước trắng toát, tuôn xối xả… và chúng thích chí reo hò gọi tên những đứa bạn gần đấy chưa kịp chạy tới…
Các sơ sẽ mua xi măng về láng một khoảng đủ rộng để dân làng đến tắm giặt. Mua thêm một cái bồn và hàn cái chân để cho bồn lên cao, mua mô-tơ để lấy nước lên bồn… Các bà các chị đến chỉ việc mở vòi nước từ bồn là đã có nước xài, những dòng nước tinh khiết lấy lên từ lòng đất mẹ, trong lành mát rượi.
Mười bảy cái giếng đều như thế…. Thi thoảng có cái kịch tính là đá nhiều quá, gãy mũi khoan…, phải mua thêm nhiều mũi khác… Nhưng đến giếng thứ mười tám là hú hồn. Cái giếng này được khoan trong khuôn viên của một nhà nguyện cho bảy làng anh chị em dân tộc J’rai sử dụng. Họ rất cần nước, nhưng nhà nguyện không có nước.
Mỗi Chúa Nhật gia đình bồng bế nhau đi lễ. Họ đi bộ nếu nhà cách xa khoảng 4 cây số đổ lại. Đối với những gia đình ở xa, họ sẽ chở nhau bằng xe máy. Ngôi làng ở xa nhất là 20 cây số đường rừng, ngoằn nghèo, ổ gà ổ voi, với đất đỏ ba-zan, mùa nắng bụi bám đỏ người, mùa mưa sình lầy nhem nhuốc. Họ đã không ít lần “chụp ếch” trên hành trình về nhà nguyện. Phải rửa mặt mũi tay chân sạch sẽ trước khi vào Thánh lễ … Không có nước rửa, các sơ phải đi mướn xe càng chở nước về….; mấy năm nay đều là như thế. Tiền mướn xe không nhiều, vì chủ xe chỉ lấy tiền dầu, nhưng vùng đất nghèo ấy kiếm được tiền mua một ký gạo đã khó, các sơ cũng chẳng hơn gì họ….Thôi thúc trước nỗi khổ của bà con bảy làng với mấy trăm con người lấm lem mỗi sáng Chúa nhật, các sơ muốn xin khoan một cái giếng.
Thấu hiểu nỗi khổ của anh chị em vùng cao, bác sĩ Christine Hoàng tặng cho bà con giếng nước này.
Vùng đất này rất ít nước, đá nhiều và phải khoan từ 120m mới mong có nước. Có nhiều nhà khoan sâu như thế mà phải bỏ đi vì mạch nước rất yếu! Bỏ giếng mà vẫn phải trả tiền khoan…, vậy mới hồi hộp!
Giếng số 18 này đã phải khoan lần thứ ba mới được. Cái thứ nhất 30m, cát chung quanh xô lại làm bể ống; rút mũi khoan lên bỏ đi. Giếng thứ hai sâu 120m, mạch nước yếu, không đủ cho bảy làng xài vì chỉ dùng mô-tơ một ngựa. Cái thứ ba sâu 150m và tạ ơn Chúa nguồn nước dồi dào. Và kinh phí gấp đôi 17 cái giếng trước đây.
Nhìn lũ trẻ đón những dòng nước đầu tiên từ giếng lên mà thấy ấm lòng bởi tiếng cười giòn giã tinh khôi của chúng.
Tạ ơn Chúa vì mong ước của bà con bao nhiêu năm nay bây giờ đã thành hiện thực, vui lắm!!!!
Chị Christine Hoàng “mở hàng” bảo trợ cái giếng đầu tiên trong chương trình và cũng là người ngỏ lời với bạn hữu thêm 5 cái giếng khác trong chương trình khoan giếng cho anh chị em vùng Tây Nguyên. Bây giờ là giếng thứ 18 bác sĩ gửi tặng $3,300 Mỹ kim. Xin cám ơn bác sĩ vì không chỉ đóng góp công sức mang lại dòng nước ngọt cho anh chị em mà còn luôn giữ giờ cầu nguyện Lòng Thương Xót lúc 3g chiều cho từng cái giếng khoan và trong cơn đại dịch này, mặc dù chị mới phẫu thuật mắt xong.
