2021
Cây cột biểu tượng Chúa Ba Ngôi nổi tiếng ở Áo
Cây cột biểu tượng Chúa Ba Ngôi nổi tiếng ở Áo
Một trong hai “Plague Column” còn tồn tại đến ngày nay đang nằm ở thủ đô Vienna của Áo, trở thành điểm nương tựa tinh thần của nhiều người trong lúc dịch Covid-19 tấn công châu Âu và thế giới.
Từ Constantinople đến London, những nơi từng trải qua các đợt dịch hạch tấn công trong nhiều thế kỷ, các thành phố và thị trấn châu Âu có thói quen dựng nên tượng đài ở những quảng trường quan trọng của đô thị sau khi đại nạn qua đi. Hình mẫu chung của các thức cột tuân thủ theo tiêu chuẩn kiến trúc Corinth hoặc Doric, được xây dựng trên một bệ vuông và bao quanh là các bức tượng. Tên gọi chung của chúng là “Plague Column” (tạm dịch: Cột dịch hạch). Nổi bật trong số đó là “Plague Column” ở thành Vienna, được xây dựng vào thời điểm dịch hạch càn quét nơi này vào năm 1679.
![]() |
Cây cột của Lòng Thương Xót
Từ thế kỷ 14 trở về sau, thủ đô Áo thường xuyên trở thành mục tiêu của “Cái chết Ðen”, chỉ nạn dịch hạch hoành hành châu Âu thời xưa. Khi dịch hạch tấn công thành Vienna vào năm 1679, hoàng đế Leopold I trước khi lên đường lánh nạn đã cho xây “Plague Column” như là một biểu tượng của đức tin vào Chúa Ba Ngôi. Ngày nay, người dân thủ đô Áo đang đặt niềm hy vọng vào tượng đài từ thế kỷ 17 và cầu nguyện cho dịch Covid-19 sớm chấm dứt.
Vào năm 1679, thành Vienna đối mặt với đợt bùng phát dịch hạnh khủng khiếp, gieo rắc cái chết đen cho khoảng 75.000 người. Thời điểm đó, Vienna là kinh đô trù phú và vô cùng phát triển của đế quốc Áo – Hung, cai trị lãnh thổ ngày nay trải dài từ Áo, Ðức, Ý vào giai đoạn 1867 – 1918. Hoàng đế Leopold I buộc phải rời khỏi kinh đô để tránh dịch. Tuy nhiên, vị quân chủ quyết định để lại một dấu ấn của sự hy vọng, của đức tin vào Thiên Chúa có thể ngăn chặn và chấm dứt đại dịch chết chóc. Vua Leopold I đã chọn thiết kế “cây cột của Lòng Thương Xót” với hình tượng Chúa Ba Ngôi và 9 thiên thần.
![]() |
Ðể vinh danh Chúa Ba Ngôi, người thời xưa đã thể hiện nhiều cách khác nhau khi phác thảo kiến trúc của cột. Phần trên của bệ đỡ thể hiện hình ảnh hoàng đế Leopold I quỳ xuống cầu nguyện, xin Thiên Chúa đẩy lùi dịch bệnh. Và ở đỉnh cột là biểu tượng của Chúa Ba Ngôi, thể hiện lòng biết ơn của người dân thành Vienna vì sự can thiệp của Chúa trước nạn dịch. Trong khi đó, biểu tượng của dịch hạch được phác họa ở phần đế của cấu trúc, thể hiện qua hình ảnh một nhân vật nữ có bề ngoài hung ác đang bị một thiên thần và một cô gái cầm thánh giá đẩy lui.
Ban đầu, một thợ điêu khắc của thành Vienna tên Johann Frühwirth đã dựng lên một cây cột thô bằng gỗ. Trải qua 11 năm và với sự góp sức từ bàn tay của nhiều thợ điêu khắc và kiến trúc sư, nổi tiếng nhất có lẽ là Johann Bernhard Fischer von Erlach (kiến trúc sư của cung đình Áo -Hung), phiên bản cuối cùng của cây cột chính thức được khánh thành vào năm 1694. Trong quá trình xây dựng, “Plague Column” còn là biểu tượng của chiến thắng quân sự vĩ đại của đế quốc Áo – Hung trước cuộc xâm lăng vào năm 1683 của đế quốc Ottoman hung hãn.
