2021
Thứ Tư Tuần XXII – Mùa Thường Niên
Thứ Tư Tuần XXII – Mùa Thường Niên
Ca nhập lễ
Tv 85,3.5
Xin dủ lòng thương con, lạy Chúa,
vì con kêu cầu Chúa suốt ngày.
lạy Chúa, Ngài nhân hậu khoan hồng,
giàu tình thương với mọi kẻ kêu xin.
Lời nguyện nhập lễ
Lạy Chúa, mọi sự tốt lành đều bởi Chúa mà ra, xin cho chúng con thêm lòng tin yêu Chúa, để những gì tốt đẹp nơi chúng con ngày càng phát triển, và được Chúa chăm sóc giữ gìn. Chúng con cầu xin..
Bài đọc
Cl 1,1-8
Lời chân lý là Tin Mừng đến với anh em cũng như toàn thế giới.
Khởi đầu thư của thánh Phao-lô tông đồ gửi tín hữu Cô-lô-xê.
1 Tôi là Phao-lô, bởi ý Thiên Chúa được làm Tông Đồ của Đức Ki-tô Giê-su, và anh Ti-mô-thê là người anh em, 2 kính gửi dân thánh tại Cô-lô-xê, là những anh em tín hữu trong Đức Ki-tô. Xin Thiên Chúa là Cha chúng ta ban cho anh em ân sủng và bình an.
3 Chúng tôi không ngừng tạ ơn Thiên Chúa, là Thân Phụ Đức Giê-su Ki-tô, Chúa chúng ta, khi cầu nguyện cho anh em. 4 Thật vậy, chúng tôi đã được nghe nói về lòng tin của anh em vào Đức Ki-tô Giê-su, và về lòng mến của anh em đối với toàn thể dân thánh ; 5 lòng tin và lòng mến đó phát xuất từ niềm trông cậy dành cho anh em trên trời, niềm trông cậy anh em đã được nghe loan báo khi lời chân lý là Tin Mừng 6 đến với anh em ; Tin Mừng này đang sinh hoa trái và lớn lên trên toàn thế giới như thế nào, thì nơi anh em cũng vậy, từ ngày anh em được nghe nói và nhận biết ân sủng của Thiên Chúa thực sự là gì. 7 Anh em đã học hỏi điều này với anh Ê-páp-ra là người đồng sự yêu quý của chúng tôi và là người thay thế chúng tôi với tư cách là người phục vụ trung thành của Đức Ki-tô. 8 Chính anh đã cho chúng tôi hay về lòng mến mà Thần Khí ban cho anh em.
Đáp ca
Tv 51,10.11 (Đ. c.10b)
Đ.Lạy Chúa, con tin cậy vào tình thương Chúa
mãi mãi đến muôn đời.
10Phần tôi,
khác gì cây ô-liu xanh rờn trong nhà Thiên Chúa,
tôi tin cậy vào tình thương Thiên Chúa
mãi mãi đến muôn đời.
Đ.Lạy Chúa, con tin cậy vào tình thương Chúa
mãi mãi đến muôn đời.
11Lạy Chúa, con nguyện tạ ơn Ngài luôn mãi, vì Ngài đã ra tay.
Trước mặt những người hiếu trung với Chúa,
con trông đợi danh Ngài, vì danh Ngài thiện hảo.
Đ.Lạy Chúa, con tin cậy vào tình thương Chúa
mãi mãi đến muôn đời.
Tung hô Tin Mừng
Lc 4,18
Ha-lê-lui-a. Ha-lê-lui-a. Chúa sai tôi đi loan báo Tin Mừng cho kẻ nghèo hèn, công bố cho kẻ bị giam cầm biết họ được tha. Ha-lê-lui-a.
Tin Mừng
Lc 4,38-44
Tôi còn phải loan báo Tin Mừng Nước Thiên Chúa cho các thành khác nữa, vì tôi được sai đi cốt để làm việc đó.
✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Lu-ca.
38 Khi ấy, Đức Giê-su rời khỏi hội đường, đi vào nhà ông Si-môn. Bấy giờ, bà mẹ vợ ông Si-môn đang bị sốt nặng. Họ xin Người chữa bà. 39 Đức Giê-su cúi xuống gần bà, ra lệnh cho cơn sốt, và cơn sốt biến mất : tức khắc bà trỗi dậy phục vụ các ngài.
