2021
ÂM THẦM LẶNG LẼ PHỤC VỤ
26 17 Tr Thứ Hai Tuần XVII Thường Niên.
Thánh Gio-a-kim và thánh An-na, song thân Đức Trinh nữ Ma-ri-a, lễ nhớ.
Chân phúc An-rê Phú Yên, Thầy giảng (U1644) Tử đạo.
Xh 32,15-24.30-34; Mt 13,31-35.
ÂM THẦM LẶNG LẼ PHỤC VỤ
Trong Kinh Thánh, các thánh sử Matthêu và Luca cung cấp cho chúng ta phả hệ của Ðức Giêsu. Các ngài đi ngược trở về tổ tiên dòng họ của Người chỉ để chứng minh rằng Ðức Giêsu là cực điểm của các lời hứa trọng đại. Nhưng bên ngoại của Ðức Giêsu thì bị lang qun, chúng ta không có một dữ kiện gì về các đấng sinh thành ra Ðức Maria. Ngay cả thánh Gioankim và Anna cũng xuất phát từ một truyền thuyết được viết lại sau khi Ðức Gisu về trời khoảng hơn một thế kỷ.
Tuy nhiên, đức tính anh hùng và thánh thiện của các ngài được suy đoán từ bầu khí của toàn thể gia tộc Ðức Maria. Chúng ta dựa trên truyền thuyết về thời kỳ thơ ấu của Ðức Maria hoặc suy đoán từ các dữ kiện trong Phúc Âm, Ðức Maria là một thể hiện của biết bao thế hệ những người siêng năng cầu nguyện mà chính ngài là một người đắm chìm trong cc truyền thống đạo đức của người Do Thái.
Các đức tính nổi bật của Ðức Maria khi ngài thi hành các quyết định, khi liên lỉ cầu nguyện, khi trung thành với quy luật tôn giáo, khi bình tĩnh trước những khủng hoảng và khi tận tâm với người bà con – tất cả những điều này cho thấy một gia tộc khắng khít, yêu thương nhau biết nhìn đến các thệ hệ tương lai trong khi vẫn duy trì truyền thống tốt đẹp của quá khứ.
Thánh Gioankim vá Thánh Anna, dù những tên tuổi này có thật hay không; đã đại diện cho một chuỗi thế hệ của những người trung tín thi hành bổn phận, kiên trì sống đức tin để tạo nên một bầu khí thuận tiện cho sự giáng trần của Ðấng Thin Sai, nhưng họ vẫn âm thầm không ai biết đến.
Trong bài Tin Mừng của Thánh Lễ kính thánh Gioakim và thánh Anna, Song Thân của Đức Maria hôm nay, Chúa Giêsu nói:
Còn anh em, mắt anh em thật có phúc vì được thấy, tai anh em thật có phúc, vì được nghe. (c. 16)
Trong bối cảnh phụng vụ, lời này của Chúa Giêsu được ứng nghiệm cho đôi mắt và đôi tai của “ông bà ngoại” của Người, nghĩa là của thánh Gioakim và của thánh Anna. Tuy nhiên, lời này của Chúa Giêsu cũng liên quan đến đôi mắt và đôi tai của chúng ta.
Thực vậy, qua kinh nghiệm cuộc sống, nhất là khi chúng ta có dịp đến phục vụ những người tàn tật, những người mù, những người câm điếc, chúng ta mới nhận ra rằng sự kiện chúng ta thấy được và nghe được, là một ơn huệ; và khi nhận ra đôi mắt và đôi tai của chúng ta là một ơn huệ, chúng ta được mời gọi nhận ra Đấng ban ơn để tạ ơn và ca tụng, và chia sẻ ơn huệ mà chúng ta có cho người khác, nhất là cho những người tàn tật, không có cùng một ơn huệ như chúng ta.
Tuy nhiên, ngay trước đó, Chúa Giêsu còn nói tới một bệnh mù khác, một bệnh điếc khác: “họ nhìn mà không nhìn, nghe mà không nghe, không hiểu” (c. 13). Như thế, mối phúc mà Chúa Giêsu nói tới, không chỉ là khả năng thể lý nhìn thấy sự vật và nghe được âm thanh.
Thật vậy, đôi mắt của chúng ta được dựng nên, có “ơn gọi” không phải là nhìn thấy những điều hữu hình, nhưng qua những điều hữu hình, nhận ra những thực tại vô hình. Thực vậy, chúng ta được mời gọi nhìn thấy sự vật không chỉ như là sự vật, nhưng còn là những quà tặng, những ơn huệ, những dấu chỉ, nói lên sự hiện diện của ai đó, của tình thương, nói lên Đấng ban ơn, nói lên chính Đấng tạo dựng.
Và nhất là khi nhìn thấy một người, đôi mắt của chúng ta không được dừng lại ở vẻ bề ngoài, ở ngoại hình, ở trang phục, không được coi người người này là đối tượng để mình thỏa mãn nhu cầu, thỏa mãn lòng ham muốn; nhưng đôi mắt của chúng ta được mời gọi nhìn người khác trong sự thật, nghĩa là người đó là một ngôi vị tự do và có lòng ước ao, có ơn gọi riêng, có quá khứ và những vấn đề riêng, có hành trình riêng cần tôn trọng; nếu sự thật là người ấy có những hành vi phạm lỗi đáng lên án, thì chúng ta được mời gọi nhận ra một sự thật khác lớn hơn: người ấy còn là một ngôi vị bất hạnh đang đau khổ, và có khi người này ở trong bất hạnh mà không biết. Đó cái nhìn của Người Cha nhân hậu đối với người con hoang đàng, đó là cái nhìn của Chúa Giêsu về người phụ nữ ngoại tình, đó là cái nhìn của Ba Ngôi Thiên Chúa đối với loài người chúng ta, với từng người chúng ta.
Đôi mắt của thánh Gioakim và thánh Anna, đôi mắt của các môn đệ và đôi mắt của chúng ta thật là có phúc, như Chúa Giêsu nói: “Còn anh em, mắt anh em thật có phúc vì được thấy”, bởi vì chúng ta được ơn nhận biết Chúa Giêsu Nazareth là Đức Kitô, Con Thiên Hằng Sống và Ngôi Lời nhập thể. Đôi mắt có phúc là đôi mắt nhận biết Đức Giêsu Kitô; và đôi mắt nhận biết Chúa Giêsu Kitô là đôi mắt sống đúng với ơn gọi của mình.
Cũng vậy đối với đôi tai của chúng ta: đôi tai của chúng ta được ban cho, có ơn gọi không phải là nghe tiếng động hay âm thanh, nhưng là nghe ra sự hài hòa của âm thanh, nghe được giai điệu, kết cấu của âm thanh, truyền đạt cho chúng ta một ý nghĩa, một sứ điệp, truyền đạt cho chúng ta Ngôi Lời, bởi vì “Nhờ Ngôi Lời vạn vật được tạo thành” (Ga 1, 3 và St 1) : Trời xanh tường thuật vinh quang Thiên Chúa, không trung loan báo việc tay Người làm. (Tv 19, 2).
Thế mà ý nghĩa và sứ điệp, được tạo ra bởi sự liên kết hài hòa theo qui luật giữa các âm thanh, thì hoàn toàn thinh lặng, không có tiếng động. Thiên Chúa nói với con người qua rất nhiều lời nói: lời trong Kinh Thánh, lời từ các chứng nhân của Thiên Chúa, nhưng chính Đức Giêsu Nazareth, Ngôi Lời Thiên Chúa làm nên sự hợp nhất của những lời nói cụ thể này. Như thế, Ngôi Lời không làm cho bất cứ đôi tai nào rung lên, Ngôi Lời chỉ được thốt lên và chỉ được nghe trong thinh lặng.
Thánh Phao-lô trong thư gởi Tín Hữu Roma đã trích Tv 19, nhưng một cách rất lạ lùng. Bởi vì, đối với thánh nhân “Tiếng vang đã dội khắp hoàn cầu và thông điệp loan đi tới chân trời góc biển.” (Tv 19, 5) không là gì khác hơn là việc rao giảng Tin Mừng Đức Giê-su Ki-tô! Thật vậy, ngài đã viết trong thư gởi các tín hữu Roma:
Có đức tin là nhờ nghe giảng, mà nghe giảng là nghe công bố lời Đức Ki-tô. Nhưng tôi xin hỏi: Phải chăng họ đã không được nghe giảng? Có chứ! “Tiếng các ngài đã dội khắp hoàn cầu, và thông điệp loan đi tới chân trời góc biển” (Rm 10, 17-18)
Theo thánh Phao-lô, sứ điệp của công trình tạo dựng và sứ điệp của các tác viên Tin Mừng là cùng một sứ điệp, đó là sứ điệp “Đức Giê-su Kitô, Ngôi Lời Thiên Chúa”. Như thế, điều mà thánh Phaolô cảm nhận thì thật là lạ lùng! Trình thuật, lời công bố và sứ điệp, vốn là lời sáng tạo như là chúng ta nghe được trong sự thinh lặng của Ngôi Lời, nay bỗng dưng vang vọng trong miệng của thánh nhân, cũng như trong miệng của mọi tác viên loan báo Tin Mừng, trong đó có chúng ta hôm nay.
