Aenean nec eros. Vestibulum ante ipsum primis in faucibus orci luctus et ultrices posuere cubilia curae. Suspendisse sollicitudin velit sed leo.

Chuyên mục
  • Bài giảng
  • Các loại khác
  • Chia sẻ
  • Chưa phân loại
  • GH Hoàn Vũ
  • GH Việt Nam
  • Giáo dục
  • Hạnh các Thánh
  • HĐGM Việt Nam
  • Kinh Thánh
  • Phim giáo dục
  • Phụng vụ
  • Sách
  • Suy niệm Chúa nhật
  • Suy niệm hàng ngày
  • Tài liệu giáo dục
  • Tài liệu phụng vụ
  • Thần học
  • Thánh ca
  • Thánh lễ
  • Thánh lễ trực tuyến
  • Thư chung
  • Thư viện
  • Tin tức
  • Triết học
  • Tư liệu
  • UBGD Công giáo
  • Video
From Gallery
Stay Connected
UyBanGiaoDucHDGM.net
  • Trang chủ
  • Thư chung
    • HĐGM Việt Nam
    • UBGD Công giáo
  • Tin tức
    • GH Việt Nam
    • GH Hoàn Vũ
  • Phụng vụ
    • Thánh lễ
    • Thánh lễ trực tuyến
    • Suy niệm hàng ngày
    • Suy niệm Chúa nhật
    • Tài liệu phụng vụ
  • Giáo dục
    • Chia sẻ
    • Tài liệu giáo dục
  • Thư viện
    • Sách
      • Kinh Thánh
      • Triết học
      • Thần học
      • Các loại khác
    • Video
      • Bài giảng
      • Thánh ca
      • Phim giáo dục
      • Hạnh các Thánh
      • Tư liệu
  • Liên hệ
Give Online

Tác giả: Anmai

Home / Anmai
23Tháng Tám
2021

Hướng về Đại Hội Thánh Thể quốc tế tại Budapest, Hungari

23/08/2021
Anmai
GH Hoàn Vũ, Tin tức
0

Còn đúng hai tuần nữa, Đại hội Thánh Thể quốc tế lần thứ 52 sẽ khai diễn và tiến hành từ chiều Chúa Nhật ngày 5 đến sáng Chúa Nhật 12/9/2021 tại Budapest, thủ đô Hungari, với Thánh lễ Bế mạc do chính Đức Thánh Cha Phanxicô cử hành.

Chủ đề của Đại hội Thánh Thể quốc tế lần này là: “Tất cả những nguồn mạch của con ở nơi Chúa”. Lẽ ra Đại hội này đã tiến hành từ ngày 13 đến 20/9 năm ngoái, nhưng vì đại dịch, nên bị hoãn đến năm nay. Cách đây 83 năm, Đại hội Thánh Thể quốc tế thứ 34 đã diễn ra tại Budapest từ ngày 25 đến 29/5/1938, tức là ít lâu trước khi Thế chiến thứ 2 bùng nổ.

Nối tiếp một truyền thống quí giá

Đại hội Thánh Thể quốc tế tại Budapest tới đây tiếp nối truyền thống từ 140 năm nay trong Giáo hội, tức là từ năm 1881 tại thành phố Lille ở miền Bắc nước Pháp, bắt nguồn trong khuôn khổ lòng sùng kính đặc biệt đối với Thánh Thể, đồng thời với ý hướng loại trừ sự dốt dát và dửng dưng của nhiều người đối với mầu nhiệm chủ yếu của Giáo hội là Thánh Thể.

Chính giáo dân đã giữ vai trò nòng cốt trong sáng kiến tổ chức Đại hội, cụ thể là do Emile Tamisier thành Tours, với sự gợi hứng của thánh Pierre Julien Eymard, vị sáng lập dòng Thánh Thể. Đứng trước chủ trương duy thế tục (laicisme) muốn loại bỏ ảnh hưởng của tôn giáo trong đời sống công cộng, những người chủ xướng Đại hội Thánh Thể tìm phương thế gây ý thức nơi các tín hữu Công giáo về sự hiện diện thực sự của Chúa Giêsu trong Thánh Thể.

Với ý hướng đó, ban tổ chức đã chọn đề tài “Thánh Thể cứu thế giới” và dự định tổ chức tại thành phố Liège bên Bỉ, nơi đã khai sinh lễ kính Mình Thánh Chúa hồi thế kỷ 13, nhưng vì hoàn cảnh chính trị không cho phép, nên ban tổ chức đã chọn thành phố Lille, ở miền Bắc Pháp, làm nơi cử hành Đại hội Thánh Thể quốc tế đầu tiên, từ ngày 28 đến 30/6/1881. Tám ngàn người đến từ các nước châu Âu, Mỹ và châu Á, đã tham dự Đại hội này, trong đó có hơn 4.000 người đã dự cuộc rước Thánh Thể. Nhân dịp đó, Đức Giáo Hoàng Lêo XIII đã công bố một văn kiện đặc biệt ca ngợi sáng kiến này và khích lệ tái diễn. Người ta đi tới quyết định cử hành Đại hội này mỗi năm một lần, nếu có thể, tại một thành phố đã diễn ra phép lạ Thánh Thể, hoặc có liên hệ đặc biệt tới bí tích này.

Ngay từ đầu, các vị Giáo Hoàng đã quan tâm và nhiệt thành theo dõi các Đại hội Thánh Thể quốc tế, khích lệ và hướng dẫn. Trong số 25 Đại hội đầu tiên từ 1881 đến 1914, có 11 Đại hội tiến hành tại Pháp, 5 tại Bỉ và 1 lần tại những nước sau đây: Thụy Sĩ, Ý, Anh, Đức, Tây Ban Nha, Áo, Malta, Canada và Giêrusalem năm 1893. Chính tại đây, lần đầu tiên Đức Giáo Hoàng cử một vị Hồng Y đặc sứ đến chủ tọa. Trong 25 Đại hội đầu tiên đó, khía cạnh Hội nghị được nhấn mạnh nhiều hơn, nhưng có kèm theo các buổi cử hành như chầu đền tạ Thánh Thể dưới nhiều hình thức khác nhau.

