Aenean nec eros. Vestibulum ante ipsum primis in faucibus orci luctus et ultrices posuere cubilia curae. Suspendisse sollicitudin velit sed leo.

Chuyên mục
  • Bài giảng
  • Các loại khác
  • Chia sẻ
  • Chưa phân loại
  • GH Hoàn Vũ
  • GH Việt Nam
  • Giáo dục
  • Hạnh các Thánh
  • HĐGM Việt Nam
  • Kinh Thánh
  • Phim giáo dục
  • Phụng vụ
  • Sách
  • Suy niệm Chúa nhật
  • Suy niệm hàng ngày
  • Tài liệu giáo dục
  • Tài liệu phụng vụ
  • Thần học
  • Thánh ca
  • Thánh lễ
  • Thánh lễ trực tuyến
  • Thư chung
  • Thư viện
  • Tin tức
  • Triết học
  • Tư liệu
  • UBGD Công giáo
  • Video
From Gallery
Stay Connected
UyBanGiaoDucHDGM.net
  • Trang chủ
  • Thư chung
    • HĐGM Việt Nam
    • UBGD Công giáo
  • Tin tức
    • GH Việt Nam
    • GH Hoàn Vũ
  • Phụng vụ
    • Thánh lễ
    • Thánh lễ trực tuyến
    • Suy niệm hàng ngày
    • Suy niệm Chúa nhật
    • Tài liệu phụng vụ
  • Giáo dục
    • Chia sẻ
    • Tài liệu giáo dục
  • Thư viện
    • Sách
      • Kinh Thánh
      • Triết học
      • Thần học
      • Các loại khác
    • Video
      • Bài giảng
      • Thánh ca
      • Phim giáo dục
      • Hạnh các Thánh
      • Tư liệu
  • Liên hệ
Give Online

Tác giả: Anmai

Home / Anmai
13Tháng Bảy
2021

Có hay không một Chủ nghĩa đế quốc Công giáo?

13/07/2021
Anmai
GH Hoàn Vũ, Tin tức
0

Có hay không một Chủ nghĩa đế quốc Công giáo?

 

Bạn đã từng nghe về chủ nghĩa đế quốc Công giáo (Catholic imperialism) chưa? Đó là một huyền thoại phổ biến chống Công giáo đại loại như thế này: Các nhà truyền giáo Công giáo là những tay đế quốc đã nô lệ hóa và bần cùng hóa các dân tộc bản địa!

 

Nhưng như tất cả các huyền thoại chống Công giáo khác, đây là câu chuyện không đúng. Và đây mới là chuyện đúng và thật!

Vào Thời đại Khám phá (Age of Exploration), giữa thế kỷ XV và XVI, đã tạo nên một tình trạng chưa từng có cho Giáo Hội. Với việc khám phá những miền đất mới rộng lớn, người ta nhận ra rằng có biết bao nhiêu triệu người chưa từng biết đến sứ điệp của Đức Giêsu Kitô.

Chính Đức Giêsu đã nói khi ủy nhiệm sứ mệnh truyền giáo: “Hãy đi và làm cho các dân tộc trở thành môn đệ, giảng dạy cho họ nhân danh Cha và Con và Thánh Thần, dạy họ tuân giữ mọi điều thầy đã truyền dạy cho các con” (Mt. 28,19-20).

Vì thế các nhà truyền giáo bắt đầu chấp nhận những khó khăn và nguy hiểm của những chuyến du hành khắp thế giới vào thời ấy. Họ đi khắp hoàn cầu, theo chân các nhà khám phá và mang sứ điệp Đức Kitô đến với mọi người ở khắp mọi nơi.

Nhưng có một vấn đề: các thế lực đế quốc khác nhau – chủ yếu là Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha, Pháp, Anh, và Hà Lan – họ đã khám ra những miền đất mới và bận rộn tranh giành với nhau để thiết lập nên những thuộc địa. Mỗi quốc gia tìm kiếm lợi ích của riêng mình và không muốn rơi lại phía sau những quốc gia khác.