Như thế, nếu chúng ta nghe ra sứ điệp được truyền đạt “ngày này cho ngày kia” và “đêm này cho đêm kia” kể từ khởi nguyên của thế giới sáng tạo, chúng ta sẽ nghe được sứ điệp Tin Mừng của Đức Giê-su Ki-tô. Và ngược lại, nếu chúng ta đón nhận sứ điệp Tin Mừng Đức Giê-su Ki-tô, chúng ta sẽ nghe được sứ điệp của ngày và đêm
Hôm nay, khi ngắm nhìn và lặng thầm, trong sâu lắng ta thấy cuộc đời các ngài thật âm thầm đến mức không ai biết đến, cũng như bao người đã đến trong đời rồi đi. Nhưng nhờ sự nổi danh của người con là Đức Maria mà tên tuồi của các ngài lại được nêu bật. Thật đúng như câu nói: “con nhà tông không giống lông thì giống cánh”, có nghĩa là một Đức Maria thánh thiện thì phụ mẫu Gioakim và Anna sinh ra ngài cũng rất đạo đức, đáng được nêu danh cho bao người noi theo.
Sự âm thầm có khi lại có giá trị rất quan trọng đến mức không thể không có. Có các ngài thì mới có Đức Maria. Các ngài có đạo đức thì mới có một Maria thánh thiện. Cũng như phải có những chuyên gia làm sân cỏ âm thầm chăm sóc hằng năm sân bãi, thì các cuộc thi đấu bóng mới được diễn ra tốt đẹp đúng hạn kỳ.
2021
Thánh Gio-a-kim và thánh An-na, song thân Đức Trinh nữ Ma-ri-a, lễ nhớ.
Thánh Gio-a-kim và thánh An-na, song thân Đức Trinh nữ Ma-ri-a, lễ nhớ.
Lời nguyện nhập lễ
Lạy Thiên Chúa là Ðấng tổ phụ chúng con tôn thờ, Chúa đã ban cho thánh Gio-an Kim và thánh An-na được diễm phúc sinh hạ Ðức Ma-ri-a là thánh mẫu của Ðức Kitô, Con Chúa nhập thể. Xin nhận lời hai thánh chuyển cầu, cho chúng con được hưởng ơn cứu độ, Chúa đã hứa ban cho dân riêng của Chúa. Chúng con cầu xin …
Bài đọc: Hc 44,1.10-15
Lời Chúa trong sách huấn Ca
1Giờ đây, chúng ta hãy ca ngợi những vị danh nhân,
cũng là cha ông của chúng ta qua các thế hệ.
10Các ngài là những người đạo hạnh,
công đức của các ngài không chìm vào quên lãng.
11Dòng dõi các ngài luôn được hưởng một gia tài quý báu
đó là lũ cháu đàn con.
12Dòng dõi các ngài giữ vững các điều giao ước ;
nhờ các ngài, con cháu cũng một mực trung thành.
13Dòng dõi các ngài sẽ muôn đời tồn tại,
vinh quang các ngài sẽ chẳng phai mờ.
14Các ngài được mồ yên mả đẹp
và danh thơm mãi lưu truyền hậu thế.
15Dân dân sẽ kể lại đức khôn ngoan của các ngài
và cộng đoàn vang tiếng ngợi khen.
Đáp ca Tv 131,11.13-14.17-18 (Đ. Lc 1,32b)
Xướng 1: Đức Chúa đã thề cùng vua Đa-vít
và sẽ không thất tín bao giờ,
thề rằng : “Chính con ruột của ngươi,
Ta sẽ đặt lên thừa kế ngai vàng.”
Đáp. Thiên Chúa sẽ ban cho Người
ngai vàng vua Đa-vít, tổ tiên Người.
Xướng 2: Vì Đức Chúa đã chọn Xi-on,
đã thích lấy chốn này làm nơi Người ngự.
14Người phán : “Đây là chốn Ta nghỉ ngơi đến muôn đời,
Ta sẽ ngự nơi này, vì Ta ưa thích.”
Xướng 3: “Nơi đây, Ta sẽ cho Đa-vít một dòng dõi hùng cường,
sẽ thắp cho người Ta đã xức dầu phong vương
một ngọn đèn luôn luôn cháy sáng.
18Kẻ thù vua, Ta phủ đầy nhục nhã,
còn trên đầu vua, rực rỡ ánh triều thiên.”
Tung hô Tin Mừng x. Lc 2,25c
Al-lê-lui-a. Al-lê-lui-a. Các ngài những mong chờ niềm an ủi của Ít-ra-en, và Thánh Thần hằng ngự trên các ngài. Al-lê-lui-a.
Tin Mừng: Mt 13,16-17
Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo thánh Mátthêu
16 Khi ấy, Đức Giê-su nói với các môn đệ rằng : “Mắt anh em thật có phúc vì được thấy, tai anh em thật có phúc, vì được nghe. 17 Quả thế, Thầy bảo thật anh em, nhiều ngôn sứ và nhiều người công chính đã mong mỏi thấy điều anh em đang thấy, mà không được thấy, nghe điều anh em đang nghe, mà không được nghe.”
Lời nguyện tiến lễ
Lạy Chúa, xin chấp nhận của lễ chúng con thành kính dâng lên Chúa, và xin cho chúng con được thừa hưởng phúc lành Chúa đã hứa cho tổ phụ Áp-ra-ham và cho con cháu đến muôn đờ i. Chúng con cầu xin …
Lời Tiền Tụng
Lạy Chúa là Cha chí thánh, là Thiên Chúa toàn năng hằng hữu, chúng con tạ ơn Chúa mọi nơi mọi lúc, thật là chính đáng, phải đạo và đem lại ơn cứu độ cho chúng con.
Chúa được tôn vinh trong cộng đoàn các thánh, và khi tuyên dương công trạng của các ngài, Chúa tuyên dương chính hồng ân của Chúa. Từ nếp sống của các ngài, Chúa ban cho chúng con gương sáng, nhờ sự hiệp thông với các ngài, Chúa cho chúng con được chung phần vinh phúc, nhờ lời các ngài chuyển cầu, Chúa ban ơn trợ giúp chúng con. Nhờ những chứng nhân thế giá như vậy nâng đỡ, chúng con xông vào chiến trận dàn sẵn mà nắm chắc phần thắng, và cùng với các ngài, chúng con được lãnh nhận triều thiên vinh quang bất diệt, nhờ Ðức Ki-tô, Chúa chúng con.
Vì thế, cùng với các Thiên thần và tổng lãnh Thiên thần, cùng cộng đoàn đông đảo các thánh, chúng con hát bài ca chúc tụng Chúa và không ngừng tung hô rằng:
Thánh! Thánh! Thánh! …
Lời nguyện hiệp lễ
Lạy Chúa, là Thiên Chúa tối cao, Chúa đã muốn cho Con Một Chúa hạ mình sinh làm người dương thế để qua một cuộc trao đổi lạ lùng kỳ diệu, con người được tái sinh làm con Chúa. Xin mở lòng nhân hậu ban cho những người được Chúa nuôi dưỡng bằng bánh dành riêng cho con cái Chúa, được thánh hoá nhờ tinh thần nghĩa tử Chúa ban. Chúng con cầu xin …
2021
Thư Đức Phanxicô gửi các giám mục trên thế giới về Tự sắc Traditionis Custodes
Thư Đức Phanxicô gửi các giám mục trên thế giới về Tự sắc Traditionis Custodes
Giống vị Tiền nhiệm của tôi là Đức Bênêđíctô XVI đã làm với Tự sắc Summorum Pontificum, tôi muốn đính kèm Tự sắc Traditionis một lá thư giải thích các động cơ thúc đẩy quyết định của tôi. Tôi hướng đến qúy huynh đệ với niềm tín thác và mạnh dạn, nhân danh “sự lo lắng chung đối với toàn thể Giáo hội, góp phần tối cao vào lợi ích của Giáo hội Hoàn vũ” như Công đồng Vatican II đã nhắc nhở chúng ta.