Sinh hoạt tại các Đại hội Thánh Thể quốc tế

Các sinh hoạt này có thể phân thành 4 loại:

  1. Suy tư và nghiên cứu: các buổi sáng tại Đại hội, có các buổi thuyết trình do các chuyên gia đảm trách, trình bày những suy tư và nghiên cứu về các khía cạnh khác nhau của Mầu Nhiệm Thánh Thể.
  2. Cử hành: trung tâm của toàn thể Đại hội là Thánh Thể. Vì thế, việc cử hành Thánh Lễ chiếm vị trí trung tâm trong Đại hội. Ngoài ra, cũng có những buổi cử hành Thống Hối.
  3. Thờ lạy, hay chầu Mình Thánh: Sau khi cử hành Thánh Lễ, Giáo hội vẫn tôn thờ Chúa Kitô hiện diện đặc biệt trong Thánh Thể. Đại hội là một cuộc biểu dương công khai niềm tin nơi sự hiện diện thực sự của Chúa trong Thánh Thể. Vì thế, những buổi chầu Mình Thánh Chúa là thành phần quan trọng của Đại hội.
  4. Văn hóa: Đại hội Thánh Thể cũng là một cơ hội đặc biệt để chia sẻ với các tham dự viên và tín hữu viếng thăm những đặc sắc về văn hóa của quốc gia và vùng miền của mình.

Đại hội tại Budapest

Những hướng đi chính trên đây cũng được diễn tả trong chương trình Đại hội Thánh Thể Quốc tế sắp tới tại Budapest.

Thánh lễ khai mạc sẽ được cử hành tại Quảng trường “Các Anh Hùng” ở trung tâm thủ đô từ 15:00 đến 18:00 giờ chiều Chúa Nhật 5/9, trong đó đặc biệt có 1.000 trẻ em được Rước Lễ lần đầu.

Từ hôm sau đó, các sinh hoạt diễn ra tại khu vực triển lãm ở Budapest, bắt đầu với kinh Ngợi khen ban sáng dài 45 phút, tiếp đó từ 9:00 đến 10:00 giờ là phần giáo lý do các vị Hồng y và Giám mục trình bày. Sau đó là một 1 giờ trình bày chứng từ. Từ 11:30 đến 12:30 là Thánh lễ. Ban chiều có các buổi hội thảo, thuyết trình. Ban tối từ 19:00 giờ đến 21:30 là phần văn nghệ, văn hóa.

Tổng cộng có 70 vị giáo sĩ, tu sĩ và giáo dân đến từ năm châu lục, được mời đảm trách các bài giáo lý, hội thảo, thuyết trình. Á châu có Đức Hồng Y Charles Maung Bo, Tổng Giám mục Yangon bên Mynmar, Chủ tịch Liên Hội đồng Giám mục Á Châu; Đức Thượng Phụ Sako, Giáo chủ Công giáo Canđê Irak; Đức Hồng Y Anrê Liêm Thủ Chính, Tổng Giám mục Hán Thành Hàn quốc; Cha Gerard Timoner, người Philippines, Bề trên Tổng quyền dòng Đa Minh; và Đức Cha Joseph Pamplany, người Ấn độ.

Vài nhận xét của Đức Hồng Y Peter Erdoe

“Chủ nhà” và cũng là trưởng ban tổ chức Đại hội Thánh Thể thứ 52 là Đức Hồng Y Peter Erdoe, Tổng Giám Mục giáo phận Ezstergom-Budapest. Trong cuộc phỏng vấn dành cho trang báo trực tuyến “Nuova Bussola Quotidiana” ở Ý, ngài nêu bật vài đặc điểm của Đại hội ở thủ đô Hungari và nói rằng:

 “Trong những ngày Đại hội, chúng ta sẽ không giới hạn vào việc nói về Thánh Thể, nhưng chúng ta thờ lạy Thánh Thể. Trong những năm gần đây, chúng ta thấy rằng, nơi những người trẻ việc thờ lạy trước Thánh Thể ngày càng trở nên thịnh hành. Cả trong thời kỳ chuẩn bị Đại hội Thánh Thể này, chúng tôi đã thấy những nhóm bạn trẻ chiêm ngắm Thánh Thể trong thinh lặng. Đó là những lúc thật cảm động. Một thực tại như vậy cách đây 30, 40 năm chúng tôi không thể ngờ. Thời kỳ mà chúng ta nghĩ: việc biểu lộ thờ lạy Mình Thánh Chúa như vậy là điều xa xưa, nhưng ngày nay, chúng ta vui mừng vì có sự bừng tỉnh. Thái độ mà qua đó chúng ta thờ lạy Thánh Thể, biểu lộ xác tín của chúng ta rất là quan trọng. Chúng ta thờ lạy Thiên Chúa duy nhất, Thiên Chúa làm người. Đó là trung tâm sự thờ lạy của chúng ta”.

Chứng nhân về Thánh Thể

Đức Hồng Y Erdoe cũng nhắc đến huy hiệu Đại hội Thánh Thể quốc tế Budapest: trên cùng là Thánh Giá, từ đó chảy xuống những nguồn suối ân phúc. Huy hiệu này được trưng tại nơi cử hành Đại hội. Ngài nói: “Trên huy hiệu Thánh Giá Truyền giáo, chúng tôi đã gắn hài cốt của các Thánh, các Chân phước và các vị Tử đạo của thế kỷ 20, thuộc nhiều dân tộc, tất cả trong cùng một Thánh Giá, nghĩa là trong cùng đức tin nơi Chúa Kitô là một và duy nhất. Đó là một giáo huấn quan trọng và không phải tình cờ mà trong các giáo xứ ở Budapest, nơi có trưng Thánh Giá ấy, đã thu hút sự tham dự của đông đảo các tu sĩ và giáo dân, cả những người từ nước ngoài, không phải là người Hungari”.

Đức Hồng Y nói thêm rằng: Trong thế kỷ 20 đã có nhiều vị tử đạo Hungari tử đạo Thánh Thể. Một trong những vị đó là chân phước János Brenner (1931-1957), một Linh mục trẻ đã bị đâm chết dưới thời cộng sản. Cha rất gần gũi các trẻ em và người trẻ. Đêm ngày 15/9/1957, cha được gọi đi xức dầu cho một bệnh nhân gần chết, nhưng đó là một cái bẫy người ta giăng sẵn. Trên đường đi, cha bị tấn công và bị giết bằng 32 nhát dao… Cha mang Mình Thánh Chúa theo và giữ ở ngực trong khi bị giết. Khi người ta tìm thấy xác cha, Mình Thánh Chúa vẫn còn được nắm chặt trong tay cha… Ngoài chân phước Brenner chúng tôi cũng muốn nhắc nhớ nhiều Linh mục và Giám mục đã cử hành Thánh lễ bí mật trong các nhà tù cộng sản. Chúng tôi đã đón nhận hài cốt các vị và gắn trong Thánh Giá Truyền giáo. Thánh Giá đã được rước tới các nơi ở Hungari, trong chương trình chuẩn bị Đại hội Thánh Thể. Thánh Giá này là một lời kêu gọi hoán cải và qui trọng tâm vào đức tin của chúng ta. Chứng tá của các vị Thánh, Chân phước và Tử đạo củng cố chúng ta trong xác tín rằng: cây cầu các vị ấy đã bước qua vực thẳm giữa sự sống và sự chết, vẫn còn. Và nguồn mạch mà các vị đã uống, vẫn còn”.

