2021
Chủng sinh thế nào, Linh Mục thế đó?
Chủng sinh thế nào, Linh Mục thế đó?
Đó là câu nói của Mẹ Teresa Calculta, nay là Thánh nữ Teresa Calculta, nói với các chủng sinh của một chủng viện trong một dịp viếng thăn Việt Nam. Phải chăng thánh nhân muốn nói đến viễn cảnh người linh mục trong tương lai ra sao tùy thuộc vào hệ tại của việc được đào tạo và tự học hỏi của các chủng sinh qua bốn chiều kích: nhân bản, thiêng liêng, tri thức và mục vụ? Trải qua các giai đoạn:
- Giai đoạn sơ tuyển:
Các ứng viên chủng sinh phải là người nam (phái tính), có ước muốn sống độc thân theo ơn gọi tu trì, có sức khỏe tốt và không có khiếm khuyết nào về tâm-sinh- lý, trình độ cao đẳng trở lên, đã có 3 năm dự tu và sinh hoạt đều đặn. Tiếp đến là trải qua thi tuyển với 3 môn: trắc nghiệm, vấn đáp và văn nghị luận. Sau thi tuyển xong, nếu đạt kết quả, các ứng sinh được gọi đi khám sức khoẻ. Sau khi hoàn tất công tác khám sức khoẻ và được điều tra cẩn thận, các ứng sinh sẽ được Toà Giám Mục công bố danh sách trúng tuyển.
- Giai đoạn Tiền Chủng Viện
Nơi đây, các ứng sinh sẽ được đào tạo 2 năm về chương trình Tu đức nói chung cũng như một số môn cần thiết theo sự hướng dẫn của Ban đào tạo (BĐT) linh mục. Đây là giai đoạn BĐT giúp các ứng viên phân định một cách cụ thể, kết hợp học sâu hơn về Giáo lý, Kinh thánh, Tu đức, rèn luyện khả năng định hình, định lượng và định tính về các chiều kích xã hội, chủ yếu là chiều kích nhân bản, chiều kích ưu tiên của việc đạo tạo ứng sinh linh mục, gọi là “nhân bản Kitô giáo”, nghĩa là “học cách làm người” và học thêm “cách làm người Kitô hữu”. Song song với việc đào tạo nhân bản là tập thich nghi với đời sống thiêng liêng và tập sống tâm tình biết “chạnh lòng thương” trong chiều kích mục vụ. Các ứng viên được đào tạo để trở nên những linh mục quản xứ, những người được sai đến với cộng đoàn giáo xứ trong tương lai, các ứng sinh không thể không biết, không thao thức, không nghĩ đến, không đụng chạm đến biết bao nhiêu vấn đề khó khăn và đa dạng mà bản thân người viết dám khẳng định dứt khoát rằng: Chỉ những ai có khả năng nội tâm “chạnh lòng thương” mới có thể phục vụ nơi các giáo xứ trong Giáo phận trong bối cảnh thực tế của xã hội ngày nay.
Sau hai năm Tiền Chủng Viện, các ứng sinh sẽ được nghỉ hè và gửi đi thực tập mục vụ tại các giáo xứ đến khoảng đầu tháng 9 sẽ nhận thông báo có được tuyển chọn vào Đại Chủng Viện hay không.