Rôma, ngày 16 tháng 7 năm 2021
Qúy huynh đệ trong hàng Giám mục thân mến,
Giống vị Tiền nhiệm của tôi là Đức Bênêđíctô XVI đã làm với Tự sắc Summorum Pontificum, tôi muốn đính kèm Tự sắc Traditionis một lá thư giải thích các động cơ thúc đẩy quyết định của tôi. Tôi hướng đến qúy huynh đệ với niềm tín thác và mạnh dạn, nhân danh “sự lo lắng chung đối với toàn thể Giáo hội, góp phần tối cao vào lợi ích của Giáo hội Hoàn vũ” như Công đồng Vatican II đã nhắc nhở chúng ta.[1]
Hầu hết mọi người đều hiểu các động cơ từng thúc đẩy Thánh Gioan Phaolô II và đức Bênêđictô XVI cho phép sử dụng Sách lễ Rôma, do Thánh Piô V ban hành và Thánh Gioan XXIII hiệu đính năm 1962, cho Hy tế Thánh Thể. Năng quyền – được cấp bởi đặc miễn (indult) của Thánh bộ Phụng thờ Thiên Chúa vào năm 1984 [2] và được Thánh Gioan Phaolô II xác nhận trong Tự sắc Ecclesia Dei năm 1988 [3] – trước hết được thúc đẩy bởi mong muốn cổ vũ việc hàn gắn cuộc ly giáo với phong trào của Đức Cha Lefebvre. Với ý định nhằm khôi phục sự hiệp nhất Giáo hội, do đó, các Giám mục được yêu cầu rộng lượng chấp nhận “nguyện vọng chính đáng” của các tín hữu đã yêu cầu sử dụng Sách lễ đó.
Nhiều người trong Giáo hội coi năng quyền này là cơ hội để tự do tiếp nhận Sách lễ Rôma do Thánh Piô V ban hành và sử dụng nó theo cách song song với Sách lễ Rôma do Thánh Phaolô VI ban hành. Để điều chỉnh tình trạng này trong khoảng thời gian nhiều năm, Đức Bênêđíctô XVI đã can thiệp để giải quyết tình trạng sự việc này trong Giáo hội. Nhiều linh mục và cộng đoàn đã “sử dụng với lòng biết ơn khả thể được cung cấp bởi Tự sắc” của Thánh Gioan Phaolô II. Nhấn mạnh rằng sự phát triển này không thể lường trước được vào năm 1988, Tự sắc Summorum năm 2007 dự định đưa ra “một quy định pháp lý rõ ràng hơn” trong lĩnh vực này [4]. Để cho phép những người, kể cả những người trẻ tuổi, những người khi “khám phá ra hình thức phụng vụ này, cảm thấy được lôi cuốn và tìm thấy trong đó một hình thức, đặc biệt phù hợp với họ, để gặp gỡ mầu nhiệm Thánh Thể cực thánh” được tiếp cận nó[5], Đức Bênêđíctô XVI tuyên bố “Sách lễ do Thánh Piô V ban hành và mới được Chân phước Gioan XXIII hiệu đính, là một cách diễn đạt ngoại thường của cùng một luật cầu nguyện [lex orandi]”, và ban “khả thể rộng rãi hơn cho việc sử dụng Sách lễ năm 1962” [6].
Khi đưa ra quyết định của mình, các ngài tin tưởng rằng một dự liệu như vậy sẽ không gây nghi ngờ cho một trong những biện pháp quan trọng của Công đồng Vatican II hoặc giảm thiểu thẩm quyền của nó bằng cách này: Tự sắc công nhận rằng, theo đúng quyền của nó, “Sách lễ ban hành bởi Đức Phaolô VI là cách diễn đạt thông thường của luật cầu nguyện của Giáo Hội Công Giáo theo nghi lễ Latinh ” [7]. Việc công nhận Sách lễ do Thánh Piô V ban hành “như một cách diễn đạt ngoại thường của cùng một luật cầu nguyện”, bất cứ cách nào, cũng không hề hạ giá việc cải cách phụng vụ, nhưng được ra sắc lệnh với mong muốn thừa nhận “những lời cầu nguyện khẩn thiết của các tín hữu này,” cho phép họ “cử hành Hy tế Thánh lễ theo tiêu bản [editio typica] của Sách lễ Rôma do Chân phước Gioan XXIII ban hành năm 1962 và không bao giờ bị bãi bỏ, như là hình thức ngoại thường của Phụng vụ Giáo hội”[8]. Điều an ủi Đức Bênêđíctô XVI trong sự phân định của ngài là nhiều người mong muốn “tìm thấy hình thức Phụng vụ thánh thân thiết với họ”, “rõ ràng chấp nhận đặc tính ràng buộc của Công đồng Vatican II và trung thành với Đức Giáo Hoàng và các Giám mục” [9]. Hơn nữa, ngài tuyên bố là vô căn cứ việc sợ có sự chia rẽ trong các cộng đồng giáo xứ, bởi vì “hai hình thức sử dụng Nghi lễ Rôma sẽ làm giàu lẫn cho nhau” [10]. Vì vậy, ngài mời gọi các Giám mục gạt bỏ những nghi ngờ và sợ hãi của họ, và hoan nghênh các quy tắc, “lưu tâm để mọi điều tiến hành trong hòa bình và thanh thản,” với lời hứa rằng “sẽ có thể tìm được các giải pháp” trong trường hợp “các khó khăn nghiêm trọng được đưa ra ánh sáng” trong việc thực hiện các tiêu chuẩn “một khi Tự sắc có hiệu lực” [11].
Với mười ba năm trôi qua, tôi đã chỉ thị cho Bộ Giáo lý Đức tin phân phối một bảng câu hỏi cho các Giám mục về việc thực thi Tự sắc Summorum Pontificum. Các câu trả lời tiết lộ một tình huống khiến tôi bận tâm và buồn phiền, đồng thời thuyết phục tôi về sự cần thiết phải can thiệp.
Thật đáng tiếc, mục tiêu mục vụ của các vị Tiền nhiệm của tôi, những vị vốn có ý định “làm mọi điều có thể để bảo đảm rằng tất cả những người thực sự khát vọng hiệp nhất sẽ thấy họ có thể duy trì sự hiệp nhất này hoặc tái khám phá nó” [12], thường bị coi thường một cách trầm trọng. Một cơ hội được Thánh Gioan Phaolô II và, một cách rộng lượng hơn, được Bênêđíctô XVI cung ứng, nhằm khôi phục sự hợp nhất của cơ thể Giáo hội với những nhạy cảm phụng vụ đa dạng, đã bị khai thác để mở rộng thêm hố phân cách, tăng cường các khác biệt và khuyến khích các bất đồng gây tổn hại cho Giáo hội, chặn đường đi của Giáo Hội, và khiến Giáo Hội phải đối đầu với nguy cơ chia rẽ.
Đồng thời, tôi đau buồn về các lạm dụng trong việc cử hành phụng vụ ở mọi phía. Cùng với Bênêđíctô XVI, tôi lấy làm tiếc sự kiện này là “ở nhiều nơi, các quy định của Sách Lễ mới không được tuân thủ trong việc cử hành, nhưng thực sự còn bị hiểu như một sự cho phép hoặc thậm chí như một đòi hỏi của óc sáng tạo, dẫn đến những bóp méo gần như không thể chịu đựng được” [13]. Nhưng tôi vẫn thấy buồn vì việc sử dụng Sách Lễ Rôma năm 1962 như một công cụ thường có đặc điểm ở chỗ bác bỏ không những cuộc cải tổ phụng vụ, mà cả chính Công đồng Vatican II, vì cho rằng nó đã phản bội Truyền thống và “Giáo hội đích thực”, với những khẳng định vô căn cứ và không thể được chống đỡ. Con đường của Giáo hội phải được nhìn trong tính năng động của Truyền thống “bắt nguồn từ các Tông đồ và tiến diễn trong Giáo hội với sự trợ giúp của Chúa Thánh Thần” (DV 8). Giai đoạn gần đây của tính năng động này đã được Công đồng Vatican II thiết lập trong đó hàng giám mục Công Giáo đến với nhau để lắng nghe và phân định con đường cho Giáo hội được Chúa Thánh Thần chỉ định. Nghi ngờ Công đồng là nghi ngờ ý định của chính những Nghị phụ đã thực thi quyền lực hợp đoàn của các ngài một cách long trọng cum Petro et sub Petro [cùng với Phêrô và dưới Phêrô] trong một công đồng chung[14], và, nếu phân tích cho cùng, nghi ngờ chính Chúa Thánh Thần, Đấng hướng dẫn Giáo Hội.