 Nguồn: vaticannews.va/vi/

Read More
23Tháng Tám
2021

Nghiệp quả từ góc nhìn của đức tin Công giáo

23/08/2021
Anmai
Giáo dục, Tài liệu giáo dục
0

NGHIỆP QUẢ TỪ GÓC NHÌN CỦA ĐỨC TIN CÔNG GIÁO

Giuse Cao Gia An, S.J.

Câu hỏi:

Xin lỗi vì con theo Đạo Phật nên không biết nghiệp quả được hiểu như thế nào trong đạo Công Giáo. Làm sao để bớt nghiệp quả theo lối nhìn của Công Giáo?

Trả lời:

Đây là một câu hỏi chạm đến một khác biệt cốt lõi giữa hai tôn giáo lớn. Cần có những nghiên cứu đủ sâu và đủ rộng thì mới có thể trả lời thoả đáng những câu hỏi loại này. Trong khuôn khổ của bài viết ngắn ở đây, chúng ta thử tiếp cận câu hỏi này theo ba bước như sau. Thứ nhất, nên có một hiểu biết sơ lược về thuyết nghiệp quả của nhà Phật, nhận ra cái hay và những giá trị của thuyết ấy. Thứ hai, cần nhìn rộng hơn để thấy nghiệp quả là một thuyết phổ biến, hiện diện hầu như trong khắp mọi nền văn hoá và tôn giáo từ cổ đại cho đến hiện đại. Thứ ba, nhìn xem nội dung của lý thuyết nghiệp quả được hiểu như thế nào trong đạo Công Giáo.

Thuyết nghiệp quả theo nhà Phật

Chữ “nghiệp” (Karma) là một trong những thuật ngữ quan trọng trong giáo lý nhà Phật. Chữ ấy có thể được hiểu là một hành động có chủ ý trong tư tưởng, lời nói hay việc làm. Khi bạn làm một điều gì đó với đầy đủ chủ ý, bạn gieo một hạt nhân cho đời mình. Hạt nhân ấy chắc chắn sẽ thành cây và sinh quả. Gieo nhân loại nào, bạn sẽ gặt quả loại ấy. Nếu bạn gieo thiện nhân, bạn sẽ gặt thiện quả. Ngược lại, nếu bạn gieo ác nhân hay ác nghiệp, bạn sẽ gặt lại quả báo.

Theo giáo lý nhà Phật, nghiệp quả được hiểu như là một quy luật phổ quát. Không chỉ có tác dụng trong đời người, Luật ấy bao trùm vũ trụ vạn vật. Không chỉ giới hạn trong một đời người, Luật ấy có thể kéo dài từ đời này sang đời khác. Theo thuyết nghiệp quả, có những khổ đau của đời này được giải thích như là quả của những nghiệp ác đã được gieo từ kiếp trước. Cũng vậy, những nghiệp ác mà một người làm ở đời này, có thể người ấy sẽ còn phải trả trong cả kiếp sau.

Như thế, thuyết nghiệp quả dạy rằng cuộc sống của một người sướng hay khổ, vui hay buồn, thành công hay thất bại, thật ra đều phụ thuộc vào chính người ấy. Bạn được cứu rỗi hay trở nên hư mất đều phụ thuộc vào chính bạn, vào chính điều bạn đã làm và nghiệp bạn đã gieo. Sự cứu độ theo thuyết này thật ra là một sự “tự độ”. Mặt khác, thuyết nghiệp quả giả định rằng có một sự công bằng nhất định trong lối vận hành của vũ trụ vạn vật. Thuyết ấy cũng hàm chứa những bài học luân lý quý giá trong việc dạy dỗ con người: người ta phải biết tu thân tích đức và sống tốt để gặp điều thiện lương; ngược lại, người nào sống bất lương và bất chính, chắc chắn đến một lúc nào đó sẽ phải trả giá.

Thuyết nghiệp quả trong các nền văn hoá khác nhau

Không chỉ có trong nhà Phật, thuyết nghiệp quả còn hiện diện trong rất nhiều nền văn hoá và tôn giáo khác nhau. Trong những nền văn minh cổ đại của nhân loại như Ai-cập, Su-mer, A-cát, Ba-by-lon, Do-thái, Trung Hoa… luôn có một niềm tin vào nghiệp quả dựa trên nguyên tắc công bằng, cả ở cấp độ cá nhân lẫn cấp độ xã hội. Gieo nhân nào thì gặt quả đó. Gieo gió ắt gặp bão. Kẻ ác phải bị trừng trị và kẻ lành phải được tưởng thưởng. Một hôn quân vô đạo gieo nhiều nghiệp xấu, trước sau gì cũng phải gặt quả ác và làm cho vương quốc của mình sụp đổ. Một xã hội bất công và thối nát, tất sẽ đến hồi diệt vong. Một kẻ ác, có làm cách gì đi nữa cũng không thoát khỏi Luật trời. “Thiên võng khôi khôi, sơ nhi bất lậu”. Lưới trời lồng lộng, thưa nhưng khó lọt.

Trong kho tàng văn hoá Việt Nam, thuyết nghiệp quả được cưu mang trong rất nhiều câu chuyện cổ tích. Cô Tấm hiền lành tốt bụng một đời nên cuối cùng được hạnh phúc. Hai mẹ con nhà Cám gian ác nên kết cục bị trừng phạt đích đáng. Thạch Sanh thiện lương và nghĩa hiệp nên cuối cùng được tưởng thưởng. Lý Thông gian manh xảo quyệt nên kết cục phải bị trời phạt, v.v…

Tóm lại, có thể nói rằng thuyết nghiệp quả dựa vào xác tín căn bản rằng trong đời này không có gì tự sinh ra cũng không có gì tự mất đi. Có một Luật nhân quả chi phối toàn bộ vũ trụ vạn vật và mọi thứ trong cuộc đời. Nhờ có Luật ấy, mọi thứ vận hành theo đúng với lẽ công bằng.

