2021
Tông thư: “Traditionis Custodes” về việc sử dụng Nghi Thức Thánh Lễ Rôma trước cuộc Cải tổ năm 1970
TÔNG THƯ
BAN HÀNH DƯỚI DẠNG TỰ SẮC
CỦA ĐỨC THÁNH CHA PHANXICÔ
“TRADITIONIS CUSTODES”
về việc sử dụng Nghi Thức Thánh Lễ Rôma
trước cuộc Cải tổ năm 1970
Là những người giữ gìn truyền thống, các giám mục đang hiệp thông với Giám mục Rôma làm nên nguyên lý hữu hình và nền tảng của sự hợp nhất nơi các Hội thánh địa phương[1]. Dưới sự hướng dẫn của Chúa Thánh Thần, qua việc loan báo Tin Mừng và nhờ việc cử hành Thánh Thể, các ngài lãnh đạo các Hội thánh địa phương đã được trao phó cho các ngài[2].
Để cổ võ sự thông hảo và hợp nhất trong Hội Thánh, với mối quan tâm của tấm lòng hiền phụ đối với những người ở các địa phương vẫn còn gắn bó với những dạng thức phụng vụ trước thời kỳ cải tổ theo Công đồng Vatican II, các vị tiền nhiệm đáng kính của tôi, là thánh Gioan-Phaolô II và Đức Bênêđictô XVI, đã chấp thuận và hợp thức hóa năng quyền sử dụng Sách Lễ Rôma theo ấn bản năm 1962 của Đức Gioan XXIII[3]. Qua đó các ngài muốn “tạo điều kiện dễ dàng cho sự hiệp thông với Hội thánh nơi những tín hữu công giáo còn cảm thấy gắn bó đối với một số dạng thức phụng vụ đã có trước đây” nhưng không phải đối với những vấn đề khác[4].
Trong ý hướng của vị tiền nhiệm đáng kính của tôi là Bênêđictô XVI, muốn mời gọi các giám mục nhận định về việc áp dụng Tự sắc Summorum Pontificum sau 3 năm được phổ biến, Bộ Giáo lý Đức tin trong năm 2020 đã thực hiện việc tham khảo ý kiến chi tiết của các giám mục. Kết quả cuộc tham khảo đã được nghiệm xét cẩn thận trong ánh sáng của kinh nghiệm đã kết thành trong những năm vừa qua.
Giờ đây, theo ước nguyện của hàng giám mục và sau khi lắng nghe ý kiến của Bộ Giáo lý Đức tin, tôi công bố Tông thư này với ý muốn nhấn mạnh hơn bao giờ hết về thái độ không ngừng tìm kiếm sự hợp nhất trong Hội thánh. Vì thế, tôi thấy cần phải thiết lập các quy định sau đây:
Điều 1. Các sách phụng vụ được ban hành do Thánh Phaolô VI và thánh Gioan-Phaolô II, phù hợp với các sắc lệnh của Công đồng Vatican II, là cách thể hiện duy nhất của lex orandi trong Nghi lễ Rôma.
Điều 2. Trong cương vị là người điều hành, cổ võ và bảo vệ toàn bộ đời sống phụng vụ nơi Hội thánh địa phương đã được trao phó cho ngài[5], giám mục giáo phận có bổn phận đưa ra những quy định về các cử hành phụng vụ trong giáo phận[6]. Vì thế, chỉ riêng ngài có quyền cho phép sử dụng Sách Lễ Rôma 1962 trong giáo phận của ngài, theo sự hướng dẫn của Tòa thánh.
