2021
Các nhà khảo cổ phát hiện đồng bạc 2000 năm tuổi quý hiếm ở miền trung Israel
Các nhà khảo cổ phát hiện đồng bạc 2000 năm tuổi quý hiếm ở miền trung Israel
Mười sáu (16) đồng xu bằng bạc có niên đại 2.140 năm đã được phát hiện trong một cuộc khai quật khảo cổ học ở miền trung Israel. Một hệ thống đường hầm có thể đã được sử dụng trong Cuộc nổi dậy vĩ đại năm 66 sau Công nguyên cũng đã được khai quật.
Địa điểm khai quật
Cơ quan Quản lý Cổ vật Israel (IAA) hôm thứ Ba xác nhận rằng số tiền xu được tìm thấy vào tháng 4 tại thành phố Modi’in, phía tây Giêrusalem. Các nhà khảo cổ học đã tiến hành một cuộc khai quật trên một khu đất nông nghiệp trên đỉnh đồi do một gia đình Do Thái thành lập. Kho cất giữ tiền xu có từ thời kỳ Vương quốc Hasmoneus trong Kinh thánh, vương quốc cai trị vùng Giudêa từ năm 140 trước Công nguyên cho đến năm 37 trước Công nguyên. [1]
Giám đốc của cuộc khai quật, Avraham Tendler, suy đoán rằng một trong những thành viên của khu di sản chắc chắn đã phải rời đi và “chôn tiền của mình với hy vọng quay lại và lấy lại nó, nhưng rõ ràng là không may và không bao giờ trở lại.”
Tendler nói: “Thật thú vị khi nghĩ rằng kho cất giữ tiền xu đã chờ đợi ở đây 2.140 năm cho đến khi chúng tôi phát hiện ra nó.”
Cuộc nổi dậy vĩ đại
Theo IAA, những đồng tiền này được đúc ở thành phố Tyrô, ở miền nam Libăng ngày nay và mang chân dung của Antiochus VII và anh trai Demetrius II của ông. Antiochus VII cai trị đế chế Hy Lạp từ năm 138 trước Công nguyên đến năm 129 trước Công nguyên. [2]
Các nhà khảo cổ cũng tìm thấy một số đồng xu bằng đồng được đúc bởi các vị vua vương triều Do thái Hasmoneus. Chúng mang tên của các vị vua Yehohanan (chú thích của người dịch: Gioan), Giuđa, Giônathan và Mattathias.
Các đồng tiền bằng đồng – có khắc ngày “Năm thứ Hai” của cuộc nổi dậy đầu tiên của người Do Thái địa phương chống lại Đế chế La Mã bắt đầu vào năm 66 sau Công nguyên và khẩu hiệu “Tự Do cho Sion” – cũng là bằng chứng cho thấy các cư dân đã tham gia cuộc nổi dậy.
Một hệ thống đường hầm dưới lòng đất được sử dụng để ẩn náu cũng như những tảng đá lớn dùng để tạo rào chắn cũng đã được khai quật.
“Có vẻ như cư dân địa phương đã không từ bỏ hy vọng giành được độc lập từ Rôma, và họ đã chuẩn bị kỹ lưỡng để chống lại kẻ thù trong cuộc nổi dậy Bar Kokhba,” Tendler nói.
Công viên khảo cổ trong đường ống
Hàng chục chiếc vò rượu bằng đá, cũng như bồn tắm theo nghi lễ của người Do Thái, cũng được phát hiện, cho thấy những người sống trong khu định cư này tuân theo các lề luật nghi lễ về sự tinh sạch và không đụng đến đồ ô uế.
“Các thành viên trong gia đình đã trồng cây ô liu và vườn nho trên những ngọn đồi lân cận và trồng ngũ cốc trong các thung lũng,” Tendler nói và cho biết thêm rằng một khu công nghiệp, bao gồm máy ép ô liu và các kho chứa dầu ô liu, hiện đang được khai quật bên cạnh gia sản của gia đình.