Điều này có nghĩa là những thế lực này cũng tranh giành và trong nhiều trường hợp đã khai thác các dân tộc bản xứ của những miền đất này. Tệ hơn nữa, nhiều nhà khai thác còn nhân danh đức tin Kitô giáo của mình để biện minh cho sự chinh phục, bóc lột và nô lệ hóa những người dân bản xứ.

Các nhà truyền giáo đã làm gì? Những người Công giáo đã phàn nàn với Đức giáo hoàng về điều mà những kẻ xâm chiếm và những người khác đang làm, và năm  1537, Đức Phaolô III đã ban hành đoản sắc Pastorale Officium, trong đó ngài nhắc lại rằng hoàng đế Charles V, vị hoàng đế thánh thiện của Rôma, đã cấm các thần dân của mình nô dịch hóa hay cướp bóc dân bản xứ trong những miền đất truyền giáo. Rồi Đức thánh cha thêm vào đấy hình phạt cao nhất của Giáo Hội là dứt phép thông công (penalty of excommunication):

Vì thế, chúng tôi cảnh báo rằng những người dân bản xứ này, mặc dù ở ngoài Giáo Hội, họ vẫn không thiếu hay bị tước đoạt quyền tự do hay quyền sở hữu tài sản của mình, vì họ là những con người và do đó họ có khả năng đức tin và ơn cứu rỗi, nên họ không phải bị tiêu diệt bằng sự nô lệ hóa mà đúng ra phải được mời gọi đến sự sống qua sự rao giảng và gương mẫu. Thêm vào đó, chúng tôi muốn ngăn chặn những hành vi đáng kinh tởm của những kẻ vô đạo đức và bảo đảm rằng những người bản xứ không quá cứng lòng để đón nhận đức tin vào Đức Kitô … chúng tôi đòi buộc rằng … hãy hết sức cẩn trọng hầu tránh được sự nghiêm khắc … của hình phạt dứt phép thông công …  bất cứ ai ở bất cứ cấp bậc nào biến những người bản xứ nói trên thành nô lệ dưới bất kỳ hình thức nào hoặc cướp bóc tài sản của họ dưới bất kỳ hình thức nào.

Đây là một trong những văn kiện của các đức giáo hoàng vào thời kỳ ấy đã đứng về phía dân bản xứ chống lại những người tìm cách áp bức họ. Các ngài nói rằng họ là những con người (nghĩa là có nhân quyền) và họ có thể quay mặt với Tin Mừng vì bị đối xử tệ. Điều này đặc biệt quan trọng bởi vì Giáo Hội luôn luôn cấm cải đạo cưỡng bách. Như giải thích của sách Giáo lý Giáo Hội Công giáo, số 160, Tin Mừng phải được đón nhận cách tự nguyện: “Để là một hành vi của con người, “đức tin mà con người đáp lại Thiên Chúa phải là tự nguyện. Do đó, không ai bị cưỡng bức phải chấp nhận đức tin trái với ý muốn. Thật vậy, tự bản chất đức tin là một hành vi tự ý“.

Như vậy Giáo Hội nhìn nhận dân bản xứ như là những con người, họ đáng được tôn trọng và có linh hồn cần được Đức Giêsu cứu rỗi. Giống như những người Âu châu, Đức Kitô đã chết cho họ, và họ phải được đối xử như mọi người khác. Như thế, Giáo Hội tìm cách giúp các dân tộc bản xứ và bảo vệ họ khỏi bị khai thác.

Mặc dù điều này cũng có hiệu quả, song rủi thay nó không có nghĩa là tất cả mọi sự khai thác đều dừng lại. Như đức giáo hoàng ngày nay không thể sai khiến các chính trị gia Công giáo đưa giáo huấn Giáo hội về các vấn đề như phá thai vào chính sách công, các giáo hoàng của thời đại ấy cũng đã có ảnh hưởng hạn chế trên các thế quyền.

Kết quả là một thời đại có cả ánh sáng lẫn bóng tối, có sự khai thác lẫn sự phát triển của Tin Mừng. Như trong mỗi thời đại, người trong thời đại ấy phải được nhìn cách đúng với thực tế. Không có gì hoàn toàn tốt, chẳng có gì xấu hoàn toàn. Giống như chúng ta, họ là những cá nhân phức tạp.