Điều 3. Nếu hiện giờ trong giáo phận đang có một hoặc nhiều nhóm cử hành theo Sách Lễ trước cuộc cải tổ năm 1970, giám mục giáo phận phải:
- 1. xác định rõ là các nhóm đó không được chối bỏ tính cách thành sự và hợp pháp của công cuộc cải tổ phụng vụ theo chỉ thị của Công đồng Vatican II và Huấn quyền của các giáo hoàng;
- 2. chỉ định một hoặc nhiều địa điểm cho các tín hữu thuộc những nhóm này có thể quy tụ để cử hành Thánh Thể (tuy nhiên không được chọn các nhà thờ giáo xứ và không được lập những giáo xứ tòng nhân mới);
- 3. ấn định các ngày cử hành Thánh Thể tại những nơi đã được chỉ định, trong đó được phép sử dụng Sách Lễ Rôma do thánh Gioan XXIII ban hành năm 1962[7]. Trong các cử hành này, đọc các bài đọc trong ngôn ngữ địa phương, dùng bản dịch Kinh Thánh đã được các Hội đồng Giám mục phê chuẩn để sử dụng trong phụng vụ;
- 4. bổ nhiệm một linh mục đại diện giám mục, phụ trách việc cử hành và chăm lo mục vụ cho các nhóm tín hữu này. Linh mục được bổ nhiệm phải thích hợp với trách nhiệm này, thành thạo trong việc sử dụng Sách Lễ Rôma có trước cuộc cải tổ năm 1970, biết tiếng Latinh đủ để thấu hiểu luật chữ đỏ và các bản văn phụng vụ, đồng thời cũng đầy nhiệt tình mục vụ và cảm thức về mối hiệp thông trong Hội thánh. Linh mục này phải luôn chủ tâm không chỉ cử hành phụng vụ đúng luật, mà còn lo chăm sóc đời sống mục vụ và tu đức của các tín hữu.
- 5. nhận định chính xác để xét xem các giáo xứ được thiết lập theo giáo luật vì lợi ích của các tín hữu này, có thực sự hữu hiệu cho sự tăng triển trong đời sống thiêng liêng của họ không, và xác định xem có nên giữ lại các giáo xứ như vậy không;
- 6. lưu ý không cho phép lập thêm các nhóm mới.
Điều 4. Các linh mục chịu chức sau thời điểm công bố Tự sắc này, nếu muốn cử hành theo Sách Lễ Rôma 1962, phải có thỉnh nguyện thư chính thức gửi cho giám mục giáo phận, giám mục sẽ lĩnh ý Tòa Thánh trước khi cho phép.
Điều 5. Các linh mục đã từng cử hành theo Sách Lễ Rôma 1962, phải xin giám mục giáo phận cho phép tiếp tục hưởng năng quyền này.
Điều 6. Các Tu hội sống đời thánh hiến và các Hiệp hội đời sống tông đồ, đã do Ủy ban Giáo hoàng Ecclesia Dei thiết lập, nay trực thuộc thẩm quyền của Bộ Đời sống thánh hiến và Hiệp hội Đời sống tông đồ.
Điều 7. Bộ Phụng tự và Kỷ luật các Bí tích, cùng với Bộ phụ trách Đời sống thánh hiến và Hiệp hội Đời sống tông đồ, đối với những vấn đề thuộc thẩm quyền riêng của mỗi Bộ, thi hành theo quyền Tòa Thánh và quan tâm đến việc tuân thủ các điều đã dự liệu ở đây.
Điều 8. Các quy định, huấn thị, các điều đã được cho phép và cách thực hành trước đây, nếu không phù hợp với những điều được dự liệu trong Tự sắc này, đều bị hủy bỏ.
Từng điều được tuyên bố trong Tông Thư dưới dạng Tự sắc này, tôi truyền phải tuân thủ trọn vẹn, những điều trái nghịch đều không có giá trị, tuy dù vẫn đáng được đề cập đến cách đặc biệt, và tôi quyết định Tự sắc này phải được công bố trên báo “L’Osservatore Romano”, có hiệu lực tức khắc, và vì thế, phải được công bố trên đặc san Công luận chính thức của Tòa Thánh, Acta Apostolicae Sedis.
Ban hành tại Rôma, Đền Thánh Gioan Latran, ngày 16 tháng 7 năm 2021, lễ nhớ Đức Mẹ núi Carmel, năm thứ chín trong sứ vụ Giáo Hoàng của tôi.
Phanxicô
Bản dịch của Ủy ban Phụng tự / HĐGM VN
[1] X. Công đồng Vatican II, Hiến chế tín lý về Hội Thánh “Lumen Gentium”, 21.11.1964, số 23 AAS 57 (1965) 27.