40 Lúc mặt trời lặn, tất cả những ai có người đau yếu mắc đủ thứ bệnh hoạn tật nguyền, đều đưa tới Người. Người đặt tay trên từng bệnh nhân và chữa họ. 41 Quỷ cũng xuất khỏi nhiều người, và la lên rằng : “Ông là Con Thiên Chúa !” Người quát mắng, không cho phép chúng nói, vì chúng biết Người là Đấng Ki-tô.
42 Sáng ngày, Người đi ra một nơi hoang vắng. Đám đông tìm Người, đến tận nơi Người đã đến, và muốn giữ Người lại, kẻo Người bỏ họ mà đi. 43 Nhưng Người nói với họ : “Tôi còn phải loan báo Tin Mừng Nước Thiên Chúa cho các thành khác nữa, vì tôi được sai đi cốt để làm việc đó.” 44 Và Người rao giảng trong các hội đường miền Giu-đê.
Lời nguyện tiến lễ
Lạy Chúa, xin cho của lễ này đem lại cho chúng con muôn vàn ơn phúc, để mầu nhiệm cứu độ chúng con cử hành trong thánh lễ thấm nhập và đổi mới cuộc đời chúng con. Chúng con cầu xin …
Lời Tiền Tụng
Lạy Chúa là Cha chí thánh, là Thiên Chúa toàn năng hằng hữu, chúng con tạ ơn Chúa mọi nơi mọi lúc, nhờ Ðức Ki-tô, Chúa chúng con, thật là chính đáng, phải đạo và đem lại ơn cứu độ cho chúng con.
Vì chính Người, khi sinh ra đã đổi mới con người cũ, khi chịu khổ hình, đã tẩy xoá tội lỗi chúng con, khi từ cõi chết sống lại, đã khai lối vào chốn trường sinh, và khi lên cùng Chúa là Cha, Người đã mở cửa Nước Trời.
Vì thế, cùng với toàn thể Thiên thần và các thánh, chúng con hát bài ca chúc tụng Chúa và không ngừng tung hô rằng:
Thánh! Thánh! Thánh! …
Ca hiệp lễ
Tv 30,20
Lạy Chúa, cao cả thay tấm lòng nhân hậu,
Chúa dành cho kẻ kính sợ Ngài.
Lời nguyện hiệp lễ
Lạy Chúa, chúng con đã được bồi dưỡng nơi bàn tiệc thiên quốc; xin cho Bí Tích này giúp chúng con thêm lòng yêu mến, và thúc đẩy chúng con hết lòng phục vụ Chúa trong anh em. Chúng con cầu xin …
2021
Mười điều răn được phân chia như thế nào
Mười điều răn được phân chia như thế nào
Bản văn ghi lại mười điều răn mà chúng ta đọc trong Kinh thánh không được trình bày theo kiểu đánh số… vậy phải phân chia nó như thế nào cho hợp lý nhất?
Chúng ta đọc thấy trong Thánh vịnh 32 (33) như sau: “Hãy tạ ơn Người, họa với tiếng cầm, hãy đàn ca Người, hòa theo tiếng sắt thập huyền” (Tv 32,2). Bạn đã bao giờ hát đối đáp từng câu của mười điều răn? Trong phụng vụ của Giáo phận Anh giáo được Tòa thánh phê chuẩn, mười điều răn thỉnh thoảng được công bố lúc bắt đầu Thánh lễ theo thể thức kinh cầu. Vị linh mục xướng: “Thiên Chúa truyền dạy những lời này và phán…”, rồi ngài thuật lại từng điều một. Sau mỗi điều, ca đoàn và cộng đoàn hát lên: “Lạy Chúa, xin tỏ lòng thương xót trên chúng con, và hướng lòng chúng con tuân giữ lề luật này”.
Tôi lớn lên cùng với thực hành này hàng tháng, và việc Giáo hội kết hợp nó vào trong phụng vụ chính thức thật là một điều vừa thú vị vừa có đôi chút lạ lẫm – hơi lạ bởi vì cách phân chia mười điều răn theo Anh giáo khác với lễ nghi Latinh truyền thống của Công giáo. Hai cách phân chia khác nhau ra sao và lý do của chuyện này là gì? Chúng ta sẽ bàn thêm sau.