![]() |
Nơi nương tựa tinh thần
Với độ cao 21m và xây theo kiến trúc Baroque, Plague Column giờ đây trở thành biểu tượng quan trọng của thủ đô Áo. Trong những tuần dịch Covid-19 lan tràn khắp châu Âu và tấn công nhiều nước, trong đó có Áo, tượng đài cổ xưa đã trở thành địa điểm hành hương. Nhiều người dân thành Vienna tìm đến nơi, đặt hoa, thắp nến và cùng cầu nguyện cho đại dịch sớm ngày chấm dứt. “Cầu xin Chúa hãy bảo vệ những người thân yêu của con trước dịch Covid-19”, theo nội dung một thông điệp trên giấy đặt ở tượng đài. Một bức vẽ của trẻ con cũng có dòng chữ “xin bảo vệ chúng con trước dịch bệnh”, theo trang tin euronews.com. Một người dân địa phương cũng chia sẻ bà đã đến đây cầu nguyện “cho một thế giới tốt đẹp hơn và cơn khủng hoảng mang tên Covid-19 nhanh chóng được xử lý”.
Nếu thời xưa, Plague Column tượng trưng cho chiến thắng trước dịch hạch, giờ đây người thời nay một lần nữa khám phá lại thông điệp này trong bối cảnh Áo cũng như phần còn lại của châu Âu chiến đấu trước dịch Covid-19. Sử gia nghệ thuật Elena Holzhausen của Tổng Giáo phận Vienna nhận xét rằng “thật tốt khi có những nơi như thế” để con người có thể trút bớt nỗi lo lắng, muộn phiền, sợ hãi và ngóng nhìn về một tương lai tươi sáng hơn. “Ðó là nơi chốn nhắc nhở cha ông chúng ta từng vượt qua giai đoạn khó khăn”, bà cho biết, và vì vậy, “chúng ta cũng sẽ như thế”.
2021
Những lời nguyện tắt kính Thánh Tâm Chúa Giêsu
Những lời nguyện tắt kính Thánh Tâm Chúa Giêsu
Chúa Giêsu đã dạy các môn đệ phải “tỉnh thức và cầu nguyện luôn”, “đừng sờn lòng nản chí”[1] và Ngài cũng lưu ý là “đừng lải nhải như dân ngoại”[2] vì không phải hễ nói nhiều là được nhận lời. Hiểu rõ ý nghĩa của việc cầu nguyện, thánh Biển Đức đã dạy các môn sinh của mình: “Chẳng phải do nhiều lời nhưng chỉ cần một tấm lòng thanh sạch, hòa với dòng lệ thống hối là được Chúa nhận lời. Vì thế, lời cầu nguyện phải ngắn gọn – tinh tuyền”.[3]
Truyền thống Giáo hội kể lại rằng: Vào khoảng thế kỷ III, từ các giáo phụ sống trong sa mạc cho tới nhóm người hành hương Nga, từ các vị đan tu Tây phương cho tới Ðông phương, tất cả chỉ có một ưu tư, một tìm kiếm say mê: đó là có thể thực hành một lời cầu nguyện kiên trì được rút từ một câu Kinh Thánh hoặc một lời dốc lòng để lặp đi lặp lại suốt ngày sống, thúc giục lòng yêu mến và sự kết hiệp mật thiết với Chúa. Do đó, đã xuất hiện một trào lưu cầu nguyện mới với tên gọi “lời nguyện tắt”, “lời nguyện bắn tên” hoặc nói theo kiểu của Cassien là “cầu nguyện bằng lửa”. Hình thức cầu nguyện này giúp cho các đan sĩ dễ dàng liên lỉ kết hợp với Chúa trong cô tịch và thanh vắng.