- Giai đoạn Đại Chủng Viện
Thời kỳ vào Đại chủng viện, các chủng sinh sẽ được đào tạo 2 năm gọi là 2 năm Triết, và 4 năm Thần học. Trong hai năm đầu, cũng như đã nói ở trên, các chủng sinh cũng sẽ được đào tạo với 4 chiều kích. Vì hai năm Triết, nên các chủng sinh sẽ được học về các khoá học nhập môn về Triết học, Kinh Thánh, cũng như các môn học khác theo sự sắp xếp của chương trình đào tạo. Quan trọng trong hai năm Triết, là giúp các chủng sinh có một sự học hỏi, suy tư, suy nghĩ, xác định cũng như phân định cách rõ ràng ơn gọi của bản thân ngang qua các môn Triết học. Các chủng sinh cũng phải lên lớp để lãnh hội các bài học bởi quý Cha giáo. Sau 2 năm Triết, theo Ratio mới, các chủng sinh sẽ được gửi đi thực tập tập tại các giáo xứ. Thời kỳ quan trọng để các ứng sinh xác định và phân định tu hay không tu nữa. Nếu tiếp tục thì sẽ được vào học Thần học xuyên suốt 4 năm. Sau 4 năm Thần học, các chủng sinh sẽ được gửi đi giúp xứ khoảng 6 tháng và sẽ được lãnh sứ vụ Phó tế. Khi lãnh thừa tác vụ Phó tế xong, các thầy sẽ được gửi đi thực tập mục vụ tại các giáo xứ cũng khoảng thời gian từ 6 tháng đến 1 năm. Tuy nhiên, bản thân người viết muốn trình bày một số quan điểm riêng tư hầu mong giúp các ứng sinh linh mục có cái nhìn tổng quan về chiều kích đào tạo và tự đào tạo nhằm trở nên những linh mục như lòng Chúa mong ước cũng như Giáo hội mong chờ.
3.1. Chiều kích nhân bản: Vì là nhân vô thập toàn, nhưng vẫn được chọn gọi vào Đại chủng viện, các chủng sinh phải được đào tạo về đời sống nhân bản, về lối sống, về cung cách cư xử của một linh mục tương lai đối với mọi người mà mình gặp gỡ trên đường sứ vụ. Như thế, một chủng sinh thiếu nhân bản thì sẽ trở thành một linh mục rất nguy hại cho sứ vụ tương lai. Chẳng hạn: ăn nói cộc lốc, thiếu tế nhị, nóng nảy, hỗn láo với bề trên cũng như với anh em, thiếu hoà đồng, thiếu thân thiện, thiếu cởi mở, hoặc hay cố chấp, hận thù, ghen ghét, nói hành nói xấu, kênh kiệu, oai phong, tự cao tự đại, thích thể hiện chính mình, chạy theo hàng hiệu từ xe máy xịn, quần áo, đồ dùng và điện thoại, cá mè một lứa,…Có lần bản thân người viết đã nghe một chủng sinh mới vào học năm Triết 1, tức là lớp C đã phát biểu với anh em lớp A: “đã vào chủng viện rồi thì thằng nào cũng là thầy, nó sợ thằng mô cả!”. Một câu nói vô tình hay hữu ý của chủng sinh kia phản ảnh đời sống nhân bản của anh ta. Và tương lai, anh ta chắc sẽ không sợ ai cả nếu được làm linh mục. Coi trời bằng vung. Cứ tưởng là đậu chủng viện là nhất, là giỏi, là thông minh hơn người. Mới chủng sinh mà đã có thái độ thể hiện quyền lực, oai phong và kẻ cả, thì đừng hỏi tại sao tồn tại những linh mục như vậy. Đối với bề trên, có thể một số chủng sinh vâng lời trước mặt nhưng phía sau lưng và vắng mặt thì sống khác, không muốn nói là tỏ thái độ nói xấu và bất tuân phục. Mặt khác, đối với anh em, nhiều chủng sinh đã thích sống thể hiện trước mặt anh em: có thể gia đình có điều kiện, hoặc có cha bố giàu có, có thể có ân nhân giúp đỡ. Cũng có nhiều chủng sinh dính vào các đam mê: nghiện chơi cờ, hút thuốc lá nhiều, nhậu nhẹt không thua người ngoài. Chủng sinh sống như thế thì đừng hỏi tại sao linh mục nghiện cờ quên dâng lễ hay không dâng lễ; vẫn tồn tại những linh mục hút thuốc ngay trước khi chuẩn bị dâng lễ và ngay sau khi lễ xong; cũng đừng ngạc nhiên khi có nhiều linh mục rơi vào tình trạng nghiện rượu và hậu quả sau đó thì không kể nổi. Chủng sinh thế nào, linh mục thế đó cũng không sai lắm.