Các cuộc khai quật, chẳng hạn như cuộc khai quật được thực hiện ở Modi’in, là bắt buộc phải thực hiện ở Israel trước khi bất cứ công trình mới nào được xây dựng. Một khu phố mới được lên kế hoạch trên địa điểm này, hiện sẽ bao gồm một công viên khảo cổ để bảo tồn các khám phá của IAA. [3]
THÀNH CỔ HY LẠP CỔ ĐẠI ĐƯỢC PHÁT HIỆN Ở GIÊRUSALEM DƯỚI MỘT BÃI ĐẬU XE
Acra, pháo đài huyền thoại được Antiochus xây dựng cách đây hơn 2.000 năm ở Giêrusalem, đã được khai quật dưới một bãi đậu xe. Tòa thành bị mất được coi là một trong những bí ẩn khảo cổ lớn nhất chưa được giải mã của thế giới.
Những người quen thuộc với truyền thống của người Do Thái sẽ biết đến cái tên Antiochus, vì ông là Vua Hy Lạp đã ra lệnh cấm các nghi lễ tôn giáo của người Do Thái – và điều đó đã châm ngòi cho cuộc nổi loạn Maccabê. Những người nổi dậy đã đánh bại quân Hy Lạp vì binh lình Hy Lạp bị chết đói sau khi những người nổi dậy bao vây thành trì của họ một thời gian dài. Chiến thắng được ghi nhớ với ngày lễ Hanukkah của người Do Thái.
Pháo đài Hy Lạp được xây dựng bởi Hoàng đế Seleucid Antiochus IV Epiphanes (215-164 trước Công nguyên), được gọi là Acra, được đề cập trong ít nhất hai văn bản cổ – Sách Maccabê, kể về cuộc nổi loạn, và một bản ghi chép của sử gia Josephus Flavius.
Tuy nhiên, các nhà khảo cổ học đã phân vân trong hơn một thế kỷ về vị trí chính xác của tòa thành huyền thoại này. Nhiều người cho rằng nó nằm ở nơi ngày nay là Thành phố Cổ có tường bao quanh của Giêrusalem, một địa điểm được coi là linh thiêng đối với cả những người Do Thái vốn coi nó là Núi Đền Thờ và những người Hồi giáo giữ hai thánh địa ở đó, Dome of the Rock [4] và nhà thờ Hồi giáo Al-Aqsa. [5]
Giờ đây, “một trong những bí ẩn khảo cổ lớn nhất của Giêrusalem” có thể được giải quyết, Cơ quan quản lý cổ vật Israel cho biết vào thứ Ba (31/03/2015). Họ cho rằng thành cổ Hy Lạp này cuối cùng đã được tìm thấy – được chôn cất dưới một bãi đậu xe hơi.
Bãi đậu xe Givati trước đây nằm bên ngoài Thành phố Cổ, trong một khu phố của người Palestine ở phía đông Giêrusalem bị chiếm đóng, trên nơi từng được gọi là Thành phố của David vào năm 168 trước Công nguyên.
Doron Ben-Ami, người dẫn đầu cuộc khai quật, cho biết: “Khám phá giật gân này cho phép chúng tôi lần đầu tiên tái tạo lại bố cục của khu định cư trong thành phố, vào đêm trước của cuộc nổi dậy Maccabê năm 167 TCN”.
Một bức tường khổng lồ có thể là chân tháp đã được phát hiện – dài hơn 20 mét (65 feet) và rộng 4 mét (12 feet).
Những viên đá bằng chì bắn bằng ná và đầu mũi tên bằng đồng từ thời kỳ này cũng được tìm thấy tại các địa điểm chung quanh đó. Các nhà khảo cổ tin rằng chúng còn sót lại sau các trận chiến giữa các lực lượng thân Hy Lạp và phiến quân Do Thái đang cố gắng chiếm pháo đài.
Ben-Ami nói: “Đây là một ví dụ hiếm hoi về việc những viên đá, những đồng xu và bụi bẩn có thể kết hợp với nhau trong một câu chuyện khảo cổ học đề cập đến những thực tế lịch sử cụ thể của thành phố Giêrusalem”. (AFP, Reuters) [6]
Phạm Văn Trung chuyển ngữ.