Các giáo hoàng gần đây đã nhìn nhận điều đó, gồm cả Đức Phanxicô, người đã khẳng định rằng: “Tôi nói điều này với sự tiếc nuối: chúng ta đã phạm phải nhiều trọng tội với các dân tộc bản xứ của châu Mỹ nhân danh Thiên Chúa … Giống như Đức Gioan Phaolô II, tôi xin Giáo Hội – tôi lập lại điều tôi đã từng nói – là hãy quỳ gối trước Thiên Chúa và xin tha thứ vì những tội lỗi của các con cái mình trong quá khứ và hiện tại”.

Rồi ngài tiếp tục, “Cùng với lời cầu xin tha thứ này, và để được công bằng, tôi cũng muốn chúng ta hãy tưởng nhớ đến hàng ngàn linh mục và giám mục đã mạnh mẽ chống lại lý lẽ của lưỡi gươm với quyền năng của thập giá”.

Jimmy Akin

Lm. Phaolô Nguyễn Minh Chính chuyển ngữ

Read More
13Tháng Bảy
2021

Vì sao tôi ở lại trong Giáo hội?

13/07/2021
Anmai
GH Hoàn Vũ, Tin tức
0

Vì sao tôi ở lại trong Giáo hội?

 

Vài tuần trước, sau khi có bài diễn thuyết ở một hội nghị tôn giáo, câu đầu tiên khán giả đặt ra cho tôi là: Làm sao chúng ta có thể tiếp tục ở lại trong một Giáo hội có vai trò chủ chốt trong việc lập và duy trì các trường nội trú cho người bản địa ở Canada? Làm sao chúng ta ở lại trong một Giáo hội đã làm những chuyện này?

AFP: Osservatore Romano, file photo

Câu hỏi này chính đáng và quan trọng. Cả trong lịch sử cũng như trong hiện tại, Giáo hội đã phạm đủ tội làm cho câu hỏi này trở nên chính đáng. Danh sách các tội đã phạm nhân danh Giáo hội rất dài: Tòa dị giáo, ủng hộ chế độ nô lệ, vai trò của Giáo hội trong chủ nghĩa thực dân, mối liên kết với chủ nghĩa phát xít, vai trò trong việc áp chế nữ quyền, và vô số những thỏa hiệp trước đây và hiện tại với chủ nghĩa ưu việt da trắng, tiền bạc và chính trị. Những người phê phán Giáo hội có lúc quá đáng và thiếu cân bằng, nhưng nhìn chung, rõ ràng là Giáo hội có tội.

Tuy nhiên, tội này đâu phải chỉ có nơi Giáo hội. Những tội này có thể áp dụng với bất kỳ quốc gia nào mà chúng ta đang sống. Làm sao chúng ta có thể ở lại trong một đất nước có lịch sử kỳ thị chủng tộc, chế độ nô lệ, thực dân, diệt chủng những người bản địa, bất bình đẳng giàu nghèo cùng cực, một đất nước chai đá trước những người tị nạn tuyệt vọng đang đến gõ cửa, và một đất nước mà hàng triệu người căm ghét lẫn nhau? Khi nói rằng tôi hổ thẹn vì là người công giáo (hay kitô giáo) trong khi chúng ta đang sống ở một đất nước cũng mang cùng lịch sử và tội trạng như thế, như vậy chẳng phải là kiểu đạo đức có chọn lọc hay sao?

Nhưng mà, Bởi vì Giáo hội phải là men muối cho xã hội, chứ không phải là tấm gương phản ánh xã hội, nên câu hỏi đó vẫn chính đáng. Tại sao chúng ta ở lại trong giáo hội? Có những câu trả lời biện giáo đủ tốt cho chuyện này, nhưng xét cho cùng, với mỗi người chúng ta, câu trả lời phải là một câu trả lời của riêng mỗi người. Tại sao tôi ở lại trong giáo hội?