[2] X. Công đồng Vatican II, Hiến chế tín lý về Hội Thánh “Lumen Gentium”, 21.11.1964, số 27: AAS 57 (1965) 32; Công đồng Vatican II, Sắc lệnh về phận vụ mục tử của các giám mục trong Hội Thánh “Christus Dominus”, 28.10.1965, số 11: AAS 58 (1966) 677-678; Giáo Lý Hội Thánh Công Giáo, số 833.
[3] X. Gioan-Phaolô II, Tự sắc “Ecclesia Dei”, 2.7.1988: AAS 80 (1988) 1495-1498; Bênêđictô XVI, Tự sắc “Summorum Pontificum”, 7.7.2007: AAS 99 (2007) 777-781; Tông thư ban hành dưới dạng Tự sắc “Ecclesiae unitatem”, 2.7.2009: AAS 101 (2009) 710-711.
[4] Gioan-Phaolô II, Tự sắc “Ecclesia Dei”, 2.7.1988, số 5: AAS 80 (1988) 1498.
[5] X. Công đồng Vatican II, Hiến chế về Phụng vụ “Sacrosanctum Concilium”, 4.12.1963, số 41: AAS 56 (1964) 111; Caeremoniale Episcoporum, số 9; Bộ Phụng tự và Kỷ luật các Bí tích, Huấn thị về một số điều phải giữ hoặc phải tránh liên quan đến Bí tích Thánh Thể “Redemptionis Sacramentum”, 25.3.2004, số 19-25: AAS 96 (2004) 555-557.
[6] X. Giáo Luật, khoản 375, §1; khoản 392.
[7] X. Bộ Giáo lý Đức tin, Sắc lệnh “Quo magis” phê chuẩn bảy kinh Tiền tụng dành cho forma extraordinaria trong Nghi lễ Rôma 22.2.2020, Sắc lệnh “Cum sanctissima” về cử hành phụng vụ kính các thánh theo forma extraordinaria trong Nghi lễ Rôma 22.2.2020: L’Osservatore Romano, 26.3.2020, trang 6.
2021
Bốn vị mục tử
BỐN VỊ MỤC TỬ
Người có tên tuổi lẫy lừng nhất trong việc đấu tranh cho dân quyền vào thập niên 50 và 60 là Mục Sư Martin Luther King. Ông là nhà lãnh đạo được hành triệu dân Mỹ Châu da đen ủng hộ. Họ xem ông như vị anh hùng, người xướng ngôn đồng thời cũng là mục tử của họ. Nếu không có ông, vào những năm ấy đám dân da đen có lẽ chả khác gì đám dân bơ vơ lạc lõng được nhắc đến trong Phúc Âm hôm nay. Ðám dân này được ví như bầy cừu không ai chăn dắt.
Cũng giống như Chúa Giêsu và các môn đệ của Người thuở xưa, Mục Sư King và các đồng sự ông thường khó được yên thân đi tìm cho mình một chốn an bình vắng vẻ để nghỉ ngơi. Chẳng hạn, một đêm nọ, sau một ngày làm việc mệt nhoài trong vùng Montgomery thuộc bang Alabama, ông King leo lên giường ngủ bên cạnh bà Coretta vợ ông. Lúc này bà đã ngủ say. Nhưng ông vừa mới chợp mắt thiêm thiếp thì chuông điện thoại vang lên. Ông vội choàng dậy ngay để khỏi làm bà Coretta thức giấc. Lúc bấy giờ một giọng nói giận dữ bên đầu dây kia vọng ra: “Này anh chàng da đen, hãy nghe đây, chúng tôi không cần đến anh nữa, bắt đầu tuần tới xin ông vui lòng đừng bén mảng tới Montgomery nữa”… Nói thế rồi kẻ gọi điện cúp máy ngay. Bất thình lình bao nhiêu nỗi sợ hãi chụp xuống trên người Mục Sư Luther King như một toà nhà đang đổ xuống. Lòng can đảm của ông hầu như bị tiêu tan. Ông đứng dậy đi vào nhà bếp pha một ly cà phê uống cho ấm dạ, đoạn ngồi xuống lặng lẽ suy nghĩ phương cách thoát ra khỏi cảnh ngộ ở Montgomery mà không mang tiếng là một kẻ hèn nhát.