Mục tiêu sửa đổi việc cho phép do các Vị tiền nhiệm của tôi ban cấp được chính Công đồng Vatican II nêu bật. Từ việc các phiếu bầu của các Giám mục đệ trình ở đó, ta thấy các ngài nhấn mạnh rất nhiều đến việc tham gia trọn vẹn, có ý thức và tích cực của toàn thể dân Chúa vào phụng vụ[15], phù hợp với các đường hướng đã được Đức Piô XII chỉ ra trong Thông điệp Mediator Dei [Đấng Trung gian của Thiên Chúa] về việc canh tân phụng vụ[16]. Hiến chế Sacrosanctum Concilium đã xác nhận lời kêu gọi này, bằng cách tìm kiếm “sự đổi mới và thăng tiến phụng vụ”[17], và bằng cách chỉ ra các nguyên tắc nên hướng dẫn cuộc cải tổ[18]. Đặc biệt, nó xác định rằng các nguyên tắc này liên quan đến Nghi lễ Rôma, và các nghi lễ hợp pháp khác nếu có thể áp dụng, và yêu cầu “các nghi lễ được duyệt xét cẩn thận dưới ánh sáng truyền thống lành mạnh, và chúng được cung cấp sức sống mới để đáp ứng các hoàn cảnh và nhu cầu thời nay ”[19]. Trên cơ sở những nguyên tắc này, một cuộc cải tổ phụng vụ đã được thực hiện, với biểu thức cao nhất của nó trong Sách Lễ Rôma, được Thánh Phaolô VI công bố trong tiêu bản [20] và được Thánh Gioan Phaolô II sửa đổi [21]. Do đó, cần phải cho rằng Nghi lễ Rôma, được thích ứng nhiều lần trong suốt nhiều thế kỷ theo nhu cầu của thời đại, không những phải được bảo tồn mà còn được đổi mới “trong sự tuân thủ trung thành đối với Truyền thống”[22]. Bất cứ ai muốn cử hành với lòng sùng kính theo các hình thức trước đây của phụng vụ có thể tìm thấy trong Sách lễ Rôma được cải cách theo Công đồng Vatican II tất cả các yếu tố của Nghi lễ Rôma, đặc biệt là Lễ qui Rôma [Roman Canon] vốn tạo thành một trong những yếu tố khác biệt hơn của nó.
Lý do cuối cùng cho quyết định của tôi là thế này: Càng rõ ràng hơn trong lời nói và thái độ của nhiều người là mối liên hệ chặt chẽ giữa việc lựa chọn cử hành theo các sách phụng vụ trước Công đồng Vatican II và việc bác bỏ Giáo hội và các định chế của Giáo hội nhân danh điều được gọi là “Giáo hội đích thực”. Ở đây, người ta đang đương đầu với một tác phong mâu thuẫn với sự hiệp thông và nuôi dưỡng khuynh hướng chia rẽ – “Tôi thuộc về Phaolô; Thay vào đó tôi thuộc về Apollo; Tôi thuộc về Cephas; Tôi thuộc về Đấng Kitô ”- điều mà Thánh Tông đồ Phaolô đã phản đối một cách mạnh mẽ [23]. Để bảo vệ sự hợp nhất của Thân thể Chúa Kitô, tôi buộc phải thu hồi năng quyền được các vị Tiền nhiệm của tôi ban cấp. Việc sử dụng đầy xuyên tạc đã được thực hiện cho năng quyền này là trái với các ý định dẫn đến việc cho phép tự do cử hành Thánh lễ với Sách Lễ Rôma [Missale Romanum] năm 1962. Vì “các cử hành phụng vụ không phải là các hành động riêng tư, nhưng là các cử hành của Giáo hội, là bí tích hiệp nhất ” [24], chúng phải được thực hiện trong sự hiệp thông với Giáo hội. Công đồng Vatican II, trong khi tái xác nhận các mối ràng buộc bên ngoài của việc tháp nhập vào Giáo hội – tuyên xưng đức tin, các bí tích, sự hiệp thông – đã khẳng định với Thánh Augustinô rằng việc ở lại trong Giáo hội không chỉ “bằng thân xác” mà còn “bằng tâm hồn” là điều kiện để được cứu rỗi [25].
Qúy huynh đệ thân mến trong hàng Giám mục, Sacrosanctum Concilium giải thích rằng Giáo hội, “bí tích hiệp nhất”, là như vậy vì là “Dân thánh được quy tụ và cai quản dưới thẩm quyền của các Giám mục”[26]. Hiến chế Lumen gentium, trong khi nhắc lại rằng Giám mục Rôma là “nguyên tắc vĩnh viễn và hữu hình và là nền tảng của sự hiệp nhất của cả các giám mục lẫn của vô số các tín hữu”, nói rằng quý huynh đệ Giám mục là “nguyên tắc hữu hình và nền tảng của sự hiệp nhất của các Giáo hội địa phương của qúy vị, trong đó và qua đó hiện hữu một Giáo Hội Công Giáo duy nhất ”[27].
Đáp ứng yêu cầu của qúy huynh đệ, tôi cương nghị quyết định bãi bỏ tất cả các quy tắc, huấn thị, giấy phép và phong tục có trước Tự sắc này, và tuyên bố rằng các sách phụng vụ được ban hành bởi các Đức Giáo Hoàng Phaolô VI và Gioan Phaolô II, phù hợp với các sắc lệnh của Công đồng Vatican II, tạo thành biểu thức độc nhất của luật cầu nguyện của Nghi lễ Rôma. Trong quyết định này, tôi tìm an ủi ở sự kiện này là sau Công đồng Trent, Thánh Piô V cũng bãi bỏ tất cả các nghi lễ không được chứng mình là có tính cổ xưa, và đã thiết lập cho toàn thể Giáo hội Latinh một Sách lễ Rôma duy nhất. Trong bốn thế kỷ, Sách lễ Rôma, do Thánh Piô V ban hành, do đó, là biểu thức chính của luật cầu nguyện của Nghi thức Rôma, và có chức năng duy trì sự thống nhất của Giáo hội. Không phủ nhận phẩm giá và sự cao cả của Nghi lễ này, các Giám mục tập hợp trong công đồng chung yêu cầu nó được cải tổ; ý định của các ngài là “các tín hữu sẽ không tham dự như những người xa lạ và những khán giả im lặng vào mầu nhiệm đức tin, nhưng, với sự hiểu biết đầy đủ về các nghi thức và lời cầu nguyện, sẽ tham dự vào hành động thánh thiêng một cách có ý thức, sốt sắng và tích cực” [28]. Thánh Phaolô VI, khi nhắc lại rằng công việc sửa đổi Sách Lễ Rôma đã được Đức Piô XII khởi xướng, đã tuyên bố rằng việc sửa đổi Sách Lễ Rôma, được thực hiện dưới ánh sáng của các nguồn phụng vụ cổ xưa, có mục đích cho phép Giáo Hội dâng lên, bằng nhiều ngôn ngữ khác nhau, “một lời cầu nguyện duy nhất và đồng nhất” nói lên sự hiệp nhất của Giáo Hội [29]. Sự hiệp nhất này tôi dự tính sẽ tái lập trong toàn bộ Giáo hội của Nghi lễ Rôma.
Công đồng Vatican II, khi mô tả tính Công Giáo của dân Chúa, đã nhắc lại rằng “trong sự hiệp thông Giáo hội”, hiện hữu nhiều Giáo hội đặc thù hưởng thụ các truyền thống riêng của mình, không gây hại đến quyền tối thượng của Tòa Phêrô, là tòa chủ trì tình hiệp thông bác ái hoàn vũ, đã bảo đảm tính đa dạng hợp pháp và cùng nhau bảo đảm rằng cái đặc thù không những không làm tổn hại đến cái phổ quát mà trên hết còn phải phục vụ nó” [30]. Trong việc thi hành thừa tác vụ của mình để phục vụ sự hiệp nhất, trong khi tôi đưa ra quyết định đình chỉ năng quyền do các vị Tiền nhiệm của tôi ban cấp, tôi yêu cầu qúy huynh đệ chia sẻ với tôi gánh nặng này như một hình thức tham gia vào viêc lo lắng cho toàn thể Giáo hội vốn là trách nhiệm của các Giám mục. Trong Tự sắc, tôi muốn khẳng định điều này: tùy thuộc vị Giám mục ra qui định cho các việc cử hành phụng vụ, vì ngài vốn là người phối trí, cổ vũ và bảo vệ đời sống phụng vụ của Giáo hội mà ngài là nguyên tắc hiệp nhất. Trong tư cách các bản quyền địa phương, Qúy huynh đệ có quyền cho phép tại các Giáo Hội của qúy vị việc sử dụng Sách Lễ Rôma năm 1962, trong khi áp dụng các tiêu chuẩn của Tự sắc này. Qúy vị có thể tiến hành một cách nào đó để trở lại hình thức cử hành nhất thể [unitary], và xác định từng trường hợp thực tại của các nhóm cử hành với Sách Lễ Rôma này.