![]() |
Trải dài suốt nhiều thế kỷ, hình thức cầu nguyện này đã nuôi dưỡng nhiều tâm hồn sống tràn đầy thiện hảo trong ân sủng và tương quan mật thiết với Chúa. Trong những ngày còn lại của tháng kính Thánh Tâm Chúa và tiếp tục trong đời sống thường ngày của chúng ta, hẳn chúng ta cũng nên dùng những “lời nguyện tắt kính Thánh Tâm Chúa Giêsu” như những “mũi tên lửa” của tâm hồn khát khao tình yêu, bắn vào trái tim thương xót của Chúa Giêsu làm tuôn trào mạnh nguồn sự sống và dòng nước ân sủng, từ đó chúng ta được nuôi dưỡng, được “sống và sống dồi dào”.[4]
Kho tàng của Giáo hội ngập tràn những lời kinh nguyện vắn tắt và cô đọng, tuy nhiên chúng ta được đánh động bởi những lời cầu nguyện giúp ta dễ dàng sà vào cung lòng Chúa, nương ẩn nơi Trái Tim Rất Thánh của Chúa trong mọi nơi mọi lúc:
Khi chìm ngập trong lỗi tội, ta khao khát lòng thương xót bao dung, miệng và lòng ta thốt lên lời nguyện tắt: “Lạy rất Thánh Trái Tim Đức Chúa Giêsu, xin thương xót chúng con”.
Khi ta khô khan nguội lạnh, lúc ta chán nản muốn xa lìa Chúa, tim ta rung lên lời: “Lạy Trái Tim nhân lành Đức Chúa Giêsu, xin ban cho con kính mến Trái Tim Chúa mỗi ngày một hơn”.
Khi ta khó ứng xử giữa dòng đời vạn biến, ta lặp đi lặp lại lời nguyện: “Lạy Chúa Giêsu hiền lành và khiêm nhường trong lòng, xin uốn lòng con nên giống Trái Tim Chúa”.
Với việc suốt ngày chỉ lặp đi lặp lại cùng một lời kinh có vẻ như đơn điệu và nhàm chán, nhưng nhờ tác động yêu mến của con tim ta sẽ dần dần có được một cảm thức nhạy bén để “sống trước sự hiện diện của Thiên Chúa”.[5] Linh phụ Jean Cas-si-en tin rằng, một lời kinh được lặp đi lặp lại, có sức thống nhất tâm hồn. Vì thế, để lời cầu nguyện chúng ta đạt kết quả tốt, chúng ta phải kết hợp suy nghĩ của khối óc với ước muốn trong con tim, và mọi tác động của giác quan sao cho thống nhất hài hòa.
![]() |
Lời nguyện vắn tắt là phương thế giúp ta sống trong trạng thái cầu nguyện liên lỉ. Vì thế giáo phụ Caisianô nói: “Tột đỉnh của sự trọn lành là biến tất cả cuộc sống với mọi nhịp đập của con tim của chúng ta trở thành một lời cầu duy nhất không ngưng nghỉ”. Quả vậy, tim chạm vào tim, lòng chạm vào lòng, khát khao nên thánh và nên hoàn thiện của chúng ta chạm vào Trái Tim Cực Thánh của Chúa Giêsu bằng những lời nguyện tắt kết hiệp, lẽ nào không là việc của yêu mến hết tình ta dành cho Chúa sao?
Hỡi ai vất vả gánh gian nan
Đường đời khốn khổ ách lầm than
Đến đây Ta sẽ cho bổ sức
Nương náu Thánh Tâm chốn an nhàn.
Hãy học với Ta đức khiêm nhường
Hiền lành nhân hậu và dễ thương
Rồi ách của con, nên êm ái
Và gánh của con, sẽ nhẹ nhàng.
Xin Chúa cho con chỗ náu nương
Trong Thánh Tâm Chúa tràn yêu thương
Nghỉ ngơi, bổ dưỡng bằng Thánh Thể
Thần lực nuôi con suốt dặm trường.