Lúc bấy giờ với chút ít can đảm còn sót lại, ông gục đầu khấn xin Chúa bằng những lời sau đây: “Lạy Chúa, con đang đảm nhận sứ vụ mà con nghĩ rằng chính đáng, nhưng giờ đây con vô cùng sợ hãi. Dân chúng đang mong chờ con lãnh đạo, và nếu con tỏ ra khiếp nhược thì chính họ cũng sẽ trở nên yếu hèn nhát đảm. Nhưng con đang ở nẻo đường cùng và chẳng biết phải làm sao đây. Con không thể nào một mình đương đầu nổi trách nhiệm này nữa”.
Ðoạn nổi bật nhất trong lời cầu nguyện của Tiến sĩ King là câu này: “Dân chúng đang trông chờ con lãnh đạo họ và nếu con tỏ ra khiếp nhược thì họ cũng sẽ trở nên nhát đảm”. Nếu cần mượn lại cách diễn đạt của bài Phúc Âm hôm nay, lời cầu ấy có thể diễn tả cách khác như sau: “Họ sẽ trở nên như bầy chiên không người chăn”.
Tất cả các cha sở cha phó, các giáo sư, các bậc cha mẹ đều có thể dùng những lời cầu nguyện trên của tiến sĩ King để áp dụng cho chính mình. Thực thế, có nhiều lúc trong đời, chúng ta cảm thấy sợ hãi trước trách nhiệm lãnh đạo của mình. Có nhiều lúc trong đời, chúng ta cảm thấy không thể nào vác nổi gánh nặng đè trên chúng ta. Có nhiều lúc trong đời chúng ta cảm thấy như muốn kêu lên giống Chúa Giêsu trong vườn Giêtsimani: “Cha ơi, nếu có thể được xin cất chén đắng này xa con” (Mt 26: 39)
Trong những cơn khủng hoảng như thế này, chúng ta nên làm gì? Chúng ta nên làm điều Chúa Giêsu đã làm. Chúng ta nên làm điều Mục Sư Martin Luther King đã làm. Chúng ta nên làm điều các Kitô hữu luôn luôn làm, đó là cầu nguyện cùng Thiên Chúa.
Ngay sau khi Chúa Giêsu cầu nguyện với Cha của Người trong vườn Giêtsêmani, thì theo lời kể của thánh Luca: “Một thiên sứ từ trời hiện đến an ủi đỡ nâng Người” (Lc 22: 43). Và ngay sau khi Tiến sĩ King cầu khấn cùng Chúa vào cái đêm đáng ghi nhớ ở Montgomery đó, ông nói rằng ông đã cảm nhận được “sự hiện diện nâng đỡ của Chúa mà trước đó ông chưa hề cảm thấy”.
Bài đọc này quả thực rõ ràng đối với chúng ta khi chúng ta cảm thấy bị đè bẹp dưới một gánh nặng nào đó, chúng ta nên bắt chước Chúa Giêsu và Mục Sư Martin Luther King dâng lời cầu nguyện lên cùng Chúa.
Một trong những vị chỉ huy quân đội Liên Bang trong cuộc nội chiến Nam Bắc Mỹ là tướng Sickles. Ông kể cho chúng ta biết ngay trước trận đánh ở Gettysburg, Tổng thống Lincoln cảm thấy trách nhiệm đè nặng trên vai mình. Lập tức ông cầu nguyện với Chúa. Chính Lincoln đã nói về lần cầu nguyện ấy như sau: “Chưa bao giờ tôi cầu nguyện hăng say đến thế. Phải chi tôi có thể lập lại nguyên vẹn lời nguyện này. Tôi cảm thấy mình cần phải đặt tất cả niềm tín thác nơi Thiên Chúa tối cao. Chỉ một mình Người mới có thể cứu đất nước khỏi sự diệt vong sau khi quì gối đứng lên, tôi cảm thấy lời cầu xin đã được Chúa chấp thuận. Tôi chắc chắn rằng lời cầu nguyện đã có kết quả”. Cũng một cách thức tương tự nhưng hơi khôi hài hơn, Harry Truman đã kể cho các phóng viên sau ngày đầu tiên nhận chức Tổng thống của ông: “Các bạn thân mến, nếu các bạn đã từng cầu nguyện thì xin hãy cầu nguyện cho tôi lúc này đây. Tôi chẳng bíết quí bạn đã từng bị bó cỏ khô nào đè trên người chưa, chứ nếu các bạn hỏi tôi về những gì đã xẩy đến cho tôi ngày hôm qua, thì tôi xin thưa là tôi đã cảm thấy như mặt trăng, các vì sao và các tinh tú đổ sụp xuống trên tôi vậy”.