3.2. Chiều kích thiêng liêng: Đây là chiều kích quan trọng đối với người ki-tô hữu nói chung, và đối với chủng sinh linh mục nói riêng. Không thể là linh mục thánh thiện nếu một chủng sinh không bao giờ dành thời gian suy gẫm riêng trước Thánh Thể. Quả thật, ngoài việc tham dự các giờ kinh chung, thánh lễ chung, người chủng sinh nên có những khoảnh khắc riêng tư trong ngày để suy niệm Lời Chúa và gặp Chúa Giê-su trước Nhà tạm. Nếu trong khoảng 10 năm được đào tạo tại Đại chủng viện, người chủng sinh cứ duy trì thói quen đó, thì chắc chắn nếu Chúa muốn sẽ trở thành một linh mục cầu nguyện và thánh thiện. Ngược lại, nếu một chủng sinh không quan tâm hay chểnh mảng chiều kích thiêng liêng như khô khan, lười biếng, bỏ kinh, bỏ suy niệm, bỏ bê giờ viếng Thánh Thể sau giờ nghỉ trưa, thì sẽ báo hiệu cho một linh mục không sốt sắng, thiếu đời sống cầu nguyện và khô khan nguội lạnh trong khi thi hành sứ vụ. Đời sống cầu nguyện là linh hồn của người linh mục tương lai, nên chủng sinh không được phép bỏ bê đời sống cầu nguyện và gặp gỡ Chúa mỗi ngày. Nhờ có đời sống cầu nguyện chuyên sâu và thánh thiện, người linh mục dễ dàng thi hành mục vụ cách vui vẻ và bình an. Hơn nữa, để trở thành người trao ban của Thánh và là nhà chuyên môn về đời sống cầu nguyện, người chủng sinh luôn luôn và bắt buộc phải bó mình theo một chương trình cụ thể và nghiêm túc trong chiều kích thiêng liêng này. Vì thế, thái độ uể oải, chán chường, ngủ gật trong các giờ kinh nguyện hay thánh lễ, không đúng giờ đúng giấc kéo dài trong thời gian đào tạo nơi người chủng sinh sẽ rất nguy hại cho một linh mục tương lai của Giáo hội. Vì thế đừng đòi hỏi một linh mục thánh thiện, yêu mến đời sống cầu nguyện, thầy dạy cầu nguyện đúng nghĩa nơi một chủng sinh có những thái độ sống như thế. Chủng sinh thế nào, linh mục thế đó là không sai!
3.3. Chiều kích tri thức: Việc học tập ở Chủng viện cũng quyết định rất lớn cho sứ vụ tương lai của ứng sinh linh mục. Bài học rất nhiều với khả năng thuyết giảng của các Cha giáo, các chủng sinh phải nỗ lực hết mình để đón nhận và cố gắng đọc sách, tìm tài liệu để hiểu rõ vấn đề hơn. Miệt mài đèn sách là điều cần thiết cho các chủng sinh. Khi lên lớp để tham gia các khoá học, nếu không để ý hay ngủ gật nhiều, chủng sinh sẽ bị hổng kiến thức vì không ai dạy lại cho mình nữa. Hoặc chỉ học qua ở lớp mà không chịu đọc lại, tìm hiểu đi tìm hiểu lại bài học đã thụ huấn thì chủng sinh khó nắm vấn đề chắc chắn cho sứ vụ của mình. Quý Cha giáo sư chỉ là người giúp mình khai mở vấn đề, chỉ giúp mình biết cách mở phong bì, còn khám phá bên trong phong bì là chuyện của các chủng sinh. Nên các chủng sinh phải cố gắng để lắng nghe, chăm chỉ đọc sách ở nhà cũng như tại thư viện để bổ sung thêm kiến thức cho các bài học. Quả thật, thời đại @ là thời đại tri thức, giáo dân đa số hiểu biết nhiều, được học hành cao rộng, nên đòi hỏi các linh mục cũng phải có kiến thức, chưa muốn nói là uyên thâm về các chuyên môn. Nhưng làm sao có được những linh mục như thế, nếu trong thời gian đào tạo các chủng sinh không chịu học bài, không để ý các Cha Giáo sư giảng dạy, hoặc bỏ giờ, hoặc ngủ gà ngủ gật trong giờ học, không dành thời gian đọc sách, nghiên cứu kỹ càng các bài học,…