Trước hết, vì Giáo hội là tiếng mẹ đẻ của đời tôi. Giáo hội cho tôi đức tin, dạy tôi tin vào Chúa, cho tôi lời Chúa, dạy tôi cầu nguyện, cho tôi các bí tích, cho tôi thấy các nhân đức là thế nào, và đưa tôi liên kết với những vị thánh sống. Hơn nữa, bất chấp những khiếm khuyết của mình, với tôi, Giáo hội đủ chân thực, đủ vị tha, đủ tinh tuyền để có thẩm quyền luân lý cho tôi giao phó tâm hồn mình, một tin tưởng tôi không có với bất kỳ thực thể công nào. Tôi thoải mái với chuyện thờ phượng cùng các tôn giáo khác, và chia sẻ tấm lòng với những người không có đức tin, nhưng trong giáo hội mà tôi lớn lên, tôi thấy có mái ấm và tiếng mẹ đẻ của đời tôi.

Thứ hai, lịch sử của Giáo hội đâu chỉ có một màu. Tôi nhận ra tội lỗi của Giáo hội và công khai công nhận chúng, nhưng những cái đó còn lâu mới là toàn bộ hiện thực. Giáo hội cũng là Giáo hội của các vị tử đạo, các thánh, của lòng quãng đại vô hạn, và của hàng triệu người với tấm lòng cao thượng, rộng lượng, những gương mẫu đạo đức của tôi. Tôi đứng trong bóng tối tội lỗi của Giáo hội, nhưng tôi cũng đứng trong ánh sáng diễm phúc của Giáo hội, trong mọi sự tốt đẹp mà Giáo hội đã làm suốt dòng lịch sử.

Cuối cùng, và quan trọng nhất, tôi ở lại với Giáo hội vì Giáo hội là tất cả những gì chúng ta có! Đâu còn nơi nào khác để đi. Tôi thấy cảm giác vui buồn lẫn lộn này giống với cảm giác của thánh Phêrô sau khi nghe Chúa Giêsu nói “không ai đến với Thầy được, nếu Chúa Cha không ban ơn ấy cho”, mọi người quay mặt bỏ đi rồi Chúa quay sang thánh Phêrô mà hỏi, “cả anh cũng bỏ Thầy mà đi sao?” và Phêrô, thay mặt các tông đồ, đã trả lời: “ Thưa Thầy, bỏ Thầy thì chúng con biết đến với ai? Thầy mới có những lời đem lại sự sống đời đời”.

Về căn bản, thánh Phêrô nói rằng, “Chúng con không hiểu Ngài, và những gì chúng con hiểu được thường lại là cái chúng con chẳng thích. Nhưng chúng con biết ở bên Ngài dù không hiểu, nhưng còn hơn đi bất kỳ nơi nào khác. Bất chấp những lúc tăm tối, Ngài là tất cả những gì chúng con có!”

Giáo hội là tất cả những gì chúng ta có. Chúng ta còn đi đâu được chứ? Ẩn sau câu nói, “Tôi có lòng đạo, nhưng không có tôn giáo” dù thốt ra cách chân thành đến mấy, cũng có hoặc một thất bại cùng cực, hoặc một miễn cưỡng sai trái không dám giải quyết chuyện thiết yếu của cộng đồng tôn giáo, không dám giải quyết cái mà bà Dorothy Day gọi là “chủ nghĩa khổ hạnh của đời sống Giáo hội”. Có thể nói rằng, câu “Tôi không thể hoặc sẽ không giải quyết một cộng đồng tôn giáo ô uế” chính là một lối thoát có lợi cho bản thân, một thứ đến tận cùng sẽ không hữu ích gì mấy, không chỉ cho người nói ra câu đó. Tại sao lại thế? Bởi vì để lòng cảm thương có hiệu lực, nó cần mang tính tập thể, bởi giấc mơ chúng ta mơ một mình vẫn là giấc mơ, nhưng giấc mơ chúng ta mơ cùng người khác có thể trở thành hiện thực. Tôi chẳng thể thấy có gì ngoài Giáo hội có thể cứu thế giới này.

Không có Giáo hội tinh tuyền nào để chúng ta gia nhập cả, cũng như không có quốc gia tinh tuyền nào để chúng ta chọn sống ở đó. Giáo hội này, với toàn bộ lịch sử có tốt có xấu và với hiện tại đang tổn thương của nó, chính là tất cả những gì chúng ta có. Chúng ta cần mang lấy những lỗi phạm của Giáo hội, vì chúng cũng là lỗi phạm của chúng ta. Lịch sử Giáo hội là lịch sử của chúng ta, tội của Giáo hội là tội của chúng ta, và gia đình của Giáo hội là gia đình của chúng ta, gia đình trường tồn duy nhất mà chúng ta có.