Chú thích của người dịch:
[1] Các Vương Quốc Hasmoneus (tiếng Do Thái: חַשְׁמוֹנַּאִים Ḥašmona’īm) là một triều đại cai trị xứ Giuđêa và khu vực xung quanh trong thời kỳ cổ đại, từ 140 TCN đến 37 TCN. Giữa 140 và 116 TCN, vương triều cai trị Giuđêa bán tự trị khỏi Đế chế Seleukos, và từ khoảng năm 110 TCN, khi đế chế tan rã, Giuđêa đã giành được quyền tự trị hơn nữa và mở rộng sang các vùng lân cận như Samaria, Galilêa, Iturêa, Pêrêa và Idumêa. Các nhà cai trị Hasmoneus lấy danh hiệu Hy Lạp là “basileus”, (“vua” hoặc “hoàng đế”), và một số học giả hiện đại gọi thời kỳ này là một vương quốc độc lập của Israel. Vương quốc cuối cùng bị Cộng hòa La Mã chinh phục và vương triều Hasmoneus bị Herôđê Đại đế thay thế vào năm 37 trước Công nguyên.
Vương triều được thành lập dưới sự lãnh đạo của Simon Thassi, hai thập kỷ sau khi anh trai của ông là Giuđa Maccabê (יהודה המכבי Yehudah HaMakabi) đánh bại quân đội Seleucid trong Cuộc nổi dậy Maccabê. Theo quyển 1 và 2 sách Maccabê, và cuốn sách đầu tiên Chiến tranh Do Thái viết bởi sử gia Flavius Josephus (37 – 100 sau Công nguyên), chuyên về Do Thái, thì Vương triều Hasmoneus đã tồn tại được 103 năm trước khi bị sáp nhập vào vương triều Hêrôđê vào năm 37 trước Công nguyên. Việc Hêrôđê Đại đế (người Idumêa) lên làm vua vào năm 37 TCN đã biến Giuđêa trở thành một quốc gia bị trị của La Mã và đánh dấu sự kết thúc của triều đại Hasmoneus. Ngay cả sau đó, Hêrôđê cố gắng củng cố tính hợp pháp của triều đại của mình bằng cách kết hôn với một công chúa Hasmoneus, tên là Mariam, và lên kế hoạch giết chết người đàn ông thừa kế Hasmoneus cuối cùng tại cung điện Giêricô của ông ta. Vào năm 6 CN, Rôma kết hợp Giuđêa, Samaria và Iđumêa thành tỉnh Giuđêa của La Mã. Vào năm 44 CN, La Mã đã thiết lập quy chế kiểm sát song song với quy chế cai trị của các vị vua Hêrôđê, cụ thể là Agrippa I (41–44) và Agrippa II 50–100).
[2] Sách Macabê quyển I, chương 1, có nói đến vị vua “đó là Antiôkhô Êpiphanê, con vua Antiôkhô; vua này đã phải làm con tin ở Rôma, trước khi làm vua năm một trăm ba mươi bảy theo lịch triều Hilạp. Lúc bấy giờ, từ trong Ítraen đã nảy sinh những đứa vô lại, chúng đã dụ dỗ nhiều người như sau: “Nào chúng ta đi ký kết giao ước với các dân tộc láng giềng, vì từ khi sống cách biệt họ, chúng ta gặp phải nhiều tai hoạ.” Những người này thấy lời ấy thật vừa lòng. Một số người trong dân vội đi yết kiến nhà vua. Vua đã cho phép họ sống theo các tập tục của dân ngoại. Thế là họ đã xây một thao trường ở Giêrusalem theo thói các dân ngoại; họ huỷ bỏ dấu vết cắt bì, chối bỏ GiaoƯớc thánh để mang chung một ách với dân ngoại và bán mình để làm điều dữ.