Xin Thiên Chúa gia ân trên tất cả những anh chị em rộng lòng với đồng bào với mười tám cái giếng khoan và những chương trình chia sẻ khác nữa.
Chúng tôi, những nữ tu ở hai đầu trao và nhận, cảm nhận được niềm vui sẻ chia, niềm vui nhận lãnh và đoan chắc rằng: Thiên Chúa sẽ gửi thiên thần của Người đến chia sẻ những nhu cầu mà con cái của Người đang cần. Ước chi mỗi người chúng ta là thiên thần của nhau.
Sr. Minh Du O.P.
2021
THANH THOÁT
11 02 X CHÚA NHẬT XV THƯỜNG NIÊN.
Ca vịnh tuần III.
Không cử hành lễ thánh Bê-nê-đíc-tô, viện phụ. Và không cử hành lễ cầu cho người qua đời (D2, D3), trừ lễ an táng.
Am 7,12-15; Ep 1,3-14 (hoặc Ep 1,3-10a); Mc 6,7-13.
THANH THOÁT
Với sự sai đi và với quyền năng trừ quỷ của Giêsu ban cho, các môn đệ và giáo hội nhận được một sứ mạng mới, sứ mạng loan báo Tin Mừng nước Thiên Chúa, và sứ mạng trừ khử thần dữ trong thế giới.
Hành trang đi đường: cây gậy, đôi dép, không mang hai áo. Ý nghĩa ở đây là những kẻ được sai đi phải là những con người thanh thoát, không cồng kềnh nặng nề với của cải vật chất để có thể luôn sẵn sàng lên đường ra đi cho sứ vụ.
Các môn đệ được tham dự vào ba chức năng tư tế, tiên tri và vương đế của Chúa Giêsu. Cây gậy của vương đế, đôi dép của tiên tri, và tấm áo của tư tế.
“Người chỉ thị cho các ông không được mang gì đi đường, chỉ trừ cây gậy; không được mang lương thực, bao bị, tiền đồng để giắt lưng; được đi dép, nhưng không được mặc hai áo.”
Ở đây, trong đoạn phúc âm của Mác-cô, với chỉ thị này Giêsu muốn đặt nền tảng cho nguyên tắc sai đi của Ngài. Nguyên tắc đó là gì vậy?
“Không được mang gì đi đường”, nghĩa là phải từ bỏ của cải và không còn có nhu cầu gì cả. Đó là nguyên tắc rất triệt để. Như vậy, trong bối cảnh xã hội thời đó, thì người môn đệ của Giêsu còn phải triệt để hơn cả những nhà triết gia Kyniker, những nhà thuyết giảng khắc khổ đi khắp mọi nơi. Và khi các triết gia Kyniker đi, thì họ không có nhu cầu gì cả, nhưng họ có đem theo gậy, túi xin tiền và chiếc áo mantel giành cho nhà triết gia. Còn các môn đệ của Giêsu thì có gậy đấy, nhưng không có túi xin tiền hay ba lô hay túi ngủ gì cả, và cũng chẳng có tiền buộc bụng, đến cả của ăn đàng cũng không có nữa. Dù vậy, có áo, nhưng chỉ là một thôi chứ không phải là hai hay là ba.
Không mang lương thực đi đường, không bánh trái gì cả. Điều này còn vượt trội hơn các triết gia khắc khổ Kyniker thời đó, vì khi họ ra đi thì họ đem theo bánh, trái vải và bình nước. Như vậy, người loan báo tin mừng của Đức Kitô sẽ hoàn toàn tín thác vào Thiên Chúa, và cũng tự do và khiêm nhường đón nhận tất cả những gì anh chị em ban cho mình. Ai cho ăn gì thì ăn nấy. Ai cho ly nước thì uống nước, ai mời tách trà thì sẵn sàng ngồi lại nhâm nhi. Thật đơn sơ và giản dị.