J.B. Thái Hòa dịch

Read More
13Tháng Bảy
2021

Thánh Kateri Tekakwitha – Bông huệ của dân Mohawk

13/07/2021
Anmai
Phụng vụ, Tài liệu phụng vụ
0

Thánh Kateri Tekakwitha – Bông huệ của dân Mohawk

 

Một cô gái da đỏ bán khai sống ở Bắc Mỹ vào thế kỷ 17 có một sứ điệp gửi cho chúng ta sống trong thế kỷ 21?

1656-1680

Tìm Chúa

 

Ngày 21-10-2012 tại Rôma, Đức Thánh Cha Bênêđictô XVI đã tuyên thánh cho một thiếu nữ 24 tuổi người da đỏ ở Bắc Mỹ, hoa trái của hoạt động truyền giáo của các thừa sai và tử đạo Dòng Tên.

 

Tiểu sử của chị được hai cha Dòng Tên người Pháp là Pierre Cholenec và Claude Chauchetière, phụ trách giáo điểm Kahnawake, soạn thảo ngay sau khi chị qua đời. Chị sinh năm 1656 tại làng Ossernenon, ngày nay là Auriesville, trong thung lũng Mohawk, tiểu bang New York, Hoa Kỳ.

Thung lũng Mohawk (đỏ) Miền bắc tiểu bang New York
của Hoa Kỳ, phía đông hồ Ontario, gần biên giới Canada

Vào thời của chị Tekakwitha, hầu hết các dân tộc bản địa ở khu vực Bắc Mỹ còn bán khai. Chẳng hạn họ giết và ăn thịt người. Cha chị là Kenneronkwa, một thủ lãnh Mohawk, thuộc sắc dân Iroquois, thù nghịch với sắc dân Algonquin sống trên lãnh thổ Canada ngày nay, và rất ghét đạo. Mẹ chị là Tagaskouita thuộc sắc dân Algonquin, theo đạo Công giáo, sinh trưởng và được học với các thừa sai Dòng Tên ở vùng Trois-Rivieres, trên đất Canada hiện nay. Trong một trận tấn công của dân Mohawk, bà bị bắt đem về làng Ossernenon cùng với một số người khác. Tại đây, bà kết hôn với viên thủ lãnh ngoại giáo. Hai người sinh được một con gái (là Tekakwitha) và một con trai. Lúc còn rất nhỏ, chị được mẹ kể chuyện về Chúa Giêsu và dạy đọc kinh. Năm chị 4 tuổi, một cơn dịch giết chết nhiều người trong vùng, trong đó có cha mẹ và em trai của chị. Bản thân chị bị rỗ mặt và mắt rất kém. Mồ côi, chị được cậu và hai dì nuôi dưỡng, theo thói quen mẫu hệ của dân Mohawk.

 

Sau trận dịch, cậu chị thay cha làm thủ lãnh, đưa dân làng đến định cư ở Caughnawaga, cách làng cũ gần 10 km, hiện nay là Fonda. Như các thiếu nữ Mohawk khác, chị được học may vá thêu thùa, kể cả làm dây thắt lưng bằng da thú. Chị học dệt chiếu, đan giỏ và hộp bằng sậy hay cói. Chị thông thạo chế biến thức ăn từ thú săn được hay từ nông sản. Chị cũng tham gia trồng tỉa hay nhổ cỏ theo thời vụ. Tóm lại, chị được dạy để trở nên một phụ nữ đảm đang trong gia đình. Có một điều hơi khác thường: người ta thấy cô bé Tekakwitha thường hay vào rừng một mình, không biết tại sao. Chị không quên những gì mẹ đã dạy: chị thích ở một mình để nhớ lại những điều mẹ kể và đọc các kinh mẹ dạy. Năm 13 tuổi, theo thói quen trong làng, chị được thúc giục lấy chồng, nhưng chị không chịu. Đây là điều lạ thường đối với các cô gái Mohawk.