Tuy nhiên thập huyền cầm nhắc nhớ chúng ta, tất cả các dây của chúng đều dùng để ca ngợi Thiên Chúa. Thánh Augustinô chọn câu thánh vịnh trích ở trên và xem nó là dịp để giảng dạy về mười điều răn. Ở nơi khác, trong những chú giải tuyệt vời của ngài về các thánh vịnh (loạt bài giảng đầu tiên tại Hippo), ngài khuyên bảo chúng ta rằng, chúng ta sẽ là lời ngợi ca sống động dâng Thiên Chúa nếu chúng ta sống tốt lành. Do đó, không đáng ngạc nhiên khi ngài lấy hình tượng của chiếc thập huyền cầm làm biểu tượng cho một đời sống công chính – cụ thể là sống theo mười điều răn. Một đời sống tương hợp với các giới răn chính là một bài ca ngợi khen ngân lên gấp mười lề luật.
Nhưng Lề luật chỉ có hai điều trước khi trở thành mười. Như Đấng Cứu độ đã dạy, nó được tóm lại thành “điều răn quan trọng nhất và điều răn thứ nhất”: “Ngươi phải yêu mến Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi, hết lòng, hết linh hồn và hết trí khôn ngươi”, và điều thứ hai cũng “giống với” điều trước: “ngươi phải yêu người thân cận như chính mình”.
Vì lẽ này, thánh Augustinô dạy chúng ta rằng tấm bia Lề luật thứ nhất của Môsê liên quan đến tình yêu Thiên Chúa, còn tấm thứ hai liên quan đến tình yêu người thân cận. Như vậy, có ba điều luật trên một tấm bia và bảy điều luật trên tấm còn lại. Cũng giống như tấm bia đầu tiên bắt đầu với cội nguồn sự tồn tại của chúng ta là Thiên Chúa Cha, rồi sau đó hướng đến các Ngôi vị Thần linh ở điều thứ hai và ba, thì tấm thứ hai gồm bảy điều, cũng bắt đầu với cội nguồn của đời sống trần thế và những người gần gũi chúng ta nhất là các bậc cha mẹ, rồi sau đó tiến tới những mối tương quan và các khía cạnh khác của đời sống mà qua đó chúng ta thể hiện tình yêu người thân cận của mình; chúng gộp lại thành mười điều.
Sự phân chia này luôn được Giáo hội Tây phương sử dụng. Có sự thống nhất trong cách phân chia giữa những người Công giáo Rôma và những người thuộc phái Luther, những người ủng hộ cách sắp xếp của thánh Augustinô. Còn trong Giáo hội Đông phương cũng như tất cả người Do Thái và các tín đồ Tin lành trừ phái Luther, họ cũng dùng mười điều răn nhưng phân chia chúng thành năm điều cho mỗi bảng mà không qui chiếu đến trật tự dựa trên việc tóm kết các điều răn theo đức ái. Dĩ nhiên truyền thống nào cũng đáng quí.
Giáo lý Hội thánh Công giáo cho chúng ta biết chính xác điều mà tôi vừa trình bày:
“Việc phân chia và đánh số các điều răn có thay đổi theo dòng lịch sử. Quyển Giáo Lý này theo cách phân chia của thánh Augustinô đã trở thành truyền thống trong Hội Thánh Công Giáo. Các giáo phái Luther cũng theo cách phân chia này. Các giáo phụ Hy Lạp phân chia hơi khác; cách chia này còn gặp thấy trong Giáo Hội Chính thống và các cộng đoàn Cải Cách.
Mười Điều Răn nêu ra các đòi hỏi của tình mến Chúa yêu người. Ba điều răn đầu đề cập đến tình yêu đối với Thiên Chúa, và bảy điều sau, đến tình yêu đối với tha nhân.
‘Như Chúa đã đúc kết tất cả lề luật và các tiên tri vào trong hai giới răn yêu mến…; Mười Điều Răn cũng được chia thành hai bảng. Ba điều khắc trên một bảng, và bảy điều trên bảng kia’” (GLHTCG 2066-2067).