3.4. Chiều kích mục vụ: Đây là chiều kích thứ 4 trong 4 chiều kích đào tạo các chủng sinh trở thành linh mục tương lai. Chiều kích này liên quan đến sứ vụ mục vụ, vai trò làm cha quản xứ và người lãnh đạo cộng đồng. Ngoài các bài khoá liên quan đến chiều kích mục vụ, các chủng sinh được mời gọi phải quan tâm, thao thức và lưu ý đến con người, đối tượng mà các thầy sẽ đối diện không chỉ trong thời gian đào tạo, về hè, về tết, khi đi giúp xứ và cụ thể khi là linh mục quản xứ. Trong chiều kích mục vụ tương lai các thầy đối diện sẽ có rất nhiều mặt, nhiều vấn đề: mục vụ gia đình, mục vụ truyền giáo, mục vụ di dân, mục vụ giới trẻ – thiếu nhi, mục vụ bệnh nhân, mục vụ các hội đoàn,…nên các chủng sinh phải có sự chuẩn bị ngay trong thời gian đào tạo. Nếu muốn trở nên linh mục vững vàng trong công tác mục vụ tại các giáo xứ, người chủng sinh không được lơ là, không hay biết, không quan tâm và vô cảm đối với chiều kích mục vụ. Vì thế, ngoài các giờ lên lớp, gặp gỡ, đối thoại về chiều kích mục vụ, các chủng sinh nên dành thời gian đọc sách, nghiên cứu, cầu nguyện, thao thức liên tục về tất cả đối tượng mà mình sẽ được giao phó trong tương lại. Đừng đòi hỏi nơi một linh mục luôn chậm chạp, không thành công trong mục vụ, khi thấy một chủng sinh ù lì, chậm chạp và không quan tâm đến con người, nhất là người nghèo. Đừng lạ lùng khi nhìn thấy một số vị linh mục sống quan liêu, độc quyền, ‘làm vua’ một cõi, vì nơi chủng sinh trước đó thích được phục vụ, thích được ‘suy tôn’, thích làm oai, thích thể hiện, thích ‘làm quan’ – ‘làm vua’. Như vậy, nơi một chủng sinh ươn lười, không chịu khó, hay phàn nàn, kêu ca, không nhiệt huyết, bỏ trốn công việc, chọn việc nhẹ nhàng, không chịu sửa đổi hay thay đổi tính cách, thì chúng ta sẽ dễ dàng bắt gặp một linh mục không nhiệt huyết và không hăng say loan báo Tin mừng cũng như trở thành rào cản trong việc rao giảng Tin mừng cho muôn dân. Đúng là chủng sinh thế nào, linh mục thế đó.
Qua cái nhìn tổng quát về 4 chiều kích đào tạo những ứng sinh linh mục tương lai ở trên, bản thân người viết hoàn toàn không có ý phê phán hay chỉ trích ai cả, nhưng thiển ý muốn góp chút nhỏ mọn ý kiến cá nhân nhằm thức tỉnh, thôi thúc, nhắc nhở và góp ý cho công việc đào tạo linh mục trong bối cảnh hôm nay. Với cái nhìn thực tế, người viết xin mãn phép được đưa ra những mặt trái, những điểm chưa thuận lợi trong quá trình được đào tạo để các ứng sinh linh mục tương lai chăm chú hơn và quyết tâm hơn hầu trở nên những linh mục như lòng Chúa mong ước. Mong rằng để trở thành những linh mục thánh thiện, những linh mục của đời sống cầu nguyện, những linh mục đạo đức, những linh mục thành công trong mục vụ, một linh mục nhiệt huyết nhiệt thành sẵn sàng lên đường đi truyền giáo khi Bề trên yêu cầu, tiên vàn đòi hỏi các chủng sinh, những người đang được thụ huấn tại môi trường Chủng viện phải ý thức mình là ai, mình sẽ là ai và mình phải làm gì, phải sống như thế nào, phải thay đổi tính cách như thế nào, phải rèn luyện các nhân đức nào, phải dành thời cầu nguyện như thế nào. Khi đặt ra được những câu hỏi như thế là cơ hội giúp các chủng sinh nhìn lại mình để nỗ lực hết mình và cậy dựa vào ơn Chúa ban nhằm trở nên những linh mục như lòng Chúa mong ước trong tương lai. Nhờ đó, các chủng sinh thế nào thì linh mục sẽ thế ấy!