Khi cảm thấy trách nhiệm đè nặng trên mình, cả bốn vị lãnh đạo: Chúa Giêsu, Abraham Lincoln, Harry Truman, Martin Luther King đều đã làm cùng một hành vi, đó là cầu nguyện cùng Thiên Chúa. Và cả bốn vị đều được Chúa ban lòng can đảm và sức mạnh để tiếp tục bổn phận hướng đạo dân chúng. Đó là một sứ điệp thực tiễn đối với chúng ta. Có thể tóm tắt như sau: khi nào cảm thấy gánh nặng đè xuống trên mình, chúng ta cũng phải biết cầu nguyện cùng Chúa. Và Chúa sẽ ban sức mạnh cho chúng ta như Người đã từng nâng đỡ bốn vị mục tử nói trên.
Ðể kết thúc, chúng ta hãy lập lại Thánh vịnh đáp ca ngày hôm nay:
Chúa là mục tử tôi, tôi nào thiếu thốn chi. Ngài hướng dẫn tôi qua đường chính nẻo ngay vì danh Ngài. Dù bước đi trong thung lũng tối tăm, tôi chẳng hề lo sợ. Dù bị đè bẹp dưới muôn gánh nặng, tôi cũng không nao núng. Vì Chúa bước đi cạnh tôi. Ngài củng cố và tăng sức mạnh cho tôi. Khi đời tôi bước vào buổi xế chiều như mặt trời xế bóng, Ngài sẽ mang tôi vào nhà Ngài, để tôi được sống với Ngài muôn đời muôn kiếp.
2021
Ai đang vũ khí hóa Thánh Thể ?
AI ĐANG VŨ KHÍ HÓA THÁNH THỂ? CÁC CHÍNH TRỊ GIA, KHÔNG PHẢI CÁC GIÁM MỤC
Gần đây có những lưu tâm về việc các giám mục theo cách thực hành mục vụ trong lịch sử và nhấn mạnh rằng người ta phải sám hối trước khi nhận Thánh Thể. Những ai cứ lên rước lễ khi họ biết là không nên thì đang vũ khí hóa Thánh Thể cho các mục đích của mình. Các giám mục không vũ khí hóa Thánh Thể.
Dưới đây tôi sẽ giải thích tại sao đây không phải là vũ khí hóa, mà là một truyền thống lâu đời của Giáo Hội, và tại sao các lý luận của một số chính trị gia thì sai. Vũ khí hóa đang chạm đến Thánh Thể, chính Thiên Chúa, và dùng Thánh Thể không để thờ phượng hay cho Thiên Chúa, nhưng cho một số mục đích khác: thích nghi Thánh Thể để trở nên một vũ khí.
Lãnh Nhận Khi Không Nên, Đó Là Vũ Khí Hóa
Khi bất cứ ai biết rằng họ không nên rước lễ, nhưng vẫn cứ làm, họ mắc tội phạm thánh. Phải có một số lý do nào đó để họ lãnh nhận khi không nên. Tổng quát, chúng ta muốn có vẻ là một người Công Giáo tốt hơn thực sự, muốn tránh sự lúng túng, sợ người khác nghĩ xấu về chúng ta, hoặc một số mục đích cho riêng mình: tối thiểu đó là những gì tôi nhớ khi còn nhỏ chúng bạn nói với tôi về cảm nghĩ của chúng khi rước lễ cách bất xứng. Đây là một cách vũ khí hóa Thánh Thể cho các mục đích của riêng mình. Điều này áp dụng cho bất cứ ai phạm tội trọng hoặc người nào gây điều tiếng xấu trầm trọng cách công khai vì chức vụ của họ mà nó trái với đức tin Công Giáo và luật tự nhiên.