Các chỉ dẫn về cách tiến hành trong giáo phận của qúy vị chủ yếu được quy định bởi hai nguyên tắc: một mặt, cung cấp lợi ích cho những người đã bén rễ vào hình thức cử hành trước đây và cần phải kịp thời trở lại với Nghi lễ Rôma do Các Thánh Phaolô VI và Gioan Phaolô II ban hành, và mặt khác, việc ngừng thiết lập các giáo xứ tòng nhân mới gắn liền với mong muốn và ước nguyện của cá nhân linh mục hơn là nhu cầu thực sự của “Dân thánh Thiên Chúa”. Đồng thời, tôi yêu cầu qúy huynh đệ hãy thận trọng trong việc bảo đảm rằng mọi phụng vụ phải được cử hành trang trọng và trung thành với các sách phụng vụ được ban hành sau Công đồng Vatican II, không có những hành vi lập dị dễ trở thành lạm dụng. Các chủng sinh và tân linh mục nên được đào tạo về việc trung thành tuân giữ các quy định của Sách Lễ và các sách phụng vụ, trong đó phản ánh ý chí cải tổ phụng vụ của Công đồng Vatican II.
Tôi cầu xin Thần Khí của Chúa Phục Sinh xuống trên qúy huynh đệ, xin Người làm cho qúy huynh đệ trở nên mạnh mẽ và cương nghị trong việc phục vụ dân Chúa mà Chúa đã giao phó cho qúy huynh đệ, để sự quan tâm và cảnh giác của qúy huynh đệ thể hiện sự hiệp thông ngay cả trong sự thống nhất của một Nghi lễ duy nhất, trong đó sự phong phú tuyệt vời của truyền thống phụng vụ Rôma được bảo tồn. Tôi cầu nguyện cho qúy huynh đệ. Xin qúy huynh đệ cầu nguyện cho tôi.
Phanxicô
[1] Xem Công đồng chung Vatican II, Hiến chế tín lý về Giáo hội “Lumen Gentium”, ngày 21 tháng 11 năm 1964, số. 23 AAS 57 (1965) 27.
[2] Xem Bộ Phụng tự, Thư gửi các Chủ tịch các Hội đồng Giám mục “Quattuor abhinc annos”, ngày 3 tháng 10 năm 1984: AAS 76 (1984) 1088-1089.
[3] Đức Gioan Phaolô II, Tông thư dưới dạng Tự sắc “Ecclesia Dei”, ngày 2 tháng 7 năm 1988: AAS 80 (1998) 1495-1498.
[4] Đức Bênêđíctô XVI, Thư gửi các Giám mục nhân dịp công bố Tông thư “Dưới dạng Tự sắc” Summorum Pontificum về việc sử dụng Phụng vụ Rôma trước cuộc cải tổ năm 1970, ngày 7 tháng 7 năm 2007: AAS 99 (2007 ) 796.
[5] Đức Bênêđíctô XVI, Thư gửi các Giám mục nhân dịp công bố Tông thư “Dưới dạng Tự sắc” Summorum Pontificum về việc sử dụng Phụng vụ Rôma trước cuộc cải tổ năm 1970, ngày 7 tháng 7 năm 2007: AAS 99 (2007 ) 796.
[6] Đức Bênêđíctô XVI, Thư gửi các Giám mục nhân dịp công bố Tông thư “Dưới dạng Tự sắc” Summorum Pontificum về việc sử dụng Phụng vụ Rôma trước cuộc cải tổ năm 1970, ngày 7 tháng 7 năm 2007: AAS 99 (2007 ) 797.
[7] Đức Bênêđíctô XVI, Thư gửi các Giám mục nhân dịp công bố Tông thư “Dưới dạng Tự sắc” Summorum Pontificum về việc sử dụng Phụng vụ Rôma trước cuộc cải tổ năm 1970, ngày 7 tháng 7 năm 2007: AAS 99 (2007) 779.
[8] Đức Bênêđíctô XVI, Tông thư dưới dạng Tự sắc“Summorum Pontificum”, ngày 7 tháng 7 năm 2007: AAS 99 (2007) 779.
[9] Đức Bênêđíctô XVI, Thư gửi các Giám mục nhân dịp công bố Tông thư “Dưới dạng Tự sắc” Summorum Pontificum về việc sử dụng Phụng vụ Rôma trước cuộc cải tổ năm 1970, ngày 7 tháng 7 năm 2007: AAS 99 (2007 ) 796.
[10] Đức Bênêđíctô XVI, Thư gửi các Giám mục nhân dịp công bố Tông thư “Dưới dạng Tự sắc” Summorum Pontificum về việc sử dụng Phụng vụ Rôma trước cuộc cải tổ năm 1970, ngày 7 tháng 7 năm 2007: AAS 99 (2007 ) 797.
[11] Đức Bênêđíctô XVI, Thư gửi các Giám mục nhân dịp công bố Tông thư “Dưới dạng Tự sắc” Summorum Pontificum về việc sử dụng Phụng vụ Rôma trước cuộc cải tổ năm 1970, ngày 7 tháng 7 năm 2007: AAS 99 (2007 ) 798.
[12] Đức Bênêđíctô XVI, Thư gửi các Giám mục nhân dịp công bố Tông thư “Dưới dạng Tự sắc” Summorum Pontificum về việc sử dụng Phụng vụ Rôma trước cuộc cải tổ năm 1970, ngày 7 tháng 7 năm 2007: AAS 99 (2007 797-798.
[13] Đức Bênêđíctô XVI, Thư gửi các Giám mục nhân dịp công bố Tông thư “Dưới dạng Tự sắc” Summorum Pontificum về việc sử dụng Phụng vụ Rôma trước cuộc cải tổ năm 1970, ngày 7 tháng 7 năm 2007: AAS 99 (2007 ) 796.
[14] Xem Công đồng chung Vatican II, Hiến chế tín lý về Giáo hội “Lumen Gentium”, ngày 21 tháng 11 năm 1964, n. 23: AAS 57 (1965) 27.
[15] Xem Acta et Documenta Concilio Oecumenico Vaticano II apparando, Series I, Volumen II, 1960.
[16] Đức Piô XII, Thông điệp về phụng vụ thánh “Mediator Dei”, ngày 20 tháng 11 năm 1947: AAS 39 (1949) 521-595.
[17] Xem Công đồng chung Vatican II, Hiến chế về phụng vụ thánh “Sacrosanctum Concilium”, ngày 4 tháng 12 năm 1963, nn. 1, 14: AAS 56 (1964) 97.104.
[18] Xem Công đồng chung Vatican II, Hiến chế về phụng vụ thánh “Sacrosanctum Concilium”, ngày 4 tháng 12 năm 1963, n. 3: AAS 56 (1964) 98.
[19] Xem Công đồng chung Vatican II, Hiến chế về phụng vụ thánh “Sacrosanctum Concilium”, ngày 4 tháng 12 năm 1963, n. 4: AAS 56 (1964) 98.
[20] Missale Romanum ex decto Sacrosancti Oecumenici Concilii Vaticani II instauratum auctoritate Pauli PP. VI Issgatum, editio typica, 1970.
[21] Missale Romanum ex decto Sacrosancti Oecumenici Concilii Vaticani II instauratum auctoritate Pauli PP. VI promulgatum Ioannis Pauli PP. II cura reggnitum, editio typica altera, 1975; editio typica tertia, 2002; (reimpressio emendata 2008).
[22] Xem Công đồng chung Vatican II, Hiến chế về phụng vụ thánh “Sacrosanctum Concilium”, ngày 4 tháng 12 năm 1963, n. 3: AAS 56 (1964) 98.
[23] 1Cr 1,12-13.
[24] Xem Công đồng chung Vatican II, Hiến chế về phụng vụ thánh “Sacrosanctum Concilium”, ngày 4 tháng 12 năm 1963, n. 26: AAS 56 (1964) 107.
[25] Xem Công đồng chung Vatican II, Hiến chế tín lý về Giáo hội “Lumen Gentium”, ngày 21 tháng 11 năm 1964, n. 14: AAS 57 (1965) 19.
[26] Xem Công đồng chung Vatican II, Hiến chế về phụng vụ thánh “Sacrosanctum Concilium”, ngày 4 tháng 12 năm 1963, n. 6: AAS 56 (1964) 100.
[27] Xem Công đồng chung Vatican II, Hiến chế tín lý về Giáo hội “Lumen Gentium”, ngày 21 tháng 11 năm 1964, n. 23: AAS 57 (1965) 27.
[28] Xem Công đồng chung Vatican II, Hiến chế về phụng vụ thánh “Sacrosanctum Concilium”, ngày 4 tháng 12 năm 1963, n. 48: AAS 56 (1964) 113.
[29] Đức Phaolô VI, Tông hiến “Missale Romanum” về Sách lễ Rôma mới, ngày 3 tháng 4 năm 1969, AAS 61 (1969) 222.