Linh mục Phaolô Phạm Trọng Phương
2021
Dịch bệnh và Lời nguyện từ Kinh Thánh
Dịch bệnh và Lời nguyện từ Kinh Thánh
Kinh Thánh chứa đầy những lời nguyện khấn xin Thiên Chúa bảo vệ con người trước dịch bệnh hoành hành.
Kinh Thánh thường hay đề cập đến những tai ương, dịch bệnh, và con người kêu cầu Thiên Chúa bảo vệ họ mỗi khi chúng xuất hiện. Cầu nguyện là phản ứng tiên khởi của nhiều người trong Kinh Thánh, vì họ biết rằng Thiên Chúa có quyền giải thoát họ khỏi đau khổ, nếu điều đó nằm trong ý định của Người.
Dưới dây là vài lời nguyện ngắn từ Kinh Thánh có thể giúp chúng ta cầu nguyện trong cơn đại dịch đang diễn ra hiện nay.
XIN NGÀI THÔI ĐỪNG ĐÁNH CON NỮA, TAY NGÀI GIÁNG XUỐNG, THÂN NÀY NÁT TAN (Thánh Vịnh 39,11).
LẠY ĐỨC CHÚA, THIÊN CHÚA CỦA CON, XIN TAY NGÀI CỨ ĐÈ NẶNG TRÊN CON VÀ NHÀ CHA CON, NHƯNG XIN ĐỪNG GIÁNG HOẠ XUỐNG DÂN NGÀI! (1 Sử Biên Niên 21,17).
CHÍNH CHÚA GÌN GIỮ BẠN KHỎI LƯỚI KẺ THÙ GIĂNG, KHỎI TAI ƯƠNG TÀN KHỐC (Thánh Vịnh 91,3).
LẠY CHÚA, XIN ĐOÁI THƯƠNG, NÀY CON ĐANG KIỆT SỨC, CHỮA LÀNH CHO, VÌ GÂN CỐT RÃ RỜI (Thánh Vịnh 6,3).
LẠY CHÚA, XIN THƯƠNG XÓT VÀ CHỮA LÀNH CON, QUẢ THẬT CON ĐẮC TỘI VỚI NGÀI (Thánh Vịnh 41,5).
LẠY ĐỨC CHÚA, XIN CHỮA LÀNH CON, ĐỂ CON ĐƯỢC CHỮA LÀNH, XIN CỨU THOÁT CON, ĐỂ CON ĐƯỢC CỨU THOÁT, VÌ VINH DỰ CỦA CON CHÍNH LÀ NGÀI! (Giêrêmia 17,14).
THƯA NGÀI, TÔI CHẲNG ĐÁNG NGÀI VÀO NHÀ TÔI, NHƯNG XIN NGÀI CHỈ NÓI MỘT LỜI LÀ ĐẦY TỚ TÔI ĐƯỢC KHỎI BỆNH. (Mátthêu 8,8).
* Ghi chú: Bản dịch Kinh Thánh của Nhóm Các Giờ Kinh Phụng Vụ, ấn bản 2011.
Tác giả: Philip Kosloski
Nguồn: aleteia.org
2021
ĐTC ban hành Tự sắc “Traditionis custodes” về cử hành Thánh lễ theo phụng vụ tiền Công đồng
ĐTC ban hành Tự sắc “Traditionis custodes” về cử hành Thánh lễ theo phụng vụ tiền Công đồng
Sáng thứ Sáu 16/7/2021, Đức Thánh Cha Phanxicô ban hành Tự sắc “Traditionis custodes- Những người gìn giữ truyền thống”, quy định về việc cử hành Thánh lễ theo nghi thức phụng vụ Latinh cũ, tiền Công đồng.
Mater Dei Latin Mass Parish, Flickr, CC BY-NC-ND 2.0
Sau khi tham khảo ý kiến của các Giám mục trên thế giới, Đức Thánh Cha Phanxicô đã quyết định sửa đổi các quy tắc quy định việc sử dụng Sách lễ Roma năm 1962, do vị tiền nhiệm của ngài, Đức nguyên Giáo hoàng Biển Đức XVI ban hành cách đây 14 năm, như “Nghi thức ngoại thường của Sách lễ Roma”.