 

Thời ấy dân Mohawk vừa thù nghịch với dân Algonquin vừa thù nghịch với người Pháp ở Canada. Tuy nhiên, họ suy yếu sau nhiều cuộc chiến và nhiều trận dịch. Năm 1673, Cha Lamberville đến dựng một nhà nguyện ở đó, vừa để giúp những người đã có đạo vừa để truyền giáo cho những người chưa theo đạo. Cậu của chị vốn ghét đạo nhưng phải chấp nhận vì sợ người Pháp. Chị đến nhà nguyện đọc kinh, dự lễ và học giáo lý. Lễ Phục Sinh năm 1674, chị được rửa tội với thánh danh Kateri, tức là thánh nữ Catarina.

 

Sau khi gia nhập Hội Thánh, chị bị chống đối mạnh mẽ từ gia đình đến dân làng. Hằng ngày chị bị trẻ em chế giễu và nhiều khi bị ném đá. Vì chị dành ngày Chúa Nhật để đi lễ và học giáo lý, không làm việc, nên gia đình không cho ăn. Chị bị đe doạ nếu không bỏ đạo sẽ bị đánh và giết. Vừa để tránh những hoạt động thù nghịch, vừa muốn hoàn toàn dâng mình cho Chúa, theo lời khuyên của cha phụ trách giáo điểm, 6 tháng sau ngày được rửa tội, chị cùng với mấy người quen trốn khỏi nhà, đi bộ hơn 2 tháng, vượt rừng vượt suối, băng qua hơn 320km đến giáo điểm Thánh Phanxicô Xaviê ở Sault Saint-Louis theo cách gọi của người Pháp, hay Kahnawake theo cách gọi của thổ dân, ngay cạnh thành phố Montreal. Giáo điểm này được các thừa sai Dòng Tên thành lập để truyền giáo cho dân Algonquin. Vào lúc thánh Kateri Tekakwitha đến, đời sống đạo ở giáo điểm đã khá ổn định. Chị đến ở nhà dài của bà Anastasia Tegonhatsiongo, một người bạn thân của mẹ chị, bên bờ sông Saint-Laurent. Cùng ở với bà Anastasia có một vài thiếu nữ khác: họ sống với nhau như một cộng đoàn nữ tu, nhưng không có tổ chức chi hết.

Kahnawake (đỏ) ở phía nam sông
Saint-Laurent, phía đông hồ Saint-Louis
bên kia sông là Montreal, thành phố
đông dân thứ nhì ở Canada hiện nay

Ngài Thuộc trọn về Chúa

 

Ở Kahnawake, ngay lập tức đời sống của chị được mọi người khen ngợi. Chị chăm chỉ đến nhà thờ đọc kinh dự lễ, nhiều khi ở một mình trước Chúa Giêsu Thánh Thể lâu giờ. Chị siêng năng lần hạt Mân Côi và lúc nào cũng đeo tràng hạt ở cổ. Chị hiền lành, ít nói, chăm làm, hay giúp đỡ người khác. Lễ Giáng Sinh năm 1677, chị được rước lễ lần đầu.

 

Khẩu hiệu của chị Kateri là: “Ai sẽ cho tôi biết điều gì đẹp lòng Chúa nhất để tôi thực hiện?” Ngoài các việc đạo đức, chị thường xuyên thăm viếng và giúp đỡ những người già cả và đau yếu trong làng. Chị cũng chỉ bảo các em bé về giáo lý và cầu nguyện theo như chị hiểu. Một thú vui của chị là trồng những cây Thánh Giá bằng gỗ trong rừng để nhắc nhở mình cũng như mọi người về việc cầu nguyện.

 

Cả ở Kahnawake, áp lực về hôn nhân vẫn còn. Ngày 25-3-1679, sau khi hỏi ý kiến cha phụ trách, chị tuyên khấn trọn đời sống khiết tịnh. Đây là điều chưa từng có trong các thổ dân địa phương. Chị muốn thuộc riêng và thuộc trọn về Chúa Giêsu. Cha Cholenec thuật lại lời chị: “Con đã suy nghĩ kỹ rồi. Con đã quyết định từ lâu rồi. Con muốn hiến thân trọn vẹn cho Chúa Giêsu, con của Mẹ Maria. Con chọn Người làm chồng, và chỉ mình Người cưới con làm vợ thôi.” Các cha đề nghị với các phụ nữ đạo đức một vài việc hãm mình nhỏ, không ngờ họ đi xa hơn nhiều. Do lòng đạo đức và quan niệm riêng, bà Anastasia hướng dẫn chị cũng như những người khác làm nhiều việc khổ chế để đền tội cho dân tộc mình và cầu nguyện cho dân tộc mình theo đạo.