[30] Xem Công đồng chung Vatican II, Hiến chế tín lý về Giáo hội “Lumen Gentium”, ngày 21 tháng 11 năm 1964, n. 13: AAS 57 (1965) 18.
Vũ Văn An
2021
CÁC THỪA TÁC VỤ TRONG GIÁO HỘI
GIÁO HỘI HỌC II – CHƯƠNG 13: CÁC THỪA TÁC VỤ TRONG GIÁO HỘI
Giáo hội của Ðức Kitô có một cơ cấu quản trị và chỉ đạo: Truyền thống gọi cơ cấu ấy là phẩm trật . Nhưng Tân Ước cho thấy là còn có nhiều hạng thừa tác viên khác nữa, với những tên gọi riêng; vậy, thử xem cho biết các danh xưng ấy mang ý nghĩa gì, và được xếp hạng theo trật tự nào.[1]
NHỮNG DANH HIỆU
Giáo hội sơ khai, tựa như một người sơ sinh, chưa tỏ rõ hết các chức năng, chưa phân biệt hết các chức vụ của mình; vậy, cũng như một cơ quan sống động: càng lớn lên thì càng tỏ rõ tài lực và chức năng của mình. Giáo hội cũng thế.[2]
Có những danh hiệu Tân Ước dùng đến, có thể được gọi là chung, vì áp dụng được cho tất cả; chẳng hạn như danh xưng đoũlos (“nô lệ, tôi tớ”) hoặc điákonos (“người phục vụ”), mà chính Ðức Giêsu cũng đã nói đến (x. Lc 17: 7). Mười hai tông đồ tự xưng là “tôi tớ” (x. Cv 4: 29), và thánh Phaolô đã dùng danh xưng ấy để giới thiệu mình (x. Rm 1: 1). Còn phận sự phục vụ nói chung thì được gọi là điakonía (“dịch vụ”), như thường đọc thấy trong Tân Ước (x. Cv 1: 17.27; 20: 24; 21: 19; Rm 11: 13, v.v.). Những thừa tác viên ngoài nhóm sứ đồ cũng được gọi như thế: Apollos là điákonos (x. 1Cr 3: 5) cũng như Tykhicos (x. Cl 4: 7; Ep 6: 1). Timôtêô và Êrastô là điákonoi của Phaolô (x. Cv 19: 22). Timôtêô là đoũlos (x. Pl 1: 1) và là điákonos của Thiên Chúa (x. 1Tx 3: 2), rồi cũng còn được gọi là ergátês (“người thợ:” 2Tm 2:15; x. 1Cr 16: 10), là “binh sĩ” (x. 2Tm 2: 3), như chính Phaolô đã nói về mình (x. 2Cr 10: 3). Lúc đầu, các danh xưng này chưa mang một ý nghĩa chuyên môn; nhiều lúc chỉ được dùng theo lối ẩn dụ.
CÁC THỪA TÁC VỤ
Khi đề cập đến các nhiệm vụ trong cộng đoàn, để “Nhờ đó, các thánh được chuẩn bị mà làm công việc phục vụ, là xây dựng thân thể Ðức Kitô” (Ep 4: 12), thánh Phaolô đã dùng đến một số danh hiệu rút từ truyền thống Do thái mà lược kê ra.[3] Ngài chỉ dựa theo nhu cầu cụ thể mà kể ra, chứ không có ý liệt kê đầy đủ tất cả. Thường thì các danh hiệu ấy được chia ra làm ba loại như sau:
- Thừa Tác Vụ Lời Nói
Thánh Phaolô đặt các nhiệm vụ này ở đầu danh sách, vì đời sống kitô bắt đầu bằng đức tin và đức tin đón nhận được nhờ lời nói (x. Rm 10: 17). Sau “tông đồ ” thường là đến các tiên tri , [4]tức là những người khuyên bảo cộng đoàn (x. Cv 15: 32) và giải nghĩa những điều Thiên Chúa mạc khải.[5] Bên cạnh đức ái, đoàn sủng hay nhiệm vụ này được Phaolô ca tụng nhiều nhất, vì đóng vai tích cực xây dựng Giáo hội (x. 1Cr 14: 1-5) và được Chúa đặt cùng với các tông đồ, làm nền móng của “nhà Thiên Chúa” (x. Ep 2: 20; 3:5). Vậy, đứng đầu là thừa tác vụ sứ đồ, vì sứ đồ làm chứng cho Ðức Kitô phục sinh và rao giảng kerygma; thứ đến là các tiên tri có phận vụ đào sâu “mầu nhiệm” trong cộng đoàn. Mọi tín hữu đều có thể được ơn tiên tri, bởi đó là một đặc sủng căn bảøn. Tân Ước còn nêu lên trường hợp các nữ tiên tri (x. 1Cr 11: 5), như bốn cô con gái của Philipphê (x. Cv 21: 9). Giáo hội đã có các tiên tri như thế trong những thế hệ đầu. Trong thời sách Ðiđakhê (đầu thế kỷ 2), xem ra là các tiên tri đã cùng với các tiến sĩ, đóng giữ vai trò quản trị cộng đoàn và cử hành lễ bẻ bánh.[6]
Các tiến sĩ (điđáscalos) là những thầy dạy giáo lý.[7] Họ được liệt kê cùng với các tiên tri và các vị chăn chiên (x. Ep 4: 11), và dường như họ thuộc về cơ chế của cộng đoàn. Là những người biết dạy dỗ, biết diễn dịch và gìn giữ giáo lý, họ quả là tổ tiên của các giáo lý viên và các nhà thần học. Các giảng viên Tin mừng (euaggelistés Ep 4: 11) có lẽ là những người làm việc thừa sai, như Philipphê (x. Cv 21: 8) và Timôtêô (x. 2Tm 4: 5).
Các danh hiệu trên đây không chỉ về một chức vụ đặc biệt, nhưng là về một tác vụ, bởi một tông đồ có thể làm tất cả các công tác ấy, và mặt khác, những nhiệm vụ khác nhau cũng được gọi bằng các tên gọi đó (x. Cv 13: 1). Một tông đồ cũng là tiến sĩ (x. 1Tm 2: 7; 2Tm 1: 11), là tiên tri (x. Cv 2: 16tt) và là giảng viên Tin mừng (x. 1Cr 1: 17).
- Thừa Tác Vụ Cứu Tế Từ Thiện
Thánh Phaolô nói đến chức vụ này trong câu 1Cr 12: 28 (antílempsis): đó là nhiệm vụ của trợ tá (x. 1Tm 3: 8-12). Lúc đầu, chính các tông đồ lo việc từ thiện, nhưng sau đó, các vị đã ủy thác cho các trợ tá (x. Cv 6); sau này, Phaolô vẫn còn coi đó là nghĩa vụ của mình (x. 2Cr 8: 4; 9: 6). Những điákonoi này là những nhân viên – hoặc là nam hay là nữ (x. Rm 16: 1) – lo việc phân phát của cải cho người nghèo (x. Rm 12: 8). Những điáconoi đầu tiên cũng có thể giảng lời Chúa như Philippê và Stêphanô. Lịch sử cho thấy là nhiệm vụ này đã biến thành chức vụ phó tế.
- Thừa Tác Vụ Quản Trị
Những cộng đồng kitô dù là sơ khai thì cũng không phải là những đám đông “vô trật tự,” nhưng đã được tổ chức như các cộng đồng tương tự đương thời, nhất là như các cộng đồng hội đường Do thái. Phaolô đã nói về kybérnesis, việc “quản trị ,” tổ chức “hành chánh” (x. 1Cr 12: 28), hoặc là về những người “đứng đầu” (proistámenoi),[8] cũng như đã đề cập đến những kẻ chăn dắt các giáo hữu.[9] Dường như các “của đầu mùa” (những người đầu tiên gia nhập cộng đoàn kitô) nhắc đến trong 1Cr 16: 15-16, cũng có nhiệm vụ này. Thư Do thái nhủ các tín hữu phải vâng lời những “lãnh đạo” của họ (x. Dt 13: 7.17), nghĩa là những người điều khiển cộng đoàn. Phổ biến nhất là danh hiệu kỳ mục (presbýteros: trưởng lão), gặp thấy lần đầu tiên ở Giêrusalem, khi cộng đoàn tại đây trở thành một đoàn thể dưới sự lãnh đạo của thánh Giacobê.[10] Những kỳ mục cũng xuất hiện trong các Giáo hội do Barnaba và Phaolô sáng lập (x. Cv 14: 23; 20: 17), và trong hai ba thế hệ sau, chức vụ này đã rộng rãi có mặt ở khắp nơi.[11] Tuy nhiên, danh xưng này không hẳn chỉ về một chức vụ xác định, vì tông đồ Phêrô cũng tự xưng là “đồng kỳ mục” (sympresbýteros: 1Pr 5: 1) hệt như tác giả của các thứ hai và thứ ba của Gioan.