Hôm thứ Sáu 16/7/2021, Đức Thánh Cha đã cho công bố Tự sắc “Traditionis custodes- Những người gìn giữ truyền thống”, về việc sử dụng phụng vụ Roma trước năm 1970, kèm theo đó là lá thư của ngài, giải thích lý do về những quyết định này. Sau đây là những điểm mới chính:
Vai trò của Giám mục giáo phận
Trách nhiệm quy định việc cử hành theo nghi thức trước Công đồng thuộc về Giám mục, người điều hành đời sống phụng vụ của Giáo phận: “Chỉ Giám mục giáo phận mới có thẩm quyền cho phép sử dụng Sách lễ Roma năm 1962 trong giáo phận, theo hướng dẫn của Tòa Thánh”. Giám mục sẽ phải biết chắc rằng các nhóm đã cử hành Sách lễ xưa “không phủ nhận tính hợp lệ và hợp pháp của cải cách phụng vụ, của Công đồng Vatican II và Huấn quyền của các Giáo hoàng”.
Tại các giáo xứ, sẽ không còn Thánh lễ được cử hành theo Sách lễ năm 1962. Các Giám mục sẽ thiết lập các nơi và những ngày cử hành. Các bài đọc phải được công bố bằng “ngôn ngữ địa phương” sử dụng các bản dịch đã được Hội đồng Giám mục chấp thuận. Chủ tế sẽ là một linh mục được Giám mục ủy nhiệm. Sau đó, cũng đánh giá xem liệu có nên giữ lại các cử hành theo cử hành phụng vụ trước công đồng Vatican theo “hiệu quả của chúng cho sự tăng trưởng thiêng liêng” hay không. Thực tế, điều cần thiết là linh mục được chỉ định không chỉ quan tâm đến việc cử hành phụng vụ một cách trang nghiêm, nhưng còn phải chăm sóc mục vụ và thiêng liêng cho các tín hữu. Giám mục “sẽ lưu ý không cho phép thành lập các nhóm mới”.
Linh mục cử hành Thánh lễ theo phụng vụ tiền Công đồng phải có phép của Giám mục
Các linh mục được thụ phong sau khi Tự sắc được công bố có ý định cử hành phụng vụ theo Sách lễ trước Công đồng “phải trình một yêu cầu chính thức lên Giám mục giáo phận, và Giám mục, trước khi cho phép, sẽ hỏi ý kiến Tòa Thánh”. Trong khi đó, các linh mục đã cử hành Thánh lễ theo nghi thức trước Công đồng sẽ phải xin phép Giám mục giáo phận để tiếp tục sử dụng. Các Tu hội thánh hiến và các Tu đoàn tông đồ được Ủy ban Tòa Thánh “Ecclesia Dei” thiết lập thuộc thẩm quyền của Bộ Tu sĩ. Bộ Phụng tự và Kỷ luật Bí tích và Bộ Tu sĩ sẽ giám sát việc chấp hành các quy định mới này.
Trong thư gửi kèm theo văn kiện, Đức Thánh Cha Phanxicô giải thích rằng những nhượng bộ do các vị tiền nhiệm của ngài thiết lập để sử dụng sách lễ xưa chủ yếu được thúc đẩy “bởi mong muốn ủng hộ việc hàn gắn cuộc ly giáo với phong trào của Đức Tổng Giám mục Lefebvre”. Đức Thánh Cha mong muốn các Giám mục đón nhận quảng đại “nguyện vọng chính đáng” của các tín hữu, những người đã yêu cầu sử dụng sách lễ đó, do đó “có một lý do để Giáo hội tái thiết lập sự hiệp nhất của Giáo hội”. Đức Thánh Cha nhận xét rằng, “nhiều người trong Giáo hội coi năng quyền này là cơ hội để chấp nhận tự do sử dụng Sách lễ Roma do Thánh Piô V ban hành, và sử dụng nó song song với Sách lễ Roma do Thánh Phaolô VI công bố”.