Giản dị hơn nữa, khi chẳng đem theo bao bị, chẳng có ba lô trên vai. Rũ bỏ tất cả. Tự do hoàn toàn. Không vương vấn điều gì, không giữ lại sự gì cả. Như vậy, thì không chỉ chân rảnh, mà tay cũng rảnh, người cũng nhẹ và đầu óc cũng trở nên trống rỗng hoàn toàn, để tất cả cho Tin Mừng mà thôi.
Tất cả vì Tin Mừng nên tiền bạc cũng chẳng màng tới. Và nhờ vậy mà tránh được biết bao nhiêu phiền toái tiền bạc có thể gây ra. Không tham lam, không thu gom, không cất giữ, đỡ phải mệt mỏi ôm đống tiền trong lòng, đỡ phải phí phạm chẳng đáng gì. Hơn nữa, trong xã hội Đông Phương thời đó, thì khi không mang tiền bạc trên mình, sẽ tránh được sự trấn lột của kẻ cướp qua đường.
Người ta kể rằng: có một đệ tử muốn từ bỏ mọi sự của thế gian để sống tu trì. Anh quyết định vào rừng vắng sống ẩn tu. Hành trang duy nhất anh mang là chiếc áo ăn mày để khất thực sống qua ngày.
Ngày kia, anh đau đớn vô cùng khi thấy chiếc áo phơi ở bờ sông đã bị chuột cắn nát tả tơi. Không còn cách nào khác, anh phải vào trong làng xin một chiếc áo khác. Chiếc áo thứ hai này cũng bị cùng chung số phận, nát tả tơi vì chuột cắn. Anh nghĩ rằng chỉ có nuôi mèo mới giữ được chiếc áo. Anh quyết định nuôi mèo. Thế nhưng, khi có mèo anh lại phải lo kiếm thêm phần ăn cho con mèo được nuôi để đuổi chuột.
Ngày ngày vác bị đi khất thực, anh cảm thấy mình như một gánh nặng đối với dân làng. Nghĩ thế, anh cố gắng chắt chiu để kiếm tiền nuôi một con bò để thêm phần thu nhập. Nhưng có bò lại phải kiếm cỏ cho bò ăn. Chăn nuôi gia súc khiến anh không thể có thời giờ cầu nguyện, anh lại phải thuê người cắt cỏ nuôi bò. Càng ngày bò càng sinh sản, người cắt cỏ cũng phải gia tăng. Thời gian trôi qua, mảnh đất hoang sơ đã biến thành một trang trại rộng lớn. Gia súc và người làm ngày càng thêm đông. Con người đã một thời muốn từ bỏ mọi sự để trở thành một tu sĩ, nay nghiễm nhiên trở thành một ông chủ trang trại.
Có tiền của và tài sản to lớn, anh lại muốn có người chia sẻ công việc của mình. Anh cưới vợ và sinh con. Anh trở thành một người chồng, người cha trong một gia đình hạnh phúc. Thế là lý tưởng ban đầu đã hết. Anh đã đánh mất lý tưởng chỉ vì mải lo gìn giữ một “cái áo rách”.
Chuyện có vẻ hoang đường nhưng lại là thật. Ma quỷ thường cám dỗ từng bước. Ma quỷ thường gợi lên những điều hay, điều tốt để dẵn dắt con người đi theo chương trình của nó. Adam – Evà đã nhìn thấy trái táo thơm ngon mà quên đi thân phận phải vâng lời Thiên Chúa. Khi tỉnh lại chỉ còn thất vọng và hổ thẹn lương tâm. Người tu sĩ đã lạc bước khi quá bận tâm đến nhu cầu vật chất, đến đồng tiền bát gạo, khiến tâm hồn anh không còn thời giờ để vun đắp, định hướng cho hướng đi của mình. Cái thất bại của anh thật tẻ nhạt, chỉ vì mải lo gìn giữ một “chiếc áo rách”.
Thực vậy, vì tiền bạc, mà người ta có thể đánh mất lý tưởng cuộc đời. Vì tiền mà “nhân chi sơ tính bổn thiện” đã không còn. Vì tiền mà người ta có thể chối bỏ niềm tin. Đó là nguy cơ mà bất cứ ai cũng có thể rơi vào.