Đạo Công Giáo nhìn về thuyết nghiệp quả

Não trạng bình dân của một người Công Giáo ít nhiều tin vào thuyết nghiệp quả. Chẳng hạn, người ta thường tóm lược Giáo Lý Công Giáo trong lời dạy: làm lành lánh dữ. Làm lành để được hưởng phúc Thiên Đàng, lánh dữ để khỏi phải sa hoả ngục đời đời. Có rất nhiều câu Kinh Thánh dạy dỗ điều này: “Hãy làm điều thiện, và bạn sẽ được sống” (Tv 37,3). Những nhà lập pháp đầu tiên của dân Ít-ra-en khi dạy dân về Luật của Thiên Chúa cũng dựa vào khuôn mẫu vận hành theo kiểu nhân quả: ”Nếu anh em nghe tiếng Đức Chúa là Thiên Chúa của anh em mà đem ra thực hành tất cả những mệnh lệnh của người […] thì Đức Chúa sẽ cho anh em vượt mọi dân tộc trên mặt đất và mọi phúc lành sẽ đến với anh em […]” (Đnl 28,1-14); “Nhưng nếu anh em không nghe tiếng Đức Chúa [….], anh em sẽ bị nguyền rủa” (Đnl 28, 15-68). Thánh Phao-lô thì dạy rằng: “Ai gieo giống nào, thì sẽ gặt giống đó” (Gal 6,7), v.v.

Tuy nhiên, cần lưu ý rằng giữa niềm tin Công Giáo và niềm thuyết nghiệp quả có những khác biệt rất tận căn.

Thứ nhất, thuyết nghiệp quả theo nhà Phật là một Luật vận hành tuyệt đối. Không điều gì có thể thoát ra ngoài Luật ấy. Theo thuyết nghiệp quả của nhà Phật, không nhất thiết phải tin có một Đấng Tuyệt Đối nào. Trong khi đó, với niềm tin Công Giáo, điều tuyệt đối không phải là một Luật, nhưng là một Đấng làm chủ mọi Luật. Niềm tin Công Giáo không chỉ dạy người ta làm lành lánh dữ vì giá trị tuyệt đối của Luật nhân quả, nhưng là để xây dựng một tương quan cá nhân thiết thân và bền chặt giữa mình với Đấng Tuyệt Đối là Thiên Chúa của mình.

Mặt khác, niềm tin Công Giáo dạy rằng con người chỉ có một cuộc đời làm người để sống. Một người sống cuộc đời duy nhất của mình thế nào sẽ quyết định vận mệnh đời đời của người ấy. Nhưng sự quyết định này không nhất thiết hoàn toàn tuân theo Luật nghiệp quả. Trong hành trình cuộc đời của của mỗi con người, Thiên Chúa có một phương pháp sư phạm để dạy con người lớn lên. Sự lớn lên ấy có khi phải ngang qua những vấp ngã và thất bại, ngang qua những lỗi lầm và sai trái. Nhưng niềm tin Công Giáo dạy rằng nếu Thiên Chúa đối xử với con người theo luật nghiệp quả, khó một ai có thể đứng vững và được cứu thoát. “Ôi lại Chúa, nếu như Ngài chấp tội, nào có ai đứng vững được chăng?” (Tv 130,3). Không một con người nào thật sự có khả năng tự cứu mình, bởi có những yếu đuối bất khả vượt qua của thân phận con người. Thánh Phaolô, một vị tông đồ lừng danh về sự mạnh mẽ đã từng phải thốt lên: “Tôi không hiểu mình nữa, điều tốt tôi muốn thì tôi không làm. Điều xấu tôi không muốn tôi lại cứ làm” (Rm 7,15). Như thế, tự nền tảng, niềm tin Công Giáo dạy rằng mỗi người không phải và không thể là đấng cứu độ của riêng mình. Ai cũng cần một Đấng giải thoát, cần một trợ lực từ bên ngoài. Để được cứu, ai cũng cần đến sự đỡ nâng, cần tình yêu và lòng thương xót của Thiên Chúa. Điều này khác biệt hoàn toàn với quan niệm “tự độ” của nhà Phật.

Hơn nữa, trong khi thuyết nghiệp quả của nhà Phật đề cao tuyệt đối trách nhiệm cá nhân và quan niệm rằng một người được cứu hay bị hư mất hoàn toàn phụ thuộc vào chính người ấy, đức tin Công Giáo dạy về sự liên đới và giá trị của chiều kích cộng đoàn đối với ơn cứu độ của từng cá nhân. Sự liên đới trong niềm tin là một giá trị đẹp của người Công Giáo. Đấy là lý do tại sao trong Giáo Hội Công Giáo thường có những buổi cầu nguyện cho những người đã qua đời, cầu nguyện cho những người đang gặp khó khăn hoạn nạn. Những lời cầu nguyện mà một người Công Giáo dâng lên Thiên Chúa thường không chỉ là cho riêng mình, nhưng cho rất nhiều người khác. Niềm tin nền tảng của việc thực hành ấy là thế này: người Công Giáo tin rằng Thiên Chúa có thể cứu rỗi một người nhờ vào lời khẩn nguyện của những người khác. Một người có thể được nâng đỡ và được cứu rỗi nhờ vào lời khẩn nguyện của cả cộng đoàn.

Quan trọng hơn hết đối với một người Công Giáo là những giáo huấn và gương sống cuộc đời của Đức Giê-su. Xuyên suốt các trang Tin Mừng, có thể thấy Đức Giê-su không cho rằng vận mệnh của một con người tuyệt đối bị khuôn định bởi Luật nhân quả. Ngài không dạy rằng một người đã gieo nhân nào thì đương nhiên sẽ nhận quả ấy. Đối tượng quan trọng mà Đức Giê-su chọn trong suốt cuộc đời rao giảng của mình là những người tội lỗi. Ấy là những người đã gieo nhân xấu trong đời mình. Ngài không rao giảng rằng họ sẽ phải nhận quả xấu. Ngài mời họ hoán cải, thay đổi đời sống để được cứu. Với Đức Giê-su, bất cứ một tội nhân nào cũng có một tương lai phía trước nếu họ biết từ bỏ đường tội lỗi, thay đổi cuộc đời để sống tốt và để làm người tốt. Có nhiều câu chuyện và dụ ngôn có thể minh hoạ rất tốt điều này.

Người ta bắt quả tang một người phạm tội ngoại tình (Ga 8,1-11). Chị đã gieo một nghiệp xấu trong đời mình là hành vi ngoại tình. Theo đúng lẽ đúng luật, chị phải gặt quả xấu là bị ném đá cho đến chết. Đức Giê-su không đi theo con đường đó. Nếu cứ phạm tội thì phải bị trừng phạt, liệu có một ai thoát khỏi án phạt không? Chuyện kể rằng khi Đức Giê-su đặt lại câu hỏi cho những kẻ chất vấn: “ai trong các ông không phạm tội, thì hãy ném đá người này trước đi” (Ga 8,7), những người kết án chị phụ nữ lần lượt bỏ đi, từ người lớn tuổi nhất. Câu chuyện Tin Mừng ấy dạy rằng ai cũng từng phạm tội. Ai cũng là kẻ có tội. Ai cũng từng ít nhiều gieo nhân xấu trong đời mình. Nếu cứ máy móc áp dụng theo luật nhân quả, liệu có ai là người sống sót được chăng? Liệu có ai đáng được cứu được chăng? Liệu có ai tự cứu mình được chăng? Càng thật lòng nhìn lại chính mình và thân phận làm người của mình, người ta càng có cơ hội nhận ra rằng mình cần đến lòng thương xót. Ai cũng cần đến sự tha thứ để có thể làm lại cuộc đời.