Nhiẹâm vụ kỳ mục là: chăn chiên Chúa (1Pr 5: 1; Cv 20: 28), coi sóc (1Pr 5: 2 = episcopéô, x. Cv 20: 28), chủ tọa cộng đoàn (1Tm 5: 17). Hình như họ hoạt động không theo kiểu riêng biệt nhưng là theo đường lối tập đoàn, vì thánh Phaolô thường dùng số nhiều để nói về họ, hệt như khi nói về các epíscopoi và điakónoi (1Ts 5: 12; Pl 1: 1).
Tình huống Giáo hội đã từ từ biến đổi như đọc thấy ở trong các thư mục vụ: tác giả nói về những kỳ mục, trong khi chỉ nói về một giám sư (epíscopos) duy nhất trong cộng đoàn.[12] Nhân vật này phải biết dạy dỗ (x. 1Tm 3: 2; Tt 1: 9), giữ phận vụ chủ tọa (x. 1Tm 3: 4-5), và được gọi là quản lý (oikonómos) của Thiên Chúa (x. Tt 1: 7) như chính Phaolô và Apollos (1Cr 4: 1) vậy. Tổ chức của Giáo hội ngày càng rõ ràng và quy củ hơn, tựa như tình trạng thánh Inhaxiô Antiôkia miêu tả hồi đầu thế kỷ thứ hai.
Các nhiệm vụ trên đây đều tiến hành hoạt động trong các cộng đoàn địa phương. Nhưng bao lâu còn sống, thì các tông đồ (ít nhất là thánh Phaolô) vẫn tiếp tục – hoặc là trực tiếp hay là gián tiếp qua ủy viên như Timôtêô và Titô – coi sóc các Giáo hội họ đã sáng lập. Về phận sự và quyền hạn của các chức vụ ấy thì chưa ai biết được gì rõ; chỉ biết là viên chức ấy thông phần vào phận vụ của các tông đồ tùy hoàn cảnh và tùy từng cá nhân. Nhưng, với thời gian thì càng thấy rõ là có một quy củ chung, chứ không phải chỉ để tùy sáng kiến của mỗi cộng đoàn. Quả vậy, từ rất xa xưa, các cộng đoàn kitô vẫn hằng cẩn trọng trung thành bước theo đường lối của “truyền thống” (x. 1Cr 11: 23; 15: 3).
Hãy thử xem phận sự của những nhiệm vụ chính.
- Tông Ðồ
Trong tất cả các danh sách liệt kê các nhiệm vụ, bao giờ tông đồ (apóstolos ) cũng đứng đầu; tất thảy các nhiệm vụ khác đều phát sinh từ tác vụ tông đồ (sứ đồ).
Nhưng, ai là “tông đồ”? Trong Tân Ước, có thể nhận ra hai cách quan niệm: đối với Luca, tông đồ là chứng nhân; còn Phaolô thì quan niệm tông đồ là thừa sai. Thánh Luca hiểu Nhóm Mười Hai là nhóm các tông đồ, và làm như chính Ðức Giêsu cũng đã gọi họ bằng danh hiệu ấy (x. Lc 6: 13).[13] Thực ra, trước ai hết, Phaolô đã nhận các vị là tông đồ (x. Gl 1: 17). Sách Khải huyền cũng tán đồng với Luca khi dùng đến cách xưng hô “mười hai tông đồ” (Kh 21: 14). Tuy nhiên, dường như danh hiệu này chỉ xuất hiện sau khi Ðức Giêsu đã lên trời.
Ngoài “mười hai môn đệ” ra, Tân Ước còn nói đến một số “tông đồ” khác. Phaolô kể ra những tông đồ lưng danh nhất (x. Gl 1: 17-19; 2: 8-9) là Phêrô, Gioan và Giacôbê (Giacôbê này không thuộc Nhóm 12). Sau đó thì có Phaolô và Barnaba (x. 1Cr 9: 5; Cv 14: 14). Vì apóstolos có nghĩa là sứ giả; thế nên, Tân Ước đã nói về những sứ giả của Ðức Kitô và những sứ giả của các Giáo hội (x. 2Cr 8: 23): như Eâpaphrôđitô (x. Pl 2: 25). Thánh Phaolô coi Anđrônicô và Giunia là những người “xuất sắc trong các tông đồ” (Rm 16:7; dù có lẽ nên dịch câu này là “xuất sắc cho các tông đồ”). Danh hiệu “tông đồ” được dùng rộng ra – và cả lạm dụng nữa – trong những thế hệ sau (x. Kh 2: 2): sách Ðiđakhê và thánh Clêmentê nói về những tông đồ còn hoạt động trong các Giáo hội; Clêmentê Alêxanđria († 215) gọi Clêmentê thành Rôma († 96) là tông đồ.[14] Mỉa mai, thánh Phaolô đã lấy tên “siêu sứ đồ” (2Cr 11:5: 12:11) mà đặt cho các “sứ đồ giả” (2Cr 11: 13). Vì thế, chỉ đơn thuần dựa theo danh hiệu “tông đồ” mà thôi, thì không thể biết được địa vị và phận vụ của những người được gọi như thế ở trong Giáo hội. Ðặc tính của các tông đồ “hàng đầu” hay nghĩa hẹp, là:
— Ðã tận mắt nhìn thấy Ðức Kitô phục sinh, và được gọi là “chứng nhân” (Cv 1: 2t; 1Cr 15: 5-7). Luca còn đòi hỏi thêm là đã từng “đồng hành” với Ðức Giêsu sinh tiền;
— Ðã được Chúa phái đi rao giảng Tin mừng (x. Rm 1: 1; 1Cr 1: 1-2; 2Cr 1: 1; Cl 1: 1; Ep 1: 1; Gl 1: 15-16);
— Ðã được phái đi với quyền của Ngài (x. Mt 28: 18t; Mc 16: 16; Lc 24: 27; Ga 13: 20; 20: 21-3);
— Làm nền móng của Giáo hội (x. Ep 2: 20).
Nhiệm vụ của các tông đồ cốt tại ở công tác rao giảng Tin mừng, vì đó là nhu cầu số một trong giai đoạn sáng lập Giáo hội; rồi còn phải rửa tội và thiết lập cộng đoàn. Trong Giáo hội, các ngài chủ tọa, tức là huấn dục các tín hữu, đứng đầu các bữa bẻ bánh và coi sóc việc từ thiện. Diễn đạt theo lối thần học, thánh Phaolô gọi đó là thừa tác vụ hòa giải (x. 2Cr 5: 18).
- Những Hợp Tác Viên Của Các Tông Ðồ
Quá trình thành tựu phẩm trật của Giáo hội bắt đầu với các tông đồ; rồi sau đó, các ngài chia sẻ phận vụ của mình với một số người hợp tác. Như vậy, phận sự tổng quát duy nhất của các tông đồ được chia thành nhiều phận vụ riêng biệt khác nhau; và cuối cùng, khi các ngài vắng mặt hoặc mất đi, thì những người hợp tác ấy kế nhiệm vào những phận vụ riêng biệt này.[15]
Trong cộng đoàn Giêrusalem , các tông đồ đã chia sẻ một phần của nhiệm vụ của mình cho bảy vị trợ tá (x. Cv 6: 6). Khi Giáo hội bị bách hại lần đầu (x. Cv 8: 1), các môn đồ di tản và nhiều cộng đoàn được sáng lập. Nhưng các tông đồ vẫn đảm nhận trách nhiệm về họ (x. Cv 8: 14t), dù các cộng đoàn ấy đã có người đứng đầu; chẳng hạn như ở Ðamát có Anania (x. Cv 9: 10). Một số năm sau, Giáo hội Giêrusalem có cả một đoàn kỳ mục dưới quyền lãnh đạo của Giacobê, người “anh em” Ðức Giêsu. Ðó là thể chế gốc hay mẫu của các địa phận: đặt dưới quyền cai quản của một giám mục với sự hợp tác của một linh mục đoàn.