Đó là bài học cho tất cả chúng ta. Đồng tiền thật cần thiết cho cuộc sống nhưng không phải là cứu cánh cho cuộc đời. Đừng quá lệ thuộc vào của cải vật chất. Nó chính là con dao hai lưỡi có thể làm hại cuộc đời chúng ta, nếu không khôn ngoan, sáng suốt để nhận định đúng giá trị của nó. Chúng ta cần can đảm để trong khi mưu tìm của cải vật chất, chúng ta có đủ nghị lực khước từ mọi hành vi bất chính, mọi thoả hiệp với lừa đảo, gian trá của thế gian.
Chúa sai các ông đi từng hai người, như vậy, Chúa đã thiết lập những cộng đoàn nhỏ. Các ông là những chứng nhân, và chứng nhân càng nhiều thì càng có giá trị. Một cộng đoàn, bao giờ cũng có lợi hơn là một người đơn độc. Trong cộng đoàn người ta nhắc nhở nhau, nâng đỡ nhau sống trung thành với luật Chúa, nhất là việc làm chứng tình thương của Chúa ngay trong cộng đoàn. Chúa đòi hỏi các Tông đồ phải nhất thiết trở nên mẫu mực về tình bác ái huynh đệ. Và làm sao thực thi bác ái được, nếu mỗi người chỉ sống một mình. Dân chúng thời các tông đồ đã nhận ra dấu chứng này nơi cộng đoàn tín hữu đầu tiên: “Coi kìa, họ yêu thương nhau biết bao!”. Và đó cũng là định hướng của chính Đức Kitô: “Người ta cứ dấu này mà nhận biết các con là môn đệ Thầy, là thấy các con yêu thương nhau”. Cuộc sống yêu thương trong cộng đoàn vừa là dấu hiệu của người môn đệ Chúa, vừa là lời rao giảng sống động, hùng hồn nhất về Tin Mừng của Chúa.
Chúa Giêsu kêu gọi các thánh Tông đồ, đào tạo họ trong tinh thần truyền giáo và sai họ đi rao giảng Tin Mừng. Tất cả đều nhắm mục đích thực hiện kế hoạch yêu thương của Thiên Chúa. Chúa Giêsu đã chu toàn sứ mệnh và Người còn kêu gọi ta tiếp tục sứ mệnh của Người nếu ta sống tất cả những ân sủng đã lãnh nhận được từ kế hoạch yêu thương ấy. Ý thức sứ mệnh tông đồ và truyền giáo ta được chia sẻ với Chúa Kitô, ta cố gắng sống cuộc đời Kitô hữu gương mẫu, để không chỉ rao giảng bằng lời nói, nhưng bằng việc làm và qua những giao tiếp đầy tình thương bác ái với anh chị em.
2021
Chúa Nhật Tuần XV – Mùa Thường Niên
Chúa Nhật Tuần XV – Mùa Thường Niên
Ca nhập lễ
Tv 16,15
Phần con đây,
nhờ sống công minh chính trực,
nên sẽ được trông thấy mặt Ngài ;
khi thức giấc,
được thoả tình chiêm ngưỡng thánh nhan.
Lời nguyện nhập lễ
Lạy Chúa, Chúa cho kẻ lầm lạc thấy ánh sáng chân lý của Chúa để họ được trở về nẻo chính đường ngay; xin ban cho những người xưng mình là Kitô hữu biết tránh mọi điều bất xứng và theo đuổi những gì thích hợp với danh nghĩa của mình. Chúng con cầu xin …
Bài đọc 1
Am 7,12-15
Hãy đi làm ngôn sứ, tuyên sấm cho Ít-ra-en dân Ta.
Bài trích sách ngôn sứ A-mốt.