Vì thế, hoàn toàn sai lầm khi tuyên bố rằng sự phân chia điều răn thứ nhất thành hai điều là một biến thể của đạo Tin lành nhằm phản đối việc tôn kính ảnh tượng của Công giáo, khi dành điều răn thứ hai riêng biệt để chống lại việc thờ các ngẫu tượng. Không phải vậy, các giáo phụ Đông phương, những người dạy phải tôn kính các ảnh tượng thậm chí còn mạnh mẽ hơn cả các giáo phụ Tây phương, giải thích việc đánh số này như là sự cấm đoán các ảnh tượng trong phụng tự, nhưng chỉ cấm các ảnh tượng ngụy thần; còn Thiên Chúa thật, các thiên thần và các thánh của Người không phải là ngẫu tượng. Và cuối cùng, bất kỳ ai viếng thăm một nhà thờ Tin lành thuộc bất kỳ chi phái nào ngày nay, chí ít sẽ thấy ở đây một số ảnh tượng của Đức Giêsu, các tông đồ hay Thánh gia thất. Nếu bạn thăm một nhà thờ thuộc phái Luther ở Đức, bạn luôn luôn thấy thánh giá trên bàn thờ, các họa tiết của bàn thờ với hình ảnh của Đức Mẹ và Hài nhi, và cả một số các vị thánh không xuất hiện trong Kinh thánh. Quả thật, điều răn thứ hai theo cách đánh số Công giáo, truyền phải tôn kính Thánh danh, dạy chúng ta tôn kính một dấu chỉ, một biểu tượng, một ý niệm khả thính, vì cũng như một bức tranh, một từ ngữ đại diện cho đối tượng mà nó định danh. Về mặt này, có một sự khác biệt nhỏ giữa một từ ngữ và một bức tranh. Và đáng buồn là theo kinh nghiệm của tôi, những người Tin lành mộ đạo hiếm khi kêu danh Đức Chúa cách vô cớ hơn những người Công giáo mộ đạo! Như vậy, họ cũng tôn kính các ảnh tượng, và đôi khi làm điều đó tốt hơn cả chúng ta.
Việc đánh số các điều răn theo một trong những cách đó được các giáo sư kinh viện thời Trung cổ gọi là một sự “phân biệt mà không khác biệt”. Bản văn mười điều răn chúng ta thấy trong Kinh thánh không hề xuất hiện theo kiểu liệt kê, và Đệ nhị luật cho chúng ta biết rằng có mười điều răn trên hai bia đá của Môsê, và do đó, chúng ta phân chia chúng theo thói quen, nhưng tất cả chúng ta đều dùng chung một bản văn.
Qua những gì đã trình bày, tôi cho phép mình nói rằng cách phân chia của thánh Augustinô tốt hơn về mặt huấn giáo. Nó đồng thời dạy về mười điều răn và về bản chất của chúng căn cứ trên điều răn yêu thương, là điều răn gồm hai phần, có nguồn gốc từ sự sáng tạo và sinh sản; và như thế, cách phân chia này giúp chúng ta hiểu sâu sắc hơn ý nghĩa của mười điều răn.
Trên thực tế, Đấng Cứu độ chúng ta đã đơn giản hóa hơn nữa, bằng cách ban cho chúng ta một điều răn mới và duy nhất: “Hãy yêu thương nhau như Ta đã yêu thương các con”. Nếu chúng ta giữ trọn được điều duy nhất này, chúng ta sẽ giữ trọn được hai điều và cả mười điều, bất kể chúng được phân chia ra sao. Khi đó, việc thực thi mười điều răn sẽ không chỉ là một bài thánh vịnh; nó sẽ trở thành một bản tình ca! Và Diễm ca sẽ là Xuất hành và Đệ nhị luật mới của chúng ta…
Grêgôriô Võ Trần Nhựt chuyển ngữ
2021
Dòng tu Công Giáo duy nhất có khả năng thiết lập quan hệ ngoại giao với các quốc gia
Dòng tu Công Giáo duy nhất có khả năng thiết lập quan hệ ngoại giao với các quốc gia
Giáo Hội Công Giáo có rất nhiều dòng tu, trong đó có một dòng tu đặc biệt có tư cách chủ quyền tương đương quốc gia, là quan sát viên tại Liên Hiệp Quốc và khả năng quan hệ ngoại giao với chính phủ các nước trên thế giới, đó là Dòng Hiệp Sĩ Toàn Quyền Malta (hay Dòng Chiến Sĩ Toàn Quyền Malta – Sovereign Military Order of Malta).
Dòng này có tên đầy đủ là Dòng Hiệp Sĩ Toàn Quyền Cứu Tế Thánh Gioan Giêrusalem, Rhodes và Malta, hay cũng được biết với các tên gọi Dòng Malta, Hội Hiệp Sĩ Malta. Đây là một dòng giáo dân Công Giáo, có truyền thống quân đội, hiệp sĩ và quý tộc.
Không nên nhầm lẫn Dòng Malta với nhà nước Cộng Hoà Malta là nhà nước đang quản lý quần đảo Malta ở Nam Âu.