Thánh Thể là chính Chúa Giêsu, do đó chúng ta không bao giờ được sử dụng cho các mục đích khác. Thật vậy, Giáo Lý Công Giáo nói rằng Người là “nguồn và tột đỉnh của đời sống Kitô Hữu.” (1324). Lạm dụng một người như một phương tiện thì luôn luôn xấu, đối với một ngôi Thiên Chúa như Đức Giêsu Kitô thì lại càng tệ hơn.
Giáo Hội có điều luật 916 đề nghị rằng những người như thế, ngay cả khi vấn đề không công khai, thì nên tránh rước lễ. Giáo Luật 915 dạy bảo những người mà hành động của họ gây ra điều tiếng xấu trầm trọng cho Giáo Hội thì sẽ bị từ chối Thánh Thể nếu họ không tự ý tuân theo điều 916.
Sự lạm dụng như thế có thể gọi là “vũ khí hóa” Thánh Thể. Đó là sử dụng Thánh Thể như một công cụ để thắng được những tình huống về xã hội hay chính trị.
Lịch Sử của Việc Từ Chối Thánh Thể
Từ chối Thánh Thể từng là một thực hành trong hầu hết lịch sử của Giáo Hội. Mục đích là để giúp người ta sám hối và được chuẩn bị cách xứng hợp. Một số người lý luận rằng chúng ta không nên phán đoán, nhưng Giáo Hội chưa bao giờ phán đoán bất cứ ai là vĩnh viễn không thể lãnh nhận Thánh Thể: Giáo Hội chỉ yêu cầu người ta chuẩn bị cách xứng hợp bằng sự sám hối.
Có ba thí dụ nổi tiếng nhất về việc từ chối ban bí tích cho các chính trị gia mà tất cả đều sám hối và có sự thay đổi đường lối. Tôi hy vọng điều này cũng giống như thế.
Trước hết, chúng ta có T. Ambrôsiô là người đã ra vạ tuyệt thông Hoàng Đế Theodosius sau vụ Thảm Sát ở Thessalonica. Theodosius hoặc ra lệnh hoặc không ngăn cản vụ thảm sát này, nhưng Đức Tổng Giám Mục của Milan (thủ phủ của hoàng đế) yêu cầu ông phải sám hối trước khi phục hồi.
Thứ hai, Đức Grêgôriô VII ra vạ tuyệt thông vua Henry IV của Thánh Đế Rôma vì bổ nhiệm các giám mục trái phép. Henry IV đã nằm phủ phục ngoài trời tuyết trong ba ngày ở Canossa trước khi vạ tuyệt thông được bãi bỏ.
Thứ ba, vua Henry II của Anh bị vạ tuyệt thông vì liên can đến cái chết của T. Tôma Becket. Vua Henry đưa ra một gợi ý mà những người khác coi đó như một mệnh lệnh. Henry đã sám hối công khai bằng việc chịu đánh hàng trăm roi vào lưng ở trước Vương Cung Thánh Đường trước khi vạ tuyệt thông được bãi bỏ.
Những Lý Luận Sai của Các Chính Trị Gia
Hãy xem xét luận điệu của các chính trị gia từng câu một:
Chúng tôi tin rằng sự tách biệt giữa Giáo Hội và nhà nước cho phép đức tin của chúng tôi biểu lộ nguyên tắc thiết yếu về các công vụ của chúng tôi và phục vụ cử tri cách tốt đẹp nhất. Bí Tích Thánh Thể là tâm điểm đối với đời sống của người Công Giáo có thực hành, và việc vũ khí hóa Thánh Thể đối với các nhà làm luật đảng Dân Chủ vì họ hỗ trợ phụ nữ truy cập việc phá thai cách an toàn và hợp pháp, điều đó thì mâu thuẫn. Không viên chức dân cử nào bị đe dọa từ chối Thánh Thể vì họ hỗ trợ và từng hỗ trợ các chính sách đối nghịch với sự giảng dạy của Giáo Hội.