12 Ngày ấy, tư tế đền thờ Bết Ên là A-mát-gia nói với ông A-mốt : “Này thầy chiêm ơi, mau chạy về đất Giu-đa, về đó mà kiếm ăn, về đó mà tuyên sấm ! 13 Nhưng ở Bết Ên này, đừng có hòng nói tiên tri nữa, vì đây là thánh điện của quân vương, đây là đền thờ của vương triều.” 14 Ông A-mốt trả lời ông A-mát-gia : “Tôi không phải là ngôn sứ, cũng chẳng phải là người thuộc nhóm ngôn sứ. Tôi chỉ là người chăn nuôi súc vật và chăm sóc cây sung. 15 Chính Đức Chúa đã bắt lấy tôi khi tôi đi theo sau đàn vật, và Đức Chúa đã truyền cho tôi : “Hãy đi tuyên sấm cho Ít-ra-en dân Ta.”
Đáp ca
Tv 84,9ab và 10.11-12.13-14 (Đ. c.8)
Đ.Lạy Chúa, xin tỏ cho chúng con thấy tình thương của Chúa,
và ban ơn cứu độ cho chúng con.
9abTôi lắng nghe điều Thiên Chúa phán,
điều Chúa phán là lời chúc bình an
cho dân Người, cho kẻ trung hiếu.
10Chúa sẵn sàng ban ơn cứu độ cho ai kính sợ Chúa,
để vinh quang của Người
hằng chiếu toả trên đất nước chúng ta.
Đ.Lạy Chúa, xin tỏ cho chúng con thấy tình thương của Chúa,
và ban ơn cứu độ cho chúng con.
11Tín nghĩa ân tình nay hội ngộ,
hoà bình công lý đã giao duyên.
12Tín nghĩa mọc lên từ đất thấp,
công lý nhìn xuống tự trời cao.
Đ.Lạy Chúa, xin tỏ cho chúng con thấy tình thương của Chúa,
và ban ơn cứu độ cho chúng con.
13Vâng, chính Chúa sẽ tặng ban phúc lộc
và đất chúng ta trổ sinh hoa trái.
14Công lý đi tiền phong trước mặt Người,
mở lối cho Người đặt bước chân.
Đ.Lạy Chúa, xin tỏ cho chúng con thấy tình thương của Chúa,
và ban ơn cứu độ cho chúng con.
Bài đọc 2
Ep 1,3-14
Trong Đức Ki-tô, Người đã chọn ta trước cả khi tạo thành vũ trụ.
Bài trích thư của thánh Phao-lô tông đồ gửi tín hữu Ê-phê-xô.
3Chúc tụng Thiên Chúa
là Thân Phụ Đức Giê-su Ki-tô, Chúa chúng ta.
Trong Đức Ki-tô,
từ cõi trời, Người đã thi ân giáng phúc
cho ta hưởng muôn vàn ơn phúc của Thánh Thần.
4Trong Đức Ki-tô,
Người đã chọn ta trước cả khi tạo thành vũ trụ,
để trước thánh nhan Người,
ta trở nên tinh tuyền thánh thiện,
nhờ tình thương của Người.
5Theo ý muốn và lòng nhân ái của Người,
Người đã tiền định cho ta làm nghĩa tử
nhờ Đức Giê-su Ki-tô,
6để ta hằng ngợi khen ân sủng rạng ngời,
ân sủng Người ban tặng cho ta
trong Thánh Tử yêu dấu.
7Trong Thánh Tử, nhờ máu Thánh Tử đổ ra
chúng ta được cứu chuộc, được thứ tha tội lỗi
theo lượng ân sủng rất phong phú của Người.
8Ân sủng này, Thiên Chúa đã rộng ban cho ta
cùng với tất cả sự khôn ngoan thông hiểu.
9Người cho ta được biết thiên ý nhiệm mầu :
thiên ý này là kế hoạch yêu thương
Người đã định từ trước trong Đức Ki-tô.
10Đó là đưa thời gian tới hồi viên mãn
là quy tụ muôn loài trong trời đất
dưới quyền một thủ lãnh là Đức Ki-tô.
Cũng trong Đức Ki-tô,
11Thiên Chúa là Đấng làm nên mọi sự
theo quyết định và ý muốn của Người,
đã tiền định cho chúng tôi đây làm cơ nghiệp riêng
theo kế hoạch của Người,
12để chúng tôi là những người đầu tiên
đặt hy vọng vào Đức Ki-tô,
chúng tôi ngợi khen vinh quang Người.