Đức Giê-su nhiều lần kể chuyện về lòng thương xót của Thiên Chúa. Thiên Chúa trong lời dạy của Đức Giê-su luôn là một người cha có trái tim nhân từ. Với người cha ấy, có khi chính đứa con hư hỏng và gieo nhiều ác nghiệp nhất lại là đứa con được quan tâm và lo lắng nhiều nhất. Có khi Thiên Chúa sẵn sàng đầu tư nhiều tâm huyết và kiên nhẫn nhất cho những con người bị coi là bất xứng nhất. Một thí dụ điển hình là dụ ngôn về đứa con hoang đàng (Lc 15,11-35). Đứa con ấy bỏ nhà cha của mình, thu gom hết của cải, ăn chơi phung phí cho đến khi tán gia bại sản thì mới quay trở về. Anh là người đã gieo nhân xấu. Lẽ ra quả mà anh gặt phải là bị kết án, bị ruồng bỏ, bị khinh miệt xa lánh. Nhưng không. Người Cha đón nhận anh bằng rất nhiều yêu thương và ưu đãi. Không phải vì anh ta xứng đáng. Chỉ đơn giản vì tình yêu của người Cha dành cho con mình luôn là như vậy. Anh có ra hư hỏng thế nào đi nữa, có gieo quả xấu thế nào đi nữa, cũng chẳng thể làm mai một tình yêu vô bờ mà người Cha dành cho anh. Tình yêu ấy vượt trên lẽ công bằng, vượt ra ngoài vòng khuôn định nhân quả. Tình yêu ấy không màng đến chuyện xứng đáng hay không xứng đáng. Chỉ đơn giản anh là người được yêu. Vì được yêu nên anh được tha thứ. Thiên Chúa không dùng luật nhân quả để phân loại và phán xử con người. Ngài dùng sự thương xót và tha thứ để cảm hoá lòng người, để mở ra một con đường mới cho con người có thể làm lại cuộc đời.

Như thế, niềm tin Công Giáo xác tín rằng trong tương quan giữa con người với Thiên Chúa, có những khung tiêu chuẩn khác quan trọng hơn và lý tưởng hơn là khung tiêu chuẩn công bằng theo kiểu nghiệp quả. Ấy là giá trị của tình yêu, của lòng thương xót và của sự tha thứ. Tình yêu của Thiên Chúa dành cho con người không dựa trên bất cứ một quy luật nhân quả nào. Tình yêu của Thiên Chúa không phải là cái quả mà con người gặt được nhờ đã gieo nhân tốt. Thiên Chúa yêu thương con người không phải vì con người xứng đáng, không phải vì con người giỏi giang và đẹp đẽ, không phải như một cách để thưởng công cho con người. Chính tình yêu làm cho con người hoán cải để trở nên tốt hơn mỗi ngày, chứ không phải nhờ con người đã tốt nên con người mới được Thiên Chúa yêu thương. Trong tương quan tình yêu giữa Thiên Chúa và con người, chính Thiên Chúa là người đi bước trước, bất kể sự bất toàn bất xứng của con người. Cả khi con người bất trung và lầm lỗi, tình yêu mà Thiên Chúa đặt vào con người vẫn là không hề thay đổi. Đây là khác biệt tận căn giữa thuyết nghiệp quả và niềm tin vào tình yêu Thiên Chúa.

Như thế, làm sao để giảm bớt “nghiệp quả”?

Khi nói về tình yêu nhưng không và vô điều kiện của Thiên Chúa, luôn có nguy cơ người ta sẽ lý luận kiểu này: được Chúa yêu như vậy, con người muốn làm trời làm đất gì thì làm, còn phải sợ gì nữa! Người chọn “làm trời làm đất” khi nhận ra mình được yêu thật ra là người không có trái tim. Người đó không biết trân trọng tình yêu được đặt vào đời mình. Người đó trước sau gì cũng tự mình làm mất tình yêu mà mình đang được hưởng nếm, và tự đánh mất chính mình. Vậy nên vẫn có trường hợp có những người được Thiên Chúa yêu thương vô cùng, nhưng cuối cùng vẫn ra hư mất. Người ấy phải gánh quả ác từ những cái nhân xấu mà mình đã gieo, nếu giải thích theo lối hiểu nhà Phật. Đơn giản, bởi vì người ấy tự do nhưng lại không muốn dùng tự do của mình để chọn con đường tốt mà chính Thiên Chúa đã mở ra cho mình.

Nhận ra tình yêu Thiên Chúa và cộng tác với tình yêu ấy là cách tốt nhất để “giảm bớt nghiệp quả”. Chính tình yêu Thiên Chúa luôn có khả năng gột sạch những “nghiệp” xấu mà con người đã gieo trong đời mình và mở ra cho con người con đường sống mới. Bước đi trong hành trình đức tin mỗi ngày, người Công Giáo học cách nhận ra mình là người được yêu. Học cách sống xứng đáng với tình yêu đặt vào đời mình, để cho tình yêu ấy trở thành đảm bảo và thành nguồn động lực giúp mình trở nên tốt hơn mỗi ngày.

Tóm lại, người Công Giáo đặt niềm tin tuyệt đối vào tình yêu của Thiên Chúa. Tình yêu ấy vượt lên trên mọi khuôn định của thuyết nghiệp quả.

Đọc thêm:

Bài 16: Tương thân tương ái

Bài 15: Áo giáp chống nạn

Bài 14: Đức tin kiến tạo hòa bình và công bằng xã hội

Bài 13: Vấn đề truyền giáo

Bài 12: Thờ kính ông bà tổ tiên

Bài 11: Truyền giáo cho người trẻ ngoại đạo

Bài 10: Bền đỗ trong ơn gọi gia đình

Bài 09: Vấn đề “theo đạo rồi mới cho cưới”

Bài 08: Gieo suy nghĩ tốt

Bài 07: Nhanh từ từ thôi

Bài 06: Hiện tượng bóng ma

Bài 05: Vượt qua khủng hoảng!

Bài 04: Vấn đề rước Mình Máu Thánh Chúa

Bài 03: Đừng cám dỗ nhau nhé!