Khi vua Antiôkhô thấy vương quyền đã vững, thì tính làm vua đất Aicập nữa để cai trị cả hai nước. Vua tiến vào Aicập với một đoàn quân đông đảo gồm: chiến xa, voi, kỵ binh và một đội tàu chiến lớn. Vua giao chiến với vua Aicập là Pơtôlêmai. Vua này quay lưng chạy trốn và nhiều người bị tử thương. Họ chiếm đoạt các thành trì kiên cố trong đất Aicập và thu chiến lợi phẩm của đất Aicập. Vua Antiôkhô trở về sau khi đã đánh bại Aicập năm một trăm bốn mươi ba, và vua tiến lên đánh Ítraen; vua tiến lên đến tận Giêrusalem với một đoàn quân đông đảo.
Ông ngạo nghễ đi vào thánh điện và chiếm đoạt bàn thờ bằng vàng, trụ đèn và mọi đồ phụ tùng, bàn để bánh tiến, các bình dùng trong lễ rưới, chén, bình hương bằng vàng, bức trướng, các triều thiên ; và ông lột hết các vật trang trí bằng vàng ở mặt tiền Đền Thờ. Ông lấy bạc, vàng, các vật quý giá, lấy cả các kho tàng đã được cất giấu mà ông tìm được. Vơ vét tất cả xong, ông trở về xứ sở, sau khi đã chém giết thật dã man và nói năng hết sức ngạo mạn.” (câu 10-23).
Đồng tiền mang chân dung Antiôkhô Epiphanê IV, kẻ được nói đến trong sách Macabê I.
Những đồng tiền mang chân dung Antiochus VII và anh trai Demetrius II được khai quật, theo Google Images.
[4] nhà thờ Vòm Đá Vàng, là một thánh đường Hồi giáo nằm tại khu vực Núi Đền Thờ thuộc thành cổ Giêrusalem.
[5] thánh đường Hồi giáo ở Phố Cổ của Giêrusalem, là địa điểm thiêng liêng thứ 3 của Hồi giáo.
2021
“Chúng ta” vươn rộng ra cả nhân loại
Trong sứ điệp của Đức Thánh Cha Phanxicô nhân ngày Thế Giới Những người Di dân và Tị nạn lần thứ 107 (27/09/2021), ngài nhắc lại lời ngài nói trong thông điệp Fratelli tutti bận tâm cũng là hi vọng đọng lại nhiều nhất nơi ngài hôm nay là “một khi khủng hoảng về sức khỏe thế giới qua đi, đáp trả xấu nhất của con người chúng ta có lẽ sẽ là lao đầu thậm chí sâu hơn vào sự tiêu thụ cuồng nhiệt và bảo tồn ích kỉ. Đàng sau mọi sự, Thiên Chúa muốn chúng ta không còn suy nghĩ theo lối nói gọi người anh em mình là “họ”, “chúng”, nhưng chỉ nói “chúng ta” (số 35). Vì thế, Đức Giáo hoàng đã chọn đề tài của sứ điệp cho Ngày Thế Giới những người Di dân và Tị nạn năm nay là: Hướng tới một cộng đồng “Chúng ta” ngày càng mở rộng hơn.
Sau đây xin giới thiệu suy tư của tiến sĩ Ann Rowlands:
_____
“CHÚNG TA” VƯƠN RỘNG RA CẢ NHÂN LOẠI
Tiến sĩ Ann Rowlands
“Thiên Chúa nói với những người đã mất đất tổ quê cha: Ta có những kế hoạch dự định cho các ngươi, kế hoạch vì hạnh phúc của các ngươi chứ không phải tai họa, cho một tương lai đầy hi vọng”. Đó là những lời một người tị nạn giải thích ông đã được nâng đỡ như thế nào trong suốt nhiều năm sống bấp bênh và bất định của số phận kẻ tị nạn. Những lời này đã giúp ông tiếp tục hi vọng trước những khó khăn tưởng không thể nào chịu nổi. Ông thấy đó là những lời ban phúc lành, lời hứa bảo đảm và tình yêu khích lệ, trong khi mọi sự trong mạng lưới cứu trợ mà ông cậy dựa nói lên điều ngược