Đức Thánh Cha nhắc lại rằng quyết định của Đức nguyên Giáo hoàng Biển Đức XVI với Tự sắc “Summorum Pontificum” (2007) được ủng hộ bởi “niềm tin rằng điều khoản này sẽ không gây nghi ngờ đối với một trong những quyết định thiết yếu của Công đồng Vatican II, hoặc làm suy yếu thẩm quyền của Công đồng”. Cách đây 14 năm, Đức nguyên Giáo hoàng Biển Đức XVI đã tuyên bố rằng nỗi sợ hãi về sự chia rẽ trong các cộng đoàn giáo xứ là vô căn cứ, bởi vì, “hai hình thức sử dụng Nghi lễ Roma sẽ làm phong phú lẫn nhau”.
Vì sự hiệp nhất trong Giáo hội
Theo Đức Thánh Cha, cuộc thăm dò gần đây do Bộ Giáo lý Đức tin thực hiện giữa các giám mục cho thấy, “một tình huống khiến tôi bận tâm và lo lắng, thuyết phục tôi cần thiết phải can thiệp”. Đức Thánh cha nói rằng: mong muốn hiệp nhất của Đức Giáo hoàng Biển Đức XVI đã bị “bỏ qua nghiêm trọng”, và những nhượng bộ được đưa ra với sự đại lượng đã bị lợi dụng “để gia tăng khoảng cách, tăng cường sự khác biệt, gây nên những bất đồng làm tổn thương Giáo hội và cản trở sự tiến triển của Giáo hội, khiến Giáo hội có nguy cơ chia rẽ”.
Đức Thánh Cha nói rằng ngài “rất buồn vì sự lạm dụng trong các cử hành phụng vụ ở tất cả các bên”. Bên cạnh đó, ngài cũng nêu rõ thực tế là “việc sử dụng công cụ Sách Lễ Roma năm 1962, thường được đặc trưng bởi sự từ chối không chỉ cải cách phụng vụ, mà cả Công đồng Vatican II, với sự khẳng định vô căn cứ và không bền vững rằng Công đồng đã phản bội Truyền thống và ‘Giáo hội đích thực’”. Đức Thánh Cha giải thích rằng khi hồ nghi Công đồng, có nghĩa là nghi ngờ chính ý định của các Giáo phụ, và cuối cùng hồ nghi chính Thánh Thần, Đấng đang hướng dẫn Giáo hội.
Đức Thánh Cha cho biết thêm một lý do cuối cùng cho quyết định sửa đổi những nhượng bộ trong quá khứ: “Càng ngày thấy rõ trong lời nói và thái độ của nhiều người về mối quan hệ chặt chẽ giữa việc lựa chọn cử hành theo các sách phụng vụ trước Công đồng Vatican II và việc từ chối Giáo hội và các tổ chức của Giáo hội nhân danh cái mà họ coi là ‘Giáo hội đích thực’. Đây là một hành vi mâu thuẫn với sự hiệp thông, thúc đẩy sự chia rẽ … điều Thánh Phaolô đã phản ứng mạnh mẽ. Chính vì để bảo vệ sự hiệp nhất của Thân thể Đức Kitô mà tôi buộc phải hủy bỏ năng quyền đã được ban cho từ các vị Tiền nhiệm của tôi”.
Ngọc Yến
2021
ĐTC nói với các tu sĩ Phanxicô: “Người nghèo và người bị loại trừ là thầy của anh em!”
ĐTC nói với các tu sĩ Phanxicô: “Người nghèo và người bị loại trừ là thầy của anh em!”
Đức Thánh Cha đã gửi sứ điệp cho các tham dự viên Tổng tu nghị dòng Phanxicô diễn ra tại Roma từ ngày 3 đến 18/7, nhắc nhở họ rằng gặp gỡ người nghèo giúp thay đổi cái nhìn của chúng ta và hướng tới tương lai của Thiên Chúa. Hãy đón nhận người nghèo và người bị loại trừ bởi vì họ là thầy của chúng ta.
ĐTC gặp các tu sĩ Phanxicô tại cộng đoàn Marche vào năm 2019 (Vatican Media)
Trước hết Đức Thánh Cha chào các tham dự viên, chào cha Michael Perry, vừa kết thúc nhiệm kỳ Tổng Phục vụ, và chúc mừng cha Massimo Giovanni Fusarelli, tân Tổng Phục vụ, và gửi lời chào đến các cộng đoàn dòng Phanxicô trên toàn thế giới.