Câu đầu của họ thì đúng, vì đức tin của chúng ta phải biểu lộ nguyên tắc thiết yếu về chính trị của chúng ta.
Một Mâu Thuẫn Được Giả Thiết
Câu thứ hai của họ thì đúng cho đến dấu phẩy vì Thánh Thể là tâm điểm đối với đức tin của chúng ta. Sau dấu phẩy, câu này có nhiều sai lầm.
- Sai lầm thứ nhất là cho rằng điều này là về việc tham gia đảng phái. Nó là vì họ hỗ trợ một lập trường gây phẫn nộ trong công chúng – đó là chúng ta phải hợp pháp hóa việc giết các thai nhi – trái với Giáo Lý và luật tự nhiên. Để tôi đưa ra hai thí dụ để cho thấy điều này. Thứ nhất, John Bel Edwards, thống đốc Dân Chủ hiện thời của bang Louisiana sẽ không bị yêu cầu tránh rước lễ. Ông diễn tả quan điểm phò-sự-sống của ông là: “Đó là cách tôi được nuôi lớn. Đó là điều đức tin Công Giáo của tôi đòi hỏi.” Đằng khác, Susan Collins, một nghị sĩ Cộng Hòa hiện thời của Maine, người tự nhận là Công Giáo từng bày tỏ một quan điểm gây phẫn nộ trong công chúng khi hỗ trợ phá thai nhiều lần thì như thế phải bị từ chối Thánh Thể.
- Thứ hai, họ cho rằng điều này là vũ khí hóa Thánh Thể khi thực sự đó là sự bảo vệ Thánh Thể khỏi bị vũ khí hóa bởi chính họ. Christine Rousselle của Catholic News Agency cảnh cáo sự nguy hiểm sắp tới: “Tôi bàng hoàng khi xem đoạn video tự mãn từ một chính trị gia lên rước lễ trước một linh mục mà người không biết họ và tim tôi tan nát.” Và theo dõi video này với việc “Đừng Vũ Khí Hóa Thánh Thể” cho thấy ý tưởng này thật nực cười là chừng nào.
- Thứ ba, không có điều nào là phá thai “an toàn” vì thai nhi thường bị chết. Mục đích phải luôn luôn là làm cho việc phá thai là điều không thể tưởng và không bao giờ thi hành nhưng làm cho nó bất hợp pháp đối với người phá thai, đó là một bước cần thiết theo đúng hướng.
- Thứ tư, họ cho rằng có sự mâu thuẫn khi sự mâu thuẫn thực sự là họ tự mình lên rước lễ như người Công Giáo tốt lành trong khi họ đẩy mạnh nền văn hóa sự chết.
Không Có Chính Trị Gia Nào?
Thứ ba, họ cho rằng không có chính trị gia nào bị đe dọa hay bị từ chối Thánh Thể. Tuyên bố đó thì trái với các dữ kiện:
- Năm 2007, các giám mục của Châu Mỹ La Tinh nhận xét rằng các chính trị gia phải biết là họ không được rước lễ trong khi họ hỗ trợ sự phá thai, an tử, và các tội trầm trọng khác đối với sự sống hay gia đình. (436).
- Năm 2007, Đức Giám Mục Thomas Tobin của Province nói một nghị viên trong giáo phận của người là đừng lãnh nhận Thánh Thể.
- Năm 2007, các nhà lập pháp Mễ Tây Cơ bị từ chối Thánh Thể vì hợp pháp hóa phá thai và ĐGH Bênêđích XVI hỗ trợ quyết định này.
- Năm 2008, Kathleen Sebelius, lúc đó là thống đốc Kansas, được yêu cầu đừng lên rước lễ bởi đức giám mục trong vùng.
- Năm 2010, các giám mục Tây Ban Nha tuyên bố rằng những chính trị gia nào bỏ phiếu cho một đạo luật để nhẹ bớt những giới hạn phá thai thì đừng lên rước lễ.