Lịch sử sơ lược
Dòng được hình thành từ năm 1048, khi các thương gia từ quốc gia Amalfi giành được từ tay vua Ai Cập quyền xây dựng nhà thờ, tu viện, bệnh viện ở Giêrusalem, cho phép những người hành hương đến đây không phân biệt tôn giáo hay chủng tộc nào; được chính thức thành lập với tên Dòng Thánh Gioan Giêrusalem (được đặt theo tên Thánh Gioan Baotixita) bởi Chân phước Gerard ở Vương Quốc Giêrusalem vào năm 1099, với đoàn sủng chăm lo cho khách hành hương đến Giêrusalem. Ngày 15/02/1113, Đức Giáo Hoàng Pascan II chấp thuận việc thành lập dòng và đặt dòng dưới sự bảo hộ của Toà Thánh. Tất cả các tu sĩ trong dòng đều khấn ba lời khấn khiết tịnh, khó nghèo và vâng phục. Vì mục đích lo cho khách hàng hương, tu sĩ dòng cũng tham gia các cuộc thập tự chinh, khiến dòng trở thành dòng hiệp sĩ. Dòng không chịu sự chỉ huy của bất kỳ quốc gia nào, chỉ vâng phục lệnh của Giáo Hoàng.
Năm 1291, khi Đất Thánh không còn thuộc kiểm soát của người Kitô Giáo, dòng Thánh Gioan dời về đảo Síp. Năm 1310, dòng tái tổ chức trên đảo Rhodes, xây dựng những hạm đội quân sự lớn nhằm xây dựng lại đế chế Kitô Giáo ở Đất Thánh, tham gia các cuộc chiến tại Syria và Ai Cập. Năm 1523, dòng mất đảo Malta vào tay đế quốc Ottoman và hoạt động trong tình trạng không lãnh thổ. Đến năm 1530 thì dòng được vua Charles V của Đế Quốc La Mã Thần Thánh tặng quần đảo Malta để đóng quân. Từ năm 1651 đến 1665, dòng sở hữu thêm 4 hòn đảo ở vùng biển Caribê, bao gồm đảo Saint Barthélemy (Thánh Batôlômêô), Saint Christopher (Thánh Christôphôrô), Saint Croix (Thánh Giá) and Saint Martin (Thánh Martin), sau đó bán lại cho công ty Tây Ấn Pháp.
Năm 1798, vua Pháp Napoleon Bonaparte chiếm được đảo Malta, chấm dứt hơn 250 năm dòng Thánh Gioan Giêrusalem quản lý quần đảo này. Dòng di tản đi, và đến năm 1834 thì cư trú ổn định tại đồi Aventine ở Rôma, Quốc Gia Giáo Hoàng. Đảo Malta độc lập thành nhà nước Cộng Hoà Malta vào năm 1964. Một thoả thuận giữa dòng Hiệp Sĩ Malta và nhà nước Cộng Hoà Malta được ký năm 1998 và phê chuẩn năm 2001 (sau một thoả thuận 1991 đã hết hạn) cho phép dòng sử dụng phần trên lâu đài St. Angelo ở thành phố Birgu, Malta vì các mục đích hỗ trợ nhân đạo.
Năm 2016, dòng gặp một khủng hoảng khi vị Hiệp Sĩ Tối Cao của dòng Matthew Festing sa thải Chưởng Ấn Albrecht von Boeselager vì cho rằng Chưởng Ấn liên quan đến việc phân phối bao cao su ở Myanmar. Vị Chưởng Ấn không đồng ý và kháng lại quyết định. Tháng 01/2017, Đức Giáo Hoàng Phanxicô can thiệp, yêu cầu Matthew Festing từ chức và phục chức lại cho Albrecht von Boeselager; đồng thời ngài bổ nhiệm Tổng Giám Mục Giovanni Angelo Becciu làm đại diện Giáo Hoàng tại dòng, bỏ qua quyền Bảo trợ Hội Dòng của Hồng Y Raymond Leo Burke. Việc Đức Giáo Hoàng can thiệp vào việc quản trị của dòng khiến nhiều nhà quan sát cho rằng vi phạm truyền thống và sự độc lập của dòng.