Xin Chúa cho con học hiểu bài
Thực hành trong suốt cõi trần ai
Trở nên nhân chứng tình yêu Chúa
Đời đời danh Chúa rạng, chẳng phai.
Nt Maria Thérèse Minh Thùy, dòng Đaminh Rosa Lima
1 Lc 21,36; Lc 18,1
2 Mt 6,7
3 Tu luật thánh Biển Đức, chương 20,3-4
4 Ga 10,10
5 St 17,1
2021
Kibeho: Cuộc hiện ra duy nhất của Đức Mẹ được công nhận ở Phi Châu
2021
5 điều thú vị về Giáo Hội Công Giáo mà có thể bạn chưa biết
5 điều thú vị về Giáo Hội Công Giáo mà có thể bạn chưa biết
Phần lớn thời gian, Giáo Hội Công Giáo được gọi chính thức là “Giáo Hội Công Giáo Rôma”. Có nhiều lý do lịch sử sau chuyện đó. Tuy nhiên, tên gọi đôi khi gây hiểu nhầm – Giáo Hội Công Giáo không hẳn là duy nhất Rôma. Hội Thánh này bao gồm 24 Giáo Hội riêng biệt, trong đó Hội Thánh Rôma Latinh là Giáo Hội lớn nhất.
Chữ “công giáo” nghĩa là hoàn vũ, xuất phát từ chữ gốc Hy Lạp katholikos. Chữ này lần đầu tiên được dùng bởi Thánh Inhaxiô Antiôkhia trong lá thư gửi tín hữu Ximiếcna vào khoảng năm 110, và được các giáo phụ khác sử dụng lại trong nhiều văn bản và bài giảng, đặc biệt trong các cuộc diễn thuyết giáo lý của Thánh Xyrilô Giêrusalem. Chữ “Công Giáo” được dùng một cách nghiêm túc và có tính thẩm quyền để chỉ Kitô Giáo như tôn giáo chính thức của đế quốc La Mã, cả Đông lẫn Tây, trong sắc lệnh De Fide Catholica của vua Theodosius vào năm 380.
Cách ngắn gọn, Công Giáo không đơn thuần là một truyền thống đồng nhất. Thực tế, Hội Thánh khá đa diện, phong phú, và thỉnh thoảng là khác biệt nữa. Mỗi Giáo Hội trong 24 Giáo Hội cấu thành Công Giáo (thuộc các nghi lễ Eritrean, Maronite, Syriac, Greek Byzantine, Ethiopian, Coptic) đều có các phụng tự, tinh thần, nền thần học, truyền thống giáo luật riêng, đã được bảo tồn và thừa kế từ thế hệ này sang thế hệ khác. Đó là những di sản đa dạng phức tạp mà từ đó hình thành nên tính hoàn vũ, tức là tính công giáo của Hội Thánh. Và đương nhiên, có nhiều điều mà bạn có thể chưa biết về Hội Thánh ấy. Ở đây, chúng ta hãy tìm hiểu 5 điểm thú vị về Giáo Hội Công Giáo.
- Trường đại học là phát minh của Công Giáo
Gọi Trung Cổ là thời kỳ tăm tối là một điều rỗng tuếch. Thuật ngữ “đêm trường Trung Cổ” là do những nhà nhân văn thời Phục Hưng tạo ra để cho rằng họ là những người thừa kế trực tiếp của thời cổ đại.
Hệ thống đại học được phát triển ở châu Âu trong các “trường chính toà”: đầu tiên, các học viện, thường gắn liền với tu viện hoặc nhà thờ chính toà, được dành cho các giáo sĩ muốn học giáo luật, thần học hoặc triết học. Không lâu sau đó, những trường này được mở cửa cho cả giới giáo dân, và trở thành các trung tâm học vấn, cấp các chứng chỉ y như ngày nay ta vẫn cấp: bằng cử nhân, thạc sĩ và tiến sĩ.