Giữa bối cảnh đại dịch, Dòng có thể tổ chức tổng tu nghị với sự hiện diện của các tu sĩ của Dòng, theo Đức Thánh Cha, đây là lý do để ngợi khen và tạ ơn Chúa.
Phân tích chủ đề của tổng tu nghị, “Canh tân tầm nhìn của chúng ta. Hãy đón nhận tương lai của chúng ta”, theo câu Kinh Thánh “Tỉnh giấc đi… và Đức Kitô sẽ chiếu sáng ngươi”, Đức Thánh Cha nhận định ý tưởng của chủ đề bắt nguồn từ mầu nhiệm phục sinh, bởi vì sẽ không có canh tân và tương lai nếu không trong Chúa Ki-tô.
Người nghèo và người rốt cùng – dấu chỉ và bí tích sự hiện diện của Thiên Chúa
Trước hết, “canh tân tầm nhìn”, điều cũng đã xảy ra với chàng trai trẻ Phanxicô Assisi. Cuộc gặp gỡ với những người phong cùi đã thay đổi thánh nhân. Đức Thánh Cha nói: “Ở cội nguồn đời sống thiêng liêng của anh em là cuộc gặp gỡ với những người rốt cùng và đau khổ nhất, trong dấu hiệu của việc ‘thực thi lòng thương xót’. Thiên Chúa đã chạm vào trái tim của Phanxicô qua lòng thương xót dành cho người anh em, và tiếp tục chạm đến trái tim của chúng ta qua cuộc gặp gỡ với những người khác, đặc biệt là với những người khốn khó nhất. Việc đổi mới nhãn quan của anh em chỉ có thể bắt đầu từ cái nhìn mới này để với nó anh em chiêm ngắm người anh em nghèo và bị gạt ra ngoài lề xã hội, một dấu chỉ, gần như là một bí tích về sự hiện diện của Thiên Chúa”.
Sức mạnh canh tân từ Chúa Thánh Thần
Tiếp tục sứ điệp, Đức Thánh Cha nhấn mạnh rằng “sức mạnh canh tân mà anh em cần phát xuất từ Thần khí của Thiên Chúa, từ hoạt động thánh thiện”. “Thần Khí đó đã biến đổi sự cay đắng của cuộc gặp gỡ của thánh Phanxicô với người phong cùi thành điều ngọt ngào, ngày nay vẫn hoạt động để ban cho mỗi người trong anh em sự tươi mới và năng lực nếu anh em để mình được đánh động bởi những người rốt cùng của thời đại chúng ta.”
Từ đó, Đức Thánh Cha khuyến khích các tu sĩ Phanxicô “ra đi gặp gỡ những người nam nữ đau khổ về tâm hồn và thể xác, bằng sự hiện diện khiêm tốn và huynh đệ, không cần những bài diễn văn hùng hồn, nhưng hãy làm cho họ cảm thấy sự gần gũi của những người hèn mọn”.
Nhận được sự đổi mới và hồi sinh từ sự gần gũi với người nghèo
Cuối sứ điệp, Đức Thánh Cha nhắc nhở các tu sĩ Phanxicô, khi nhiều nơi trong Dòng đang đối mặt với thách thức về giảm số tu sĩ và sự già nua, đừng để lo lắng và sợ hãi ngăn cản họ mở lòng và trí óc để đón nhận sự đổi mới và hồi sinh mà Thánh Linh của Thiên Chúa đánh thức trong họ và giữa họ. Ngài nhấn mạnh: “Đừng quên rằng chúng ta nhận được một cái nhìn đổi mới, có khả năng mở ra cho chúng ta tương lai của Thiên Chúa, từ sự gần gũi với người nghèo, những nạn nhân của chế độ nô lệ hiện đại, những người tị nạn và những người bị loại trừ khỏi thế giới này, họ là những người thầy của anh em. Hãy ôm lấy họ như thánh Phanxicô đã làm!” (CSR_5061_2021)
Hồng Thủy