 

Trong số những người bạn cùng sống ở nhà dài với chị có Maria Têrêxa Tegaiaguenta. Hai người gặp nhau lần đầu vào mùa xuân năm 1678. Vì lòng đạo đức, cả hai cùng bắt đầu bí mật đánh tội. Cha Cholenec sau này cho biết là mỗi lần họ dùng dây tua đánh tội từ 1.000 đến 1.200 cái. Chị Kateri đã thực hành như vậy hằng ngày cho đến chết. Một chị khác tên là Maria Skarichions cho biết về đời sống và hoạt động của các nữ tu. Họ quyết định cùng nhau xin cha phụ trách cho lập một dòng nữ. Các cha Dòng Tên cho là chưa thích hợp nên ngăn cản. Khi chị Maria Têrêxa rời nhóm, chị Kateri trở thành “thủ lãnh” của nhóm. Chị thường khuyên: (1) hãy can đảm, bất chấp những lời nói của những người không có đạo; (2) vững tin là chúng ta sống đẹp lòng Chúa và tôi sẽ giúp chị khi tôi lên với Chúa; (3) đừng bao giờ bỏ việc khổ chế.

 

Làng Kahnawake hiện nay

Tượng thánh Kateri Tekakwitha ở
đền Thánh Anna tại Baupré, Canada

Vì thường xuyên hãm mình và khổ chế, sức khoẻ của chị Kateri suy giảm nhanh chóng. Đến Tuần Thánh năm 1680, chị kiệt sức. Cha Cholenec thuật lại buổi chiều Thứ Tư Tuần Thánh:

“3 giờ chiều, chuông nhà nguyện đổ để tập họp cộng đoàn, vì nhiều người muốn có mặt khi chị tắt thở. Chị thấy mọi người hiện diện đông đủ. Mọi người quỳ gối cầu nguyện. Sau nửa giờ ngắn ngủi, chị nói những lời cuối cùng: ‘Iesos! Wari!’ (Giêsu! Maria!) Rồi chị hơi nhép miệng bên phải. Chị ra đi như thể nhẹ nhàng chìm vào giấc ngủ và một lúc lâu chúng tôi chưa biết chị còn sống hay đã chết. Ít phút trước 4 giờ, khuôn mặt chị biến đổi trở nên rất xinh đẹp, tươi cười và rạng rỡ… Chị đã từ giã dân làng để lại hương thơm đức hạnh và thánh thiện. Mấy tiếng sau, trong lễ đưa chân, tôi nhắc mọi người về kho báu Chúa đã tặng cộng đoàn… Chị Kateri đã chết như chị đã sống, nghĩa là một vị thánh. Ai cũng tiên đoán một người đã sống như vậy thì sẽ chết thế nào, vì chị đầy ơn Chúa Thánh Thần…”.

Trên mộ chị Kateri, các cha phụ trách cho ghi dòng chữ: “Bông hoa xinh đẹp nhất xưa nay nở giữa dân da đỏ”. Cha Chauchetiere cho xây một nhà nguyện gần mộ chị. Từ năm 1684, khách hành hương bắt đầu đến cầu nguyện với chị.

Một cô gái da đỏ bán khai sống ở Bắc Mỹ vào thế kỷ 17 có một sứ điệp gửi cho chúng ta sống trong thế kỷ 21? Dường như giữa ngài với chúng ta không có một liên hệ nào. Tuy nhiên, trong một thế giới tục hoá, giữa bao nhiêu tiến bộ khoa học và ký thuật vẫn đầy mâu thuẫn này, hình như khuôn mặt đơn sơ và thánh thiện của ngài vẫn có thể thu hút và gợi hứng cho những người đang đi tìm một cuộc sống có ý nghĩa, xây dựng một thế giới công bình và hoà bình.