- Các tu sĩ đã phát minh ra nước hoa
Vài năm sau khi tu viện Thánh Giacomo của dòng Cathusian hoàn thành (thế kỷ 14), người tu viện trưởng đã ngạc nhiên khi nghe tin vị nữ hoàng trước đó hiến đất cho tu viện, Giovanna de Angio, sắp thăm tu viện. Ngài vội vàng trưng bày các bông hoa đẹp nhất của khu đất để đón bà.
Khi nữ hoàng rời đi, các bông hoa chuẩn bị được vứt bỏ, tu viện trưởng phát hiện ra rằng nước (3 ngày chưa được thay) đã nhiễm một mùi thơm mà ngài chưa từng biết. Ngài đem nước đó đến cho một tu sĩ thực vật học để tìm nguồn gốc; kết quả là mùi hương phát xuất từ “garofilum silvestre caprese”. Thứ nước đó về sau trở thành nước hoa đầu tiên của đảo Capri.
- Có một nghi thức chính thức của Giáo Hội để chúc lành cho phô mai
Chương VIII của Rituale Romanum (Nghi Thức Rôma), một quyển sổ tay phụng tự có từ năm 1614, có những nghi thức chúc lành đặc biệt cho mọi thứ mà bạn có thể sử dụng trong cuộc sống. Chương này có tên “Chúc lành những vật dùng được dành để dùng hằng ngày”. Trong đó, có nghi thức chúc lành cho bơ, hạt giống, muối, thức ăn động vật, tàu đánh cá, dụng cụ leo núi, và cả bia.
- Vị Giáo Hoàng cuối cùng để râu là vào năm 1691
Đó là Đức Giáo Hoàng Innôcentê XII, trị vì từ 1691 đến 1700.
Hầu hết người Hy Lạp và La Mã trong thời Chúa Giêsu đều để râu. Trong các bức hoạ rất cổ về phép rửa của Chúa Giêsu, Người không có râu, không như các bức hoạ bên Đông phương Byzantine. Vào khoảng thế kỷ VI, giáo luật ở Anh yêu cầu các giáo sĩ không cho phép tóc và râu mọc tự do.
Luật cấm này sau đó được thúc đẩy nghiêm ngặt hơn trong suốt thời Trung Cổ. Công đồng Toulouse ra lệnh sẽ vạ tuyệt thông các giáo sĩ để râu tóc dài như giáo dân. Tuy nhiên, luật đó lại cho để râu ngắn, được chải chuốt.
Tuy nhiên, nhiều người lại cho rằng râu ria trên mặt tượng trưng cho vô số tội lỗi. Cạo râu biểu trưng cho sự cắt bỏ tội lỗi và những thói quen, không chỉ thói xấu mà cả những thói không cần thiết, như râu trên mặt là thứ hoàn toàn vô dụng và không cần thiết. Ngoài ra, cũng có một lý do thực tế khác cho việc không để râu liên quan đến phụng vụ: để râu sẽ ảnh hưởng đến việc môi chạm vào chén thánh gây bất kính.
- “Guadalupe” không phải là một cái tên xuất phát từ Mêxicô
Thực tế, Guadalupe cũng không phải là một cái tên Tây Ban Nha, mặc dù nó là tên của một con sông chảy trong tỉnh Extremadura Tây Ban Nha.
Theo các chuyên gia, từ Guadalupe là một từ tiếng Castilian, dịch từ từ “wadi-al-lubben” tiếng Ả Rập, nghĩa là “dòng sông ẩn”. Lý do nó xuất phát từ tiếng Ả Rập là vì bán đảo Iberia mà Tây Ban Nha nằm trên đó đã bị người Hồi Giáo Moors nói tiếng Ả Rập xâm chiếm suốt 800 năm. Nhiều người khác cũng cho rằng Guadalupe được ghép từ từ “wadi” tiếng Ả Rập và “lupe” tiếng Latinh”, nghĩa là “dòng sông của loài sói”.
Theo Daniel Esparza, Aleteia
Gioakim Nguyễn biên dịch

.jpg)