lại: người ta lãnh đạm, kết án, thù nghịch và chối bỏ. Khước từ tương lai với một ai đó là dập tắt niềm hi vọng của họ. Người bạn ấy giải thích rằng ông đọc Sách Thánh như một câu chuyện về lời hứa của Thiên Chúa, bắt đầu từ Tạo dựng và qua các thế hệ. Ông ấy nói với tôi rằng “Tất cả là hồng ân, vấn đề chính là lời hứa. Những gì chúng ta đáp lại lời hứa ấy phải tạo nên một gia nghiệp của tình yêu, dù chúng ta ở đâu và như thế nào đi nữa. Ngay cả trong hoàn cảnh cực kì khó khăn. Chúng ta được trao ban cho nhau là để chăm sóc lẫn nhau. Ông nhận thức được điều này khi bị giam giữ trong một trại nhập cư, lúc ông cảm thấy cô độc nhất. Ông nói khi đó ông mới biết thực sự tự do là gì. Đó là khả năng chúng ta tin vào một thế giới được tạo dựng có mục đích, mà cùng đích là chúng ta biết cho đi và nhận lãnh yêu thương trong một cộng đồng tha nhân. Đó là những lời diễn giải Kinh Thánh mạnh mẽ dù là của ai, nhưng đối với người này thì những lời đó không dễ dàng đạt được nhưng phải được chứng thực bằng trải nghiệm rất nhiều. Những lời này đã tiếp sức mạnh để ông sẵn sàng không chấp nhất những sự nhỏ nhen ti tiện, những nỗi nhục nhã, bị hất hủi của câu chuyện cuộc sống ông gặp phải, mà nhìn thấu tận chân trời sự thật cao cả hơn về con người và về Thiên Chúa. Trong cái thế giới không một nơi cư trú này, ông đã làm câu chuyện này thành chốn nương thân của mình.
Trong thông điệp cho Ngày Thế giới của Những Di dân và người Tị nạn, Đức Thánh Cha Phanxicô đưa chúng ta trở lại với thuở ban đầu của câu chuyện nhân loại, trở về nguồn cội của hành trình chung của nhân loại chúng ta. Thuở ban đầu, sự sống được trao ban như một ơn huệ và phúc lành, sự sống chúng ta được tạo nên và được ban cho, là sự sống cộng đồng – một cộng đồng có một giá trị nội tại và một mục đích tối hậu. Cái ‘chúng ta’ hay cộng đồng mà Thiên Chúa định liệu cho ta được hạnh phúc được tạo nên nhờ tình bạn thâm sâu, nhờ sự đồng hành tương trợ và tình đồng đội. Đó là mối quan hệ của tình bằng hữu, tình huynh đệ và quan tâm lo lắng cho nhau, phụ thuộc lẫn nhau chứ không phải là nô lệ hay loại trừ. Thông điệp Fratelli tutti dạy rằng: luật của tình bạn này là luật đệ nhất, luật này vượt trên mọi luật khác. Đây là di sản của tình yêu mà người bạn tị nạn của tôi đã nói đến.
Đối với các Kitô hữu, biểu hiện cuối cùng của tình đồng đội (companionship) này được cử hành trong Thánh Thể – trong đó chúng ta là những kẻ-đồng-bàn, những người cùng bẻ hay cùng chia nhau một tấm bánh (com-panis), những người biểu lộ sự hiệp nhất nguyên ủy từ đó chúng ta xuất phát ra, và cùng đích nơi chúng ta phải đi về. Ở đây, tại bàn tiệc giữa những người bình đẳng này, câu chuyện nguyên thủy của cộng đồng ‘chúng ta’ thời tạo thiên lập địa được tưởng niệm, lại được đặt ở bên nhau, vượt trên các đổ vỡ và chia rẽ trong đời sống. Đây chính là câu chuyện và sự kiện các Kitô hữu được mời gọi làm nên nơi cư trú của mình.