Tình trạng hiện tại
Dòng Hiệp Sĩ Toàn Quyền Malta được quốc tế xem như một tổ chức có vị thế quốc gia không lãnh thổ duy nhất trên thế giới, được Liên Hiệp Quốc cấp tư cách quan sát viên thường trực từ năm 1994, bên cạnh Toà Thánh và nhà nước Palestine. Dòng hiện sở hữu 3 cơ sở vật chất chính, được xem như lãnh thổ thực tế của dòng là toà nhà Palazzo Malta ở Rôma (trụ sở), Villa del Priorato di Malta ở Rôma (toà nhà chính phủ) và Saint Angelo ở đảo Malta. Hai toà nhà ở Rôma, cộng với toà đại sứ Dòng Malta tại Toà Thánh và toà đại sứ Dòng Malta tại Italy, được nhà nước Italy cấp quyền đặc miễn ngoại giao, tình trạng tương tự như lãnh thổ thực tế của Dòng Malta.
Hiện tại dòng đang duy trì quan hệ ngoại giao chính thức với 110 quốc gia cùng nhiều tổ chức quốc tế.
Caption: Các quốc gia có quan hệ ngoại giao với Dòng Hiệp Sĩ Malta
Dòng phát hành hộ chiếu, con tem, tiền xu riêng, có biển số xe, chính phủ, quốc kỳ, quốc huy và quốc ca riêng; tuy nhiên Liên minh Viễn thông Quốc tế không chấp nhận việc cấp mã nhận dạng vô tuyến và đuôi tên miền riêng cho dòng. Dòng cũng là một trong hai dòng duy nhất được Toà Thánh cho phép làm phù hiệu có hình áo choàng tu sĩ.
Người đứng đầu và được xem như nguyên thủ Dòng Malta là Thái Tử Đại Thống Lĩnh, được bầu bởi Hội Đồng Toàn Quốc. Đại Thống Lĩnh được trợ giúp bởi một Hội Đồng Toàn Quyền, tức chính phủ Dòng Malta, được bầu ra bởi Tổng Phân Bộ, tương đương quốc hội. Hội Đồng Toàn Quyền bao gồm 6 thành viên và 4 Viên Chức Cao Cấp: Tổng Tư Lệnh, Chưởng Ấn, Tổng Cứu Tế và Giám Thu Tài Sản Công.
Thành viên của dòng có 4 cấp bậc: Cấp Nhất được gọi là Hiệp Sĩ Công Chính hay Hiệp Sĩ Tuyên Khấn, là những người khấn 3 lời khấn tu dòng (hiện có 2 nữ tu viện ở Tây Ban Nha và 1 ở Malta bao gồm các thành viên thuộc cấp này). Cấp Nhị được gọi là Hiệp Sĩ Và Nữ Hiệp Sĩ Vâng Phục, chỉ gồm những người lập lời hứa vâng phục, không phải khấn; cấp này chia làm 3 phân lớp. Cấp Tam là những người không có lời khấn hay hứa mà chỉ cần sống theo các quy tắc của dòng; cấp này có 6 phân lớp. Các thành viên dòng mang một biểu tượng Thánh giá tám nhánh tượng trưng cho Tám Mối Phúc Thật.
Dòng hiện có khoảng 13.500 hiệp sĩ, vài chục tu sĩ tuyên khấn, 80.000 tình nguyện viên và 42.000 nhân viên y tế làm việc trong 120 quốc gia. Tôn chỉ của dòng là phục vụ trẻ em, người vô gia cư, người khuyết tật, người già, bệnh hiểm nghèo, người di cư, người phong hủi, trợ giúp nạn nhân thiên tai, dịch bệnh, chiến tranh, không phân biệt tôn giáo, dân tộc. Ngoài ra, một tôn chỉ khác của dòng là bảo vệ đức tin Công Giáo, được đấng sáng lập thêm vào sau.
Vì vị thế đặc biệt của mình, dòng Hiệp Sĩ Malta có một Giám Mục và một Hồng Y bảo trợ riêng. Giám Mục của dòng là Đấng bản quyền chính thức với các thành viên dòng, được Đức Giáo Hoàng bổ nhiệm từ danh sách ba ứng viên do Đại Thống Lĩnh dòng đề xuất. Giám Mục hiện tại của dòng là Đức cha Jean Laffitte. Hồng Y bảo trợ dòng có thể là một Hồng Y kiêm nhiệm hoặc toàn thời gian, có nhiệm vụ nâng đỡ tinh thần cho các thành viên dòng và bảo hộ mối quan hệ của dòng với Toà Thánh, được Đức Giáo Hoàng toàn quyền bổ nhiệm. Hồng Y bảo trợ đương kiêm là Đức Hồng Y Raymond Leo Burke.
Thánh Bổn Mạng của dòng là Đức Mẹ Philermos.