Bài 02: Sao lại kỳ thị người tu xuất?

Bài 01: Nhận định ơn gọi cho cuộc đời

(Trích Giải Đáp Thắc Mắc cho người trẻ Công giáo, Tập 1, Nxb Tôn Giáo, 2020)

Read More
23Tháng Tám
2021

GIỚI THIỆU CHÚA CHO MỌI NGƯỜI

23/08/2021
Anmai
Phụng vụ, Suy niệm hàng ngày
0

24  17  Đ  Thứ Ba Tuần XXI Thường Niên.

THÁNH BA-TÔ-LÔ-MÊ-Ô, TÔNG ĐỒ, lễ kính.

Kinh Tiền Tụng các Thánh Tông đồ.

Không cử hành lễ cầu cho người qua đời (D2, D3), trừ lễ an táng.

Kh 21,9b-14; Ga 1,45-51.

GIỚI THIỆU CHÚA CHO MỌI NGƯỜI

Lễ thánh Bartôlômêô được cử hành từ thế kỷ thứ VIII trong các xứ Francs, đến thế kỷ thứ IX-X thì lan sang Roma. Lễ cử hành vào ngày 24 hoặc 25 tháng tám; với người Byzance, ngày 25 trùng lễ kính chuyển hài cốt của Người, còn lễ chính là ngày 11 tháng 6, chung với thánh Banabê. Lịch thánh Piô V đã ấn định lễ này vào ngày 24 tháng tám.

Bartôlômêô (có nghĩa là con của Tolamai) là một trong Nhóm Mười hai, các phúc âm thường nhắc chung với Philipphê (Mt 10,3). Người ta thường cho rằng Bartôlômêô cũng là Nathanael, nhưng điều này không có cơ sở. Nếu phải là Nathanael, chắc hẳn người có gốc ở Cana (Ga 21,2) và đã được Philipphê đem đến trình diện Chúa Giêsu (Ga 1,45). Một số tài liệu ngụy thư cho rằng thánh Bartôlômêô đã sang giảng Phúc âm ở Tây An (theo Eusèbe) hoặc các vùng gần Ethiopie (theo Rufin và Socrate), hoặc thậm chí còn tới Đại Arménie (theo kinh nghiệm các Tông đồ).

Hình như Ngài đã bị lột da sống, theo luật hình Ba Tư, sau đó bị chặt đầu rồi đóng đinh thập giá. Người ta cho rằng hài cốt của Ngài được tôn kính ở Roma, nơi đảo Tibérine, và ở Francfort nước Đức. Thánh Bartôlômêô được coi là người bảo vệ các bệnh nhân, các ông bà bán thịt, thợ thuộc da và thợ đóng sách.  Lời nguyện trong ngày ca ngợi “đức tin ngay thực” của thánh Bartôlômêô. Hiển nhiên điều này muốn liên hệ đến lần Nathanael gặp Chúa Giêsu được Phúc âm Gioan kể lại (1,45-49). Theo lời Chúa nói: “Đây là một người Israen đích thực không giả dối”, và Nathanael đáp lại : Rabbi, Thầy là con Thiên Chúa, là vua Israen. Người môn đệ mới đã hào hứng nhận ra nơi Chúa Giêsu  : Thầy, Con Thiên Chúa và vua Israen.
Câu kết của lời nguyện trên lễ vật xin Chúa cho Giáo hội “trở nên bí tích cứu rỗi muôn dân”. Bài giảng của thánh Gioan Kim Khẩn -Phụng vụ bài đọc trích dẫn- nhấn mạnh rằng, để loan truyền phúc âm ra khắp thế giới, Chúa đã muốn dùng “mười hai con người ngu dốt, nhát đảm, sợ sệt, hầu chứng tỏ rằng sự yếu đuối của Chúa còn mạnh hơn mọi người”. Từ đó, cũng như mọi tông đồ trong Phúc âm, Giáo hội có thể cùng lặp lại với thánh Phaolô : Tôi có thể làm tất cả mọi điều trong Đấng bổ dưỡng tôi. Trong yếu đuối, chửi bới, áp bức, bách hại cũng như lo lắng. Khi tôi yếu là lúc tôi mạnh (2 Co 12,10 -đáp ca Phụng vụ bài đọc).

Thánh Bartôlômêô, với tên gọi là Nathanael trong bài tin mừng hôm nay, được Philiphê giới thiệu Chúa Giêsu là Đấng Cứu Độ thế gian đến với mình. Ông chưa biết nhiều về Chúa Giêsu, nhưng, Người đã biết rõ về ông là người trung thực, bản tính chất phác, ngay thẳng, có thiện chí tìm gặp Chúa, nên Người nói: “Đây đích thực là một người Israel, lòng dạ không có gì gian dối” (Ga 1,47).

Khi Philipphê nói với Nathanaen rằng Đức Giêsu chính là Đấng Messia, Natanaen tỏ vẻ hoài nghi, bởi vì theo ông, Đấng Messia không thể xuất thân từ một nơi mà Thánh Kinh không bao giờ nói tới như Nagiarét. Quả thực, sự tương phản giữa quan niệm về một Đấng Messia vinh quang với nguồn gốc hèn hạ của Chúa Giêsu chính là một sự vấp phạm của mầu nhiệm nhập thể. Đức tin phải vượt qua cớ vấp phạm này để nhận ra Chúa Giêsu xuất thân từ Nagiarét tầm thường ấy chính là Đấng Messia. Một số người Do Thái đã không thể vượt qua như vậy, họ nói: “Ông này không phải là con của Giuse đấy ư ? Chúng ta há không biết cha mẹ của ông ta sao ? Thế mà tại sao bây giờ ông ta lại tuyên bố rằng ta từ trời xuống ?

Chúa Giêsu nói với Nathanaen “Trước khi Philipphê gọi anh, lúc anh đang ở dưới cây vả, tôi đã thấy anh”: Trong Tin Mừng Ga, Chúa Giêsu thường tỏ ra am tường các biến cố và con người (2,25 6,61 13,1). Hình ảnh cây vả hơi mơ hồ: có người hiểu đó là nơi các rabbi thích ngồi để nghiên cứu Thánh Kinh; có người nghĩ đến cây biết tốt xấu trong vườn diệu quang. Có lẽ ý nghĩa ở đây là: Nathanaen là người thích suy gẫm Thánh Kinh để biết về Đấng Messia, và Đức Giêsu cho ông hay rằng những lời tiên báo về Đấng Messia ấy đã được thực hiện nơi Ngài.

Lời của Chúa Giêsu khiến Nathanaen xúc động đến nỗi ông gọi Ngài bằng 2 tước hiệu “Con Thiên Chúa” và “Vua Israel”.