 

Tượng thánh Kateri Tekakwitha ở
Vương Cung Thánh Đường Chính Tòa giáo phận Santa Fe, Mêhicô


+ Gm. Cosma Hoàng Văn Đạt, SJ

Read More
13Tháng Bảy
2021

Giám mục Mexico đăng quảng cáo tìm kiếm linh mục trừ tà

13/07/2021
Anmai
GH Hoàn Vũ, Tin tức
0

Giám mục Mexico đăng quảng cáo tìm kiếm linh mục trừ tà

 

Trong một trường hợp thật hi hữu, Đức Cha José Armando Álvarez Cano của Tampico đã đăng quảng cáo tìm kiếm một linh mục trừ tà cho giáo phận. Việc đăng quảng cáo như thế cho thấy một mức độ cấp bách của tình hình tại giáo phận này.

Một quảng cáo được đăng ngày 7 tháng 7 trên tạp chí của giáo phận cho biết nhà trừ tà phải “quan tâm đến một số tình huống đã xảy ra trong vài tháng qua tại giáo phận Tampico”.

Ấn phẩm cũng cho biết một số linh mục của giáo phận gần đây đã tham gia vào một khóa đào tạo do Tổng giáo phận Mexico tổ chức. Tuy nhiên, số các linh mục trừ tà trong giáo phận vẫn không đủ.

Trừ tà là một phương thuốc để giải thoát các nạn nhân bị quỷ nhập.

Cha Jordan Aumann, một tu sĩ dòng Đa Minh ở Miền Trung Mexico qua đời năm 2007, đã viết rằng “để trừ tà trọng thể, cần phải xác minh một cách chắc chắn thực tế của việc bị quỷ nhập và sau đó xin một lệnh khẩn cấp của vị giám mục bản quyền cho phép trừ tà”.

Ngài nói thêm rằng người trừ tà nên chuẩn bị tinh thần bằng cách xưng tội, ăn chay và cầu nguyện, và thực hiện nghi thức trong nhà thờ hoặc nhà nguyện.

Khi ma quỷ đã được xua đuổi, “người trừ quỷ nên cầu xin Chúa ra lệnh cho ma quỷ không bao giờ được nhập vào cơ thể người nó vừa mới bỏ đi. Người trừ tà nên tạ ơn Chúa và khuyên bệnh nhân được giải thoát hãy chúc tụng Chúa và cẩn thận tránh xa tội lỗi kẻo lại rơi vào sự thống trị của ma quỷ”.

(vietcatholic 12.07.2021/ catholicnewsagency)

Bài viết có thay “Mễ Tây Cơ” thành “Mexico”, so với bản tin gốc

Read More

Điều hướng bài viết

  • Previous page
  • Page 1
  • …
  • Page 1.253
  • Page 1.254
  • Page 1.255
  • …
  • Page 2.058
  • Next page
Bài viết mới nhất
THƯ GỬI SINH VIÊN, HỌC SINH CÔNG GIÁO NHÂN DỊP KHAI GIẢNG NĂM HỌC 2026 - 2027  
31/08/2026
TÂM SỰ NGƯỜI LINH MỤC.
23/07/2026
Di chúc thiêng liêng của Linh mục Phanxicô Xaviê Trương Bửu Diệp
11/07/2026
Video nổi bật
https://www.youtube.com/watch?v=Td144YDsaGo
Sự kiện sắp tới

There are no upcoming events at this time.

Ủy ban Giáo dục Công giáo – Trực thuộc Hội Đồng Giám Mục Việt Nam.

Liên hệ

72/12 Trần Quốc Toản, Phường 8, Quận 3, TP.HCM Get Directions

Phone: +84 931 436 131

Email: [email protected]

Ban chuyên môn
  • Ban Tài liệu và Truyền thông
  • Ban Giáo chức
  • Ban Kỹ năng và Giá trị sống
  • Ban Khuyến học
  • Ban Học viện Thần học
  • Ban Hội Học sinh – Sinh viên
Chuyên mục
  • Tin tức
  • Thư chung
  • Giáo dục
  • Phụng vụ
  • Thư viện
Bản quyền © 2020 thuộc về Ủy Ban Giáo Dục HĐGM VN. Design by JT.