Vì là một dòng hiệp sĩ, Dòng Malta duy trì một quân đội hiện đại với các xe cứu thương quân sự, máy bay chiến đấu và xe jeep.
Thủ đô Valletta của Cộng Hoà Malta hiện nay là một điểm du lịch thu hút vì vẫn còn lưu giữ nhiều công trình nổi tiếng từ thời Dòng Malta quản trị hòn đảo.
Gioakim Nguyễn
2021
Kinh Truyền Tin – Chúa Nhật 22 TN B: Không đổ lỗi nhưng học cách nhận lỗi
Ngày 29.8.2021, Chúa Nhật 22 Mùa Thường niên
KHÔNG ĐỔ LỖI NHƯNG HỌC CÁCH NHẬN LỖI
Trưa Chúa Nhật, 29/8/2021, Đức Thánh Cha Phanxicô chủ sự buổi đọc kinh Truyền tin với hơn 3.000 tín hữu hành hương tại quảng trường thánh Phêrô. Trong bài huấn dụ ngắn trước khi đọc kinh, Đức Thánh Cha diễn giải ý nghĩa bài Tin mừng theo thánh Maccô, phụng vụ Chúa Nhật XXII thường niên năm B, thuật lại việc Chúa Giêsu khiển trách một số người Pharisêu và kinh sư coi trọng những nghi lễ bên ngoài.
Bài huấn dụ của Đức Thánh Cha:
Phải đưa đức tin trở lại trung tâm
Tin Mừng Chúa Nhật tuần XXII Thường niên cho thấy một số người Pharisêu và kinh sư ngạc nhiên trước thái độ của Chúa Giêsu. Họ lấy làm chướng mắt khi thấy các môn đệ dùng bữa nhưng không thực hiện các nghi thức truyền thống. Họ nghĩ cách làm này của các môn đệ là trái với thực hành tôn giáo. Chúng ta cũng có thể tự hỏi: nhưng tại sao Chúa Giêsu và các môn đệ bỏ qua các truyền thống này? Về cơ bản, những truyền thống này không xấu, nhưng chỉ là những tập quán, nghi lễ tốt, rửa tay sạch trước khi dùng bữa. Nhưng tại sao Chúa Giêsu không chú ý đến điều này? Bởi vì đối với Chúa, điều quan trọng là phải đưa đức tin trở lại trung tâm của nó. Trong Tin Mừng, chúng ta luôn thấy điều này: đưa đức tin trở lại trung tâm. Hãy tránh rơi vào nguy cơ này, đối với các kinh sư cũng như với chúng ta, đó là: tuân giữ các nghi thức bên ngoài trong khi đặt trọng tâm của đức tin ở vị trí thứ yếu. Chúng ta cũng hay trang điểm cho linh hồn… theo hình thức bên ngoài và không quan tâm đến trọng tâm của đức tin. Đó là nguy cơ của một tôn giáo bề ngoài: tỏ ra tốt đẹp bên ngoài, nhưng lại bỏ qua việc thanh tẩy tâm hồn. Luôn có cám dỗ thực hiện một số việc sùng kính bên ngoài, nhưng Chúa Giêsu không hài lòng với việc thờ phượng này. Chúa không muốn hình thức bên ngoài, Chúa muốn một đức tin chạm đến con tim.
Thực vậy, ngay sau đó, Chúa gọi đám đông dân chúng để nói một chân lý tuyệt vời: “Không có cái gì từ bên ngoài vào trong con người lại có thể làm cho con người ra ô uế được” (c 15). Nhưng “từ bên trong, từ lòng người” (c 21) phát xuất những ý định xấu. Những lời này mang tính cách mạng, bởi vì vào thời đó, tâm thức con người cho rằng một số thức ăn hoặc sự tiếp xúc bên ngoài làm cho người ta ra ô uế. Chúa Giêsu lật đổ quan điểm đó: Không có cái gì từ bên ngoài vào trong con người lại có thể làm cho con người ra ô uế được; nhưng chính cái từ con người xuất ra là cái làm cho con người ra ô uế.