Trong Ga, tước hiệu “Vua Israel” đồng nghĩa với tước hiệu Messia nhưng ít màu sắc chính trị hơn tước hiệu “Vua dân do thái” được nhắc tới trong cuộc chịu nạn của Ngài (18,33.39; 19, 3.21). Khi Ngài vào thành Giêrusalem, dân chúng cũng tung hô Ngài bằng tước hiệu “Vua Israel” (12, 13).

Còn tước hiệu “Con Thiên Chúa” chính là tước hiệu được gán cho Ngài khi Ngài đăng quang làm Messia (2Sm 7, 14).

Nathanaen sẽ “được thấy những điều lớn lao hơn thế nữa”: bấy giờ Chúa Giêsu chỉ mới mạc khải với ông bằng lời, sau này Ngài sẽ còn dùng dấu chỉ để loan báo tương lai, nhất là dấu chỉ Cana trong đó Ngài sẽ “biểu lộ vinh quang của Ngài”.

Chúa Giêsu có nhắc tới việc “thiên thần Chúa lên xuống”. Có thể có liên hệ với chiếc thang Giacóp trong St 28, 12 “Này đây được dựng từ đất một chiếc thang mà đầu kia chạm tới trời; các thiên sứ lên xuống trên thang đó”. Như thế, chi tiết này muốn nói rằng trong tư cách là “Con Người”, Chúa Giêsu chính là nơi gặp gỡ giữa Thiên Chúa và loài người, giữa trời và đất.

Nathanaen đã được biết Chúa Giêsu và được Ngài kêu gọi nhờ sự giới thiệu của Philipphê. Tôi cũng được biết Chúa và được Ngài gọi nhờ sự giới thiệu của nhiều người. Nhưng ít khi tôi nhớ ơn họ và cầu nguyện cho họ. Hôm nay tôi hãy cầu nguyện cho những ân nhân đó; và nguyện sẽ giới thiệu Chúa cho những anh chị em khác của tôi nữa.

Nathanaen hỏi “Làm sao Ngài biết tôi ?” Chúa Giêsu đáp “Trước khi Philipphê gọi anh, lúc anh đang ở dưới cây vả, tôi đã thấy anh rồi”: Chúa cũng biết con từ lâu và biết rất rõ. Con xin phó thác đời con cho Chúa.

Ngày nọ, một người bạn đến tìm nhà giảng thuyết Mc-Leod Campbell và hỏi: “Này anh, xin anh nói cho tôi hay; làm thế nào mà anh luôn tìm thấy Chúa ?” Nhà giảng thuyết trầm ngâm một lúc rồi nói: “Làm thế nào mà tôi luôn tìm thấy Chúa ư ? Không đâu, tôi không luôn tìm thấy Chúa đâu, nhưng tôi biết là Chúa luôn tìm thấy tôi!”

Ba-tô-lô-mê-ô đã được Chúa Giêsu nâng đỡ, và ông đã dứt khoát lựa chọn bước theo ơn gọi làm tông đồ cho Chúa: “Thưa Thầy, chính Thầy là Con Thiên-Chúa, chính Thầy là vua Ít-ra-en” (Ga 1,49). Nên, Chúa Giêsu đã đưa ra lời mọi và tuyển chọn Bartôlômê làm môn đệ, và cho ông thấy nhiều việc cao trọng hơn thế nữa (Ga 1,50).

Ngày lễ thánh hôm nay, Chúa gọi mỗi Kitô hữu với những ơn gọi khác nhau. Bổn phận của chúng ta là giới thiệu Chúa đến với mọi người bằng đời sống đạo đức, thánh thiện, biết chia sẻ, yêu thương, biết sống hòa thuận với anh chị em trong gia đình, xứ đạo, anh chị em lương dân, và những người đang đau khổ bất hạnh trong cuộc sống, và giữa cơn đại dịch Covid 19 đang gây nỗi đau thương mất mát cho cộng đồng nhân loại và xã hội đường thời ngày nay.

Đó là trách nhiệm và bổn phận của mỗi Kitô hữu chúng ta thể hiện căn tính người môn đệ của Chúa bằng đời sống chứng nhân và hành động của mình, để giới thiệu Chúa cho mọi người.

 

Read More
23Tháng Tám
2021

THÁNH BA-TÔ-LÔ-MÊ-Ô, TÔNG ĐỒ lễ kính

23/08/2021
Anmai
Phụng vụ, Thánh lễ
0

THÁNH BA-TÔ-LÔ-MÊ-Ô, TÔNG ĐỒ

lễ kính

Ca nhập lễ

Tv 95,2.3

Ngày qua ngày,

hãy loan báo ơn Thiên Chúa cứu độ,

kể cho muôn dân biết Người thật quang vinh.

 

Lời nguyện nhập lễ

Lạy Chúa, xin ban cho chúng con một lòng tin vững mạnh, để chúng con thật tình gắn bó với Ðức Kitô, Con Một Chúa như thánh Ba-tô-lô-mê-ô Tông Ðồ. Xin Chúa cũng nhận lời thánh nhân cầu thay nguyện giúp mà cho chúng con sống thế nào, để muôn dân nhận biết Hội Thánh chính là bí tích cứu độ. Chúng con cầu xin …

 

Bài đọc

Kh 21,9b-14

Trên mười hai nền móng, có tên mười hai Tông Đồ của Con Chiên.

Bài trích sách Khải huyền của thánh Gio-an tông đồ.

9b Tôi là Gio-an, bấy giờ, một thiên thần đến bảo tôi : “Lại đây, tôi sẽ chỉ cho ông thấy Tân Nương, Hiền Thê của Con Chiên.” 10 Rồi đang khi tôi xuất thần, thì người đem tôi lên một ngọn núi cao hùng vĩ, và chỉ cho tôi thấy Thành Thánh, là Giê-ru-sa-lem, từ trời, từ nơi Thiên Chúa mà xuống, 11 chói lọi vinh quang Thiên Chúa. Thành rực sáng tựa đá quý tuyệt vời, như ngọc thạch trong suốt tựa pha lê. 12 Thành có tường rộng và cao, với mười hai cửa do mười hai thiên thần canh giữ, và trên các cửa có ghi tên mười hai chi tộc con cái Ít-ra-en. 13 Phía đông có ba cửa, phía bắc ba cửa, phía nam ba cửa và phía tây ba cửa. 14 Tường thành xây trên mười hai nền móng, trên đó có tên mười hai Tông Đồ của Con Chiên.

Đáp ca

Tv 144,10-11.12-13ab.17-18 (Đ. x. c.12a)

Đ.Lạy Chúa, kẻ hiếu trung với Chúa
được biết triều đại Ngài rực rỡ vinh quang.