Các kỳ mục xuất hiện trong nhiều Giáo hội. Trước hết là tại Giêrusalem (x. Cv 11: 30); sau đó, Barnaba và Phaolô bổ nhiệm kỳ mục trong Giáo hội lương dân (x. Cv 14: 23), dù có lẽ với danh hiệu khác. Thời các thư mục vụ, những kỳ mục là thành phần trong cơ chế của các Giáo hội địa phương.[16] Những “giám sự” (epískopos) được giới thiệu lần đầu tiên ở Cv 20: 28, dù có lẽ chính Phaolô chưa dùng đến danh xưng ấy. Nhưng Phaolô đã gọi họ như thế ở trong Ph 1:1. Trong tiếng Hy lạp, từø epískopos được dùng để gọi những người giám sát. Nhưng chắc chắn là trong Giáo hội, từ ấy mang ý nghĩa lấy từ thế giới Do thái. Trong Cựu Ước (bản LXX ), epískopos chỉ về một phụ tá cai quản một nhóm (x. Tl 9: 28), hoặc là một tướng tá (x. 31: 14), hay là người trông nom (x. 2V 11: 18). Thời các tông đồ, phái Êssêniô có chức vụ gọi là mebaqqer (Hy bá), tức epíscopos (Hy lạp), là viên giám sự quản trị một cộng đoàn. Ðương nhiên là về mặt đó, Giáo hội đã chịu ảnh hưởng của tổ chức này. “Giám sự” mà các thư mục vụ giới thiệu thì rất giống “giám mục ” của truyền thống kitô; và nhiệm vụ episkopê (“giám sát”) lại được miêu tả hệt giống nhiệm vụ của một tông đồ (x. Cv 1: 20) hoặc của một niêm trưởng (x. 1Pr 5: 2), tức là nhiệm vụ điều khiển cộng đoàn. Lúc đầu, tưởng chừng như hai danh hiệu này mang cùng một ý nghĩa, chỉ được dùng thay nhau tùy chỗ, nhưng dần dần rõ ràng là “giám sự” đã được dành để chỉ người có phận vụ lãnh đạo côïng đoàn, tức là “giám mục.”
Ðiákonos là tên gọi chung, có nghĩa: “tôi tớ, người hầu;” nhưng vào giữa thế kỷ thứ nhất, thư Philipphê 1: 1 đã liệt kê các điákonoi – mà thường được dịch ra là những phó teá – cùng với các epíscopoi. Vì thường đi liền theo sau các “giám sự,” trong những bản liệt kê, nên các điákonoi được coi là thuộc viên của “giám sự.” 1Tm 3: 8-13 cũng nói là các “phó tế” ấy ở dưới quyền của giám mục. Họ cũng làm thành một đoàn thể; nhưng thời ấy họ giữ phận vụ gì thì không ai rõ.[17]
Thể Chế Quản Trị Cộng Ðoàn
Giáo hội sơ khai có một thể chế tập đoàn.[18] Ðức Giêsu triệu tập Nhóm 12 tông đồ như một đơn vị riêng biệt; sau phục sinh, Mátthia thay thế Giuđa. Phêrô có một địa vị đặc thù, nhưng không dùng quyền cai quản các tông đồ khác. Toàn nhóm “Mười Hai” thiết lập bảy trợ tá (x. Cv 6: 2); “các tông đồ” cử Phêrô và Gioan đi Samaria (x. Cv 8: 14) và sau vụ Cornêliô, Phêrô minh trình sự việc và cách xử sự của mình trước “các tông đồ và các anh em” (x. Cv 11: 1t). Cung cách làm việc tập đoàn như thế tỏ lộ trong cuộc họp gọi là công đồng Giêrusalem : “các tông đồ và các kỳ mục” triệu tập, xét xử và quyết định (x. Cv 15: 2.4.6.22.23; 16: 4). Giáo hội Antiôkia cũng đã làm việc theo cung cách tập đoàn như vậy, nhưng lại không có tông đồ; thế nên “Giáo hội” đã phái gửi Barnaba và Phaolô đến, sau khi đặt tay trên họ (x. Cv 13: 2-3). Các văn kiện luôn luôn nói về các kỳ mục và giám sự trong số nhiều,[19] như là thuộc về cùng một đoàn nhóm, một trật bậc.
Thể chế tập đoàn này phát nguồn từ gốc Do thái. Thành ngữ “các tông đồ và các kỳ mục” là một dạng song song của cách nói “các thượng tế và các kỳ mục” (x. Cv 23: 14; 25: 15). Vì thế, có thể giả thiết là mỗi tập đoàn có một vị đứng đầu. Hình như “giám sự” là kỳ mục được chọn làm chủ tịch, nơi thì lần lượt hoặc theo nhiệm kỳ ngắn, nơi thì trong một thời gian dài hơn. Lúc đầu, “phẩm trật” chỉ có hai bậc: kỳ mục hay giám sự và trợ tá; và trong thời các thư mục vụ, thì đã thấy có ba bậc: giám sự, kỳ mục và trọ tá, dù những phâän vụ của họ chưa phân định cho rõ lắm. Ðầu thế kỷ thứ hai, ba bậc ấy đã được phân biệt rõ, và đó là các bậc: giám mục, linh mục, và phó tế.
Như thế, Giáo hội sơ khai đã có một phẩm trật sơ khai. Lúc đầu, trọng tâm là rao giảng Tin mừng, thứ đến mới lo đến việc tổ chức; và cơ cấu tổ chức biến phát cho đến thời trưởng thành, khi trong Giáo hội thấy xuất hiện rõ phẩm trật ba bậc. Chẳng thế mà L. Cerfaux đã chia quá trình tiến phát của Giáo hội ra ba giai đoạn như sau: “Giáo hội của sứ điệp; Giáo hội được tổ chức và quản trị, Giáo hội có phẩm trật.”[20]
[HTTH SỐ 20&21, NĂM THỨ TÁM (1998)]
[1] Xem “The Ministry in the New Testament. Recent Research,” Bibl.Theol.Bull. 3(1973) 133-176; Collins, J. N. , Diakonia, Re-interpreting the Ancient Sources, Oxford U.P. 1990
[2] Xem McKenzie, J.L. , “The Ministerial Structures in the New Testament,” Concilium 1972/8,13-22; Le ministère et les ministères, selon le Nouveau Testament, Paris: Seuil 1974; Bartlett, David , Ministry in the New Testament, Fortress: Minneapolis 1993.
[3] Xem 1Cr 12: 28-31; Rm 12: 6-8; Ep 4: 11; 1Pr 4: 10-11 cũng có danh sách tương tự.
[4] 1Cr 12: 28; Rm 12: 6; Ep 4: 11, cũng như ở Cv 11:27; 13:1; 21:10 và ở sách Ðiđakhé.
[5] 1Cr 14: 6.26.30; Ep 3: 5; Cv 13: 1.
[6] Ðiđakhê 10,15; 11,3,7-12; 13.1,3,6; 10,1.
[7] 1Cr 12: 28; Ep 4: 11; Rm 12: 7, cũng như Cv 13: 1, và Ðiđakhê 13,2.
[8] Rm 12: 8; 1Ts 5: 12-13
[9] Ep 4: 11; Cv 20: 28; xem 1Pr 5: 2, Ga 21: 16.
[10] Xem Cv 11: 30; 12: 17; 15: 2-6.22; 16: 4; 21: 8
[11] Xem Gcb 5: 14; 1Tm 5; Tt 1: 5; 1Pr 5: 1-5; 2Ga 1; 3Ga 1; xem Campbell, R. A. , The Elders: seniority within earliest Christianity, Edinburgh: T&T Clark 1994
[12] Xem 1Tm 5: 17-22; Tt 1: 5tt; 1Tm 3: 1-7; Tt 1: 7-9.
[13] Luca không gọi Phaolô là “tông đồ” trừ ra ở Cv 14: 4.14, mà L. Cerfaux cho là “c’est une distraction.” Xem thêm Agnew, F. , “The Origin of the New Testament Apostle-Concept: A Review of Research,” Journ.of Bibl. Lit. 105 (1986) 75-96.
[14] Xem Stromata 4.17.
[15] Lemaire, A. , Les Ministères aux origines de l’Église. Naissance de la triple hiérarchie: évêques, prêtres, diacres, Paris: Cerf 1971; Congar, Y. , Ministère et communion ecclésiale, Paris: Cerf 1971; Lohfink, G. , L’Église que voulait Jésus, Paris: Cerf 1985.
[16] Inhaxiô Antiokia nói về họ ở Tiểu Á, cũng như Clêmentê thành Rôma ở Corinthô, và phải giả thiết ở Rôma nữa.
[17] Xem Lecuyer, J. , Le diacre dans le monde et l’Église d’aujourd’hui, Paris: Cerf 1966, trg. 20-23.
[18] Xem Lyonnet, S. , “La collégialité épiscopale et ses fondements scripturaires,” trong Barauna, G. (ed), L’Église de Vatican II, Paris: Cerf 1966, trg. 829-846.
[19] Về những kỳ mục: Cv 20: 17; 21: 18; Tt 1: 5; Dt 11: 2; Gcb 5: 14; 1Pr 5: 1.5; 1Tm 4: 14 có presbyterion (hàng kỳ mục); về những giám sự: Cv 20: 28; Pl 1: 1.
[20] Cerfaux, L. , La théologie de l’Église suivant Saint Paul, 378-379.