Dành thời gian để đổ lỗi cho người khác là lãng phí thời gian
Anh chị em thân mến, điều này cũng có liên quan đến chúng ta. Thường chúng ta nghĩ rằng điều xấu chủ yếu đến từ bên ngoài: từ cách cư xử của người khác, từ những người nghĩ xấu về chúng ta, từ xã hội. Nhiều lần chúng ta đổ lỗi cho người khác, cho xã hội, cho thế giới, cho tất cả những gì xảy ra với chúng ta! Lỗi luôn là của “người khác”: của dân chúng, của người lãnh đạo, của rủi ro. Các vấn đề dường như luôn đến từ bên ngoài. Và chúng ta dành thời gian để đổ lỗi; nhưng dành thời gian để đổ lỗi cho người khác là lãng phí thời gian. Điều này làm cho chúng ta giận dữ, chua ngoa và làm con tim chúng ta xa Chúa. Giống như những người trong Tin Mừng, họ than phiền, gây cớ vấp phạm, tranh luận và không đón tiếp Chúa Giêsu. Chúng ta không thể là Kitô hữu luôn than phiền: giận dữ, oán hận và buồn chán đóng cửa lòng trước Chúa.
Để chiến thắng cái ác: bắt đầu chinh phục nó bên trong chính mình
Hôm nay chúng ta cầu xin Chúa giải thoát chúng ta khỏi việc đổ lỗi cho người khác. Chúng ta cầu xin ân sủng để không lãng phí thời gian làm ô nhiễm thế giới với những lời phàn nàn, bởi vì đây không phải là Kitô hữu. Tốt hơn, Chúa Giêsu mời gọi chúng ta nhìn vào cuộc sống và thế giới khởi đi từ tâm hồn chúng ta. Nếu chúng ta nhìn vào bên trong, chúng ta sẽ thấy hầu hết mọi thứ chúng ta ghét, nó không ở bên ngoài. Và nếu chúng ta thành tâm cầu xin Chúa thanh tẩy tâm hồn chúng ta, thì chúng ta sẽ bắt đầu làm cho thế giới trong sạch hơn. Bởi vì có một cách không thể sai lầm để chiến thắng cái ác: bắt đầu chinh phục nó bên trong chính mình.
Khi các Giáo phụ, các đan sĩ được hỏi: “Đâu là con đường nên thánh? Tôi phải bắt đầu như thế nào?”. Các vị trả lời: Bước đầu tiên là phải nhận lỗi về mình. Có bao nhiêu người trong chúng ta, vào lúc nào đó trong ngày hoặc trong tuần, có khả năng tự nhận lỗi về mình? Đây là sự khôn ngoan: học nhận lỗi về mình. Anh chị em hãy cố gắng làm điều này, nó sẽ làm anh chị em tốt hơn.
Xin Đức Trinh Nữ Maria, Đấng đã thay đổi lịch sử nhờ sự tinh tuyền của tâm hồn, giúp chúng ta thanh tẩy chính mình, trước hết là vượt qua việc đổ lỗi cho người khác và phàn nàn về mọi thứ.
—
Sau khi đọc kinh Truyền tin và phép lành, Đức Thánh Cha bày tỏ sự lo ngại về tình hình ở Afghanistan, đặc biệt là những cuộc tấn công tự sát làm cho nhiều người chết hôm thứ Năm vừa qua. Ngài nói: “Tôi phó thác những người qua đời cho lòng thương xót Chúa. Tôi cám ơn những ai đang làm việc để giúp đỡ dân tộc đang gặp thử thách này, đặc biệt các phụ nữ và trẻ em. Tôi xin mọi người tiếp tục trợ giúp những người đang gặp khó khăn, và xin cầu nguyện để đối thoại và tình liên đới dẫn đến thiết lập một sự chung sống hòa bình và huynh đệ, và niềm hy vọng cho tương lai của đất nước. Trong thời khắc lịch sử này, chúng ta không thể dửng dưng: lịch sử của Giáo hội dạy chúng ta điều này. Là Kitô hữu, hoàn cảnh này đòi buộc chúng ta phải dấn thân. Vì vậy, tôi kêu gọi tất cả anh chị em gia tăng cầu nguyện, ăn chay và sám hối. Đây là lúc làm điều này. Tôi nói nghiêm túc: gia tăng cầu nguyện và ăn chay, cầu xin Thiên Chúa lòng thương xót và sự tha thứ”.
Tiếp theo, Đức Thánh Cha gửi lời chào đến các thành viên của Phong trào Laudato Si’ và cám ơn vì những dấn thân của họ cho Ngôi nhà chung của chúng ta, đặc biệt trong “Thời gian của Thụ tạo” sắp tới.
Sau cùng, Đức Thánh Cha gửi lời chào đến các tín hữu hành hương đến từ nhiều quốc gia, và chúc mọi người ngày Chúa Nhật an lành và xin mọi người đừng quên cầu nguyện cho ngài.
Nguồn: vaticannews.va/vi/