10Lạy Chúa, muôn loài Chúa dựng nên phải dâng lời tán tạ,
kẻ hiếu trung phải chúc tụng Ngài,

11nói lên rằng : triều đại Ngài vinh hiển,
xưng tụng Ngài là Đấng quyền năng.

Đ.Lạy Chúa, kẻ hiếu trung với Chúa
được biết triều đại Ngài rực rỡ vinh quang.

12Để nhân loại được tường những chiến công của Chúa,
và được biết triều đại Ngài rực rỡ vinh quang.

13abTriều đại Ngài : thiên niên vĩnh cửu,
vương quyền Ngài vạn đại trường tồn.

Đ.Lạy Chúa, kẻ hiếu trung với Chúa
được biết triều đại Ngài rực rỡ vinh quang.

17Chúa công minh trong mọi đường lối Chúa,
đầy yêu thương trong mọi việc Người làm.

18Chúa gần gũi tất cả những ai cầu khẩn Chúa,
mọi kẻ thành tâm cầu khẩn Người.

Đ.Lạy Chúa, kẻ hiếu trung với Chúa
được biết triều đại Ngài rực rỡ vinh quang.

Tung hô Tin Mừng

Ga 1,49b

Ha-lê-lui-a. Ha-lê-lui-a. Thưa Thầy, chính Thầy là Con Thiên Chúa, chính Thầy là Vua Ít-ra-en. Ha-lê-lui-a.

Tin Mừng

Ga 1,45-51

Đây đích thật là một người Ít-ra-en, lòng dạ không có gì gian dối.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Gio-an.

45 Khi ấy, ông Phi-líp-phê gặp ông Na-tha-na-en và nói : “Đấng mà sách Luật Mô-sê và các ngôn sứ nói tới, chúng tôi đã gặp : đó là ông Giê-su, con ông Giu-se, người Na-da-rét.” 46 Ông Na-tha-na-en liền bảo : “Từ Na-da-rét, làm sao có cái gì hay được ?” Ông Phi-líp-phê trả lời : “Cứ đến mà xem !” 47 Đức Giê-su thấy ông Na-tha-na-en tiến về phía mình, liền nói về ông rằng : “Đây đích thật là một người Ít-ra-en, lòng dạ không có gì gian dối.” 48 Ông Na-tha-na-en hỏi Người : “Làm sao Ngài lại biết tôi ?” Đức Giê-su trả lời : “Trước khi Phi-líp-phê gọi anh, lúc anh đang ở dưới cây vả, tôi đã thấy anh rồi.” 49 Ông Na-tha-na-en nói : “Thưa Thầy, chính Thầy là Con Thiên Chúa, chính Thầy là Vua Ít-ra-en !” 50 Đức Giê-su đáp : “Vì tôi nói với anh là tôi đã thấy anh ở dưới cây vả, nên anh tin ! Anh sẽ còn được thấy những điều lớn lao hơn thế nữa.” 51 Người lại nói : “Thật, tôi bảo thật các anh, các anh sẽ thấy trời rộng mở, và các thiên thần của Thiên Chúa lên lên xuống xuống trên Con Người.”

 

Lời nguyện tiến lễ

Lạy Chúa, nhân ngày lễ kính thánh Tông Ðồ Ba-tô-lô-mê-ô, chúng con dâng tiến của lễ này để chúc tụng tôn vinh Chúa. Xin nhận lời thánh nhân chuyển cầu mà ban ơn trợ giúp chúng con. Chúng con cầu xin …

 

Lời Tiền Tụng

Lạy Chúa là Cha chí thánh, là Thiên Chúa toàn năng hằng hữu, chúng con tạ ơn Chúa mọi nơi mọi lúc, thật là chính đáng, phải đạo và đem lại ơn cứu độ cho chúng con.

Lạy Chúa là Mục Tử hằng hữu, Chúa không bỏ rơi đoàn chiên Chúa, nhưng nhờ các Thánh Tông Ðồ, Chúa luôn che chở, giữ gìn để đoàn chiên được hướng dẫn nhờ các vị lãnh đạo Chúa đã đặt làm mục tử nhân danh Con Chúa coi sóc đoàn chiên.

Vì thế, cùng với các Thiên thần và tổng lãnh Thiên thần, các Bệ thần và Quản thần, cùng toàn thể đạo binh thiên quốc, chúng con không ngừng hát bài ca chúc tụng vinh quang Chúa rằng:

Thánh! Thánh! Thánh! …

 

 

Ca hiệp lễ

Lc 22,29-30

Chúa nói : “Thầy sẽ ban quyền cai trị cho anh em, như Cha Thầy đã ban cho Thầy, để anh em được cùng với Thầy đồng bàn ăn uống trên vương quốc của Thầy.”

 

Lời nguyện hiệp lễ

Lạy Chúa, là Thiên Chúa chúng con, trong ngày lễ kính thánh Ba-tô-lô-mê-ô tông đồ, chúng con đã lãnh nhận bí tích Thánh Thể là bảo chứng ơn cứu độ muôn đời. Xin cho bí tích này nâng đỡ chúng con bây giờ và mãi mãi. Chúng con cầu xin …

 

Read More

Điều hướng bài viết

  • Previous page
  • Page 1
  • …
  • Page 1.191
  • Page 1.192
  • Page 1.193
  • …
  • Page 2.058
  • Next page
Bài viết mới nhất
THƯ GỬI SINH VIÊN, HỌC SINH CÔNG GIÁO NHÂN DỊP KHAI GIẢNG NĂM HỌC 2026 - 2027  
31/08/2026
TÂM SỰ NGƯỜI LINH MỤC.
23/07/2026
Di chúc thiêng liêng của Linh mục Phanxicô Xaviê Trương Bửu Diệp
11/07/2026
Video nổi bật
https://www.youtube.com/watch?v=Td144YDsaGo
Sự kiện sắp tới

There are no upcoming events at this time.

Ủy ban Giáo dục Công giáo – Trực thuộc Hội Đồng Giám Mục Việt Nam.

Liên hệ

72/12 Trần Quốc Toản, Phường 8, Quận 3, TP.HCM Get Directions

Phone: +84 931 436 131

Email: [email protected]

Ban chuyên môn
  • Ban Tài liệu và Truyền thông
  • Ban Giáo chức
  • Ban Kỹ năng và Giá trị sống
  • Ban Khuyến học
  • Ban Học viện Thần học
  • Ban Hội Học sinh – Sinh viên
Chuyên mục
  • Tin tức
  • Thư chung
  • Giáo dục
  • Phụng vụ
  • Thư viện
Bản quyền © 2020 thuộc về Ủy Ban Giáo Dục HĐGM VN. Design by JT.