13Trong Đức Ki-tô, cả anh em nữa
anh em đã được nghe lời chân lý
là Tin Mừng cứu độ anh em ;
vẫn trong Đức Ki-tô,
một khi đã tin, anh em được đóng ấn Thánh Thần,
Đấng Thiên Chúa đã hứa.
14Thánh Thần là bảo chứng phần gia nghiệp của chúng ta,
chờ ngày dân riêng của Thiên Chúa được cứu chuộc,
để ngợi khen vinh quang Thiên Chúa.
Tung hô Tin Mừng
- Ep 1,17-18
Ha-lê-lui-a. Ha-lê-lui-a. Xin Thân Phụ Đức Giê-su Ki-tô, Chúa chúng ta, soi trí mở lòng cho chúng ta thấy rõ, đâu là niềm hy vọng, mà ơn Người kêu gọi đem lại cho chúng ta. Ha-lê-lui-a.
Tin Mừng
Mc 6,7-13
Đức Giê-su bắt đầu sai các Tông Đồ đi rao giảng.
✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mác-cô.
7 Khi ấy, Đức Giê-su gọi Nhóm Mười Hai lại và bắt đầu sai đi từng hai người một. Người ban cho các ông quyền trên các thần ô uế. 8 Người chỉ thị cho các ông không được mang gì đi đường, chỉ trừ cây gậy ; không được mang lương thực, bao bị, tiền giắt lưng ; 9 được đi dép, nhưng không được mặc hai áo. 10 Người bảo các ông : “Bất cứ ở đâu, khi anh em đã vào nhà nào, thì hãy ở lại đó cho đến lúc ra đi. 11 Còn nơi nào người ta không đón tiếp và không nghe anh em, thì khi ra khỏi đó, hãy giũ bụi đất dưới chân để tỏ ý cảnh cáo họ.” 12 Các ông đi rao giảng, kêu gọi người ta ăn năn sám hối. 13 Các ông trừ được nhiều quỷ, xức dầu cho nhiều người đau ốm và chữa họ khỏi bệnh.
Lời nguyện tiến lễ
Lạy Chúa, Hội Thánh Chúa thành tâm cầu nguyện và dâng lên Chúa lễ vật này; xin thương đoái nhìn và làm cho trở nên của ăn bổ dưỡng giúp chúng con vững bước trên đường nên thánh. Chúng con cầu xin
Lời Tiền Tụng
Lạy Chúa là Cha chí thánh, là Thiên Chúa toàn năng hằng hữu, chúng con tạ ơn Chúa mọi nơi mọi lúc, thật là chính đáng, phải đạo và đem lại ơn cứu độ cho chúng con.
Chúng con biết rằng: vì vinh quang vô biên của Chúa, Chúa dùng thần tính mà cứu giúp chúng con là những kẻ phải chết. Hơn nữa, Chúa còn dự liệu linh dược để chữa lành bản tính phải chết của chúng con và giải thoát tất cả những ai vì mang bản tính đó mà bị hư mất, nhờ Ðức Ki-tô, Chúa chúng con.
Nhờ Người, đạo binh các Thiên thần thờ lạy uy linh Chúa, muôn đời hoan hỷ trước Tôn Nhan. Xin cho chúng con được đồng thanh với các ngài hân hoan tung hô rằng:
Thánh! Thánh! Thánh! …
Ca hiệp lễ
Tv 83,4-5
Lạy Chúa Tể càn khôn,
là Đức Vua, là Thiên Chúa con thờ,
ngay chim sẻ còn tìm được mái ấm,
cánh nhạn kia cũng làm tổ đặt con
bên bàn thờ của Chúa.
Phúc thay người ở trong thánh điện
họ luôn luôn được hát mừng Ngài.
Lời nguyện hiệp lễ
Lạy Chúa, chúng con vừa lãnh nhận hồng ân Chúa ban, xin cho chúng con mỗi khi cử hành bí tích này được hưởng dồi dào ơn cứu độ. Chúng con cầu xin …