- Năm 2012, các giám mục của Uruguay nói các chính trị gia nào đã bỏ phiếu để hợp pháp hóa phá thai thì không nên lãnh nhận Thánh Thể.
Kết Luận
Chúng ta đừng vũ khí hóa Thánh Thể. Chúng ta hãy bảo vệ Thánh Thể khỏi các chính trị gia và những người làm công chúng phẫn nộ, họ muốn vũ khí hóa Thánh Thể cho các mục đích của mình. Thánh Thể là Thiên Chúa và phải được bảo vệ. Giáo Luật 915 và 916 là luật, không phải là những đề nghị.
2021
Nữ tu bị bắt cóc tại Congo được trả tự do
Nữ tu bị bắt cóc tại Congo được trả tự do
Một tuần sau khi bị bắt cóc để đòi tiền chuộc mạng, một nữ tu ở Cộng hòa dân chủ Congo đã được trả tự do.
Các nữ tu dòng “Nữ tử Phục sinh”. Aid to the Church in Need.
Nữ tu Francine thuộc dòng “Nữ tử Phục sinh” bị bắt cóc tại thành phố Goma, hôm 8/7/2021 vừa qua, trong lúc chị đi chợ để mua thực phẩm cho cộng đoàn. Ít lâu sau đó những kẻ bắt cóc liên lạc với các đại diện Giáo hội địa phương để đòi tiền chuộc mạng.
Hôm 16/7/2021 vừa qua, Tổ chức bác ái quốc tế “Trợ giúp các Giáo hội đau khổ” ở thành phố Munich bên Đức, cho biết nữ tu Francine đã được trả tự do, an toàn thể lý, nhưng bị chấn thương về tinh thần.
Bà Regina Lynch, giám đốc các dự án thuộc tổ chức “Trợ giúp các Giáo hội đau khổ” nói rằng rất tiếc là nạn bắt cóc các linh mục và nữ tu trở thành một phương thế đấu tranh tại nhiều nước Phi châu, từ Mali đến Nigeria, tới Congo. Nhiều khi người ta không có vết tích gì về các nạn nhân bị bắt cóc, như nữ tu Gloria Cecilia Narvaez, người Colombia bị bắt cóc ở Malia từ mấy năm nay. Một số giáo sĩ bị bắt cóc và bị giết. Những kẻ bắt cóc đã đạt tới mục đích của họ là gieo rắc kinh hoàng nơi dân chúng. Đó là một diễn biến rất đáng lo âu.
Tổ chức trợ giúp các Giáo hội đau khổ tài trợ nhiều dự án tại miền đông nước Congo, như giúp xây trung tâm sinh hoạt giáo xứ, nhà thờ, hoặc hỗ trợ việc đào tạo linh mục. Riêng dòng Nữ tử Phục sinh, trong 10 năm qua đã chịu nhiều cuộc tấn công tại các tu viện, vài nữ tu đã bị thiệt mạng. Một số tu viện đã bị đóng cửa vì tình trạng thiếu an ninh. Dòng này cũng hoạt động tại Brazil, Camerun, Pháp và Ý. (KNA 15-7-2021)
Cũng tại Cộng hòa dân chủ Congo, hiện nay vẫn còn 5 linh mục bị mất tích ở miền đông nước này:
Cách đây 4 năm, 2 linh mục là cha Charles Kipasa và Jean-Pierre Akilimali bị bắt cóc trong đêm 16 rạng ngày 17/7 năm 2017, tại giáo phận Butembi-Beni. 5 năm trước đó, ngày 19/10/2012, 3 linh mục thuộc dòng Đức Mẹ Lên Trời (Assomptionnistes), là cha Jean-Pierre Ndulani, Edmond Kisughi và Anselme Wasukundi bị bắt cóc tại nhà xứ ở Mbay, thuộc miền Beni. Cho đến nay 9 năm đã trôi qua, người ta không có tin gì về 5 linh mục bị bắt cóc.
(Africa.la-croix 16-7-2021)
Giuse Trần Đức Anh, O.P