Như thông điệp Fratelli tutti dạy, lời kêu gọi sống tình bằng hữu xã hội này – cộng đồng ‘chúng ta’ qua từng hành động nhỏ bé ngày càng vươn rộng ra lớn hơn mãi – là một truyền thống và di sản chung giữa các tôn giáo. Nhìn nhân loại như ‘tứ hải giai huynh đệ’, tất cả đều mang thân phận thụ tạo và cùng thuộc về một gia đình nhân loại chung, vượt trên những cũng ở trong các biên giới và quốc gia, là một câu chuyện có thể lôi kéo chúng ta trở lại với nhau. Chúng ta đang sống trong một thời đại hết sức cần một câu chuyện sống hướng đến mục đích và giá trị nhân văn, không chỉ biết có hưởng thụ, lựa chọn, hay những thứ vô-giá-trị. Cần phải thay thế nền văn hóa trong đó không ai thuộc về cái gì cả bằng một câu chuyện uy thế mọi người là anh chị em một nhà. Một câu chuyện khách quan ‘vì hạnh phúc, chứ không phải tai họa của chúng ta’.
Điều này đòi hỏi Hội Thánh không những sẵn sàng hành động để xây dựng những mạng lưới tương thân tương trợ, mà còn biết mở ra học hiểu sâu xa kinh nghiệm của những người di dân. Chúng ta phải học biết làm sao để mỗi ngày cái cộng đồng ‘chúng ta’ cùng nhau lớn lên thêm mãi.
Trong thông điệp này Đức Thánh Cha nhắc nhở chúng ta rằng việc khó nhất không phải là biết làm thế nào để sống như một con người cá biệt, nhưng là hiểu biết được giá trị độc đáo của mỗi nhân vị được tiền định để sống như thành phần của một dân. Những hình ảnh ẩn dụ về tính cách thành viên (của một cộng đồng) trong Kinh Thánh và truyền thống Hội Thánh dạy ta rất nhiều: chúng ta được mời gọi trở nên một dân, một thành đô, một cộng đồng, một gia đình, một thân thể. Đó là những từ ngữ ẩn dụ chúng ta dùng để nói về việc những cái ‘tôi’ trở nên một ‘chúng ta’ chứ không chỉ là những cái ‘tôi’ cá biệt. Trong thế giới – và trong mỗi thế hệ – ngày nay chúng ta đối diện với một cuộc khủng hoảng về tư cách sâu xa tôi là thành viên của Cái gì, tôi thuộc về Ai, các thân thể, thành đô, gia đình, cộng đồng bị đổ vỡ.
Thông điệp của Đức Thánh Cha Phanxicô chính là: ơn cứu thoát này luôn là một câu chuyện về tư cách thành viên (membership) và sự thuộc về (belonging), đó là câu chuyện về một ‘chúng ta’. Tôi được cứu thoát chỉ khi tôi là thành viên, thuộc về một Ai đó lớn lao hơn vô cùng. Nếu Đức Kitô đến để cải tạo thế giới vốn đã được Chúa Cha tạo dựng trong tình yêu, thì chúng ta phải đáp lại bằng cách đảm nhận lấy công trình hòa giải và chữa lành mà Người đã đặt trước mặt chúng ta. Làm như thế là chúng ta học biết an cư thư thái trong câu chuyện cứu độ của chúng ta, và chúng ta trao hiến ngôi nhà thân thương này làm nơi cư trú cho một thế giới đã bị đổ vỡ.
Bản dịch Việt ngữ của Antôn Uông Đại Bằng – Louis Nguyễn Anh Tuấn
2021
Lý do Mẹ Têrêxa mỗi ngày dành một giờ chầu trước Chúa Giêsu Thánh Thể
Sự phục vụ đầy anh hùng của Mẹ Têrêxa dành cho người nghèo được thực hiện qua lòng tôn thờ Chúa Giêsu Thánh Thể.
Một trong những “bí quyết” giúp cho Mẹ Têrêxa Calcutta thành công với tư cách là một nhà Thừa sai Bác ái, đó là cam kết mỗi ngày dành một giờ chầu trước Chúa Giêsu Thánh Thể. Mẹ Têrêxa luôn vững vàng vì tin rằng: cầu nguyện trước Chúa Giêsu là điều cần thiết cho công việc của mình giữa những người dễ bị tổn thương nhất trong xã hội.
Mẹ Têrêxa đã có một bài phát biểu mạnh mẽ trước nhiều người triệu tập trong dịp Đại hội Thánh Thể ở Philadelphia vào năm 1976 và đã nhắc lại sự thật đơn sơ này.
“Để có thể sống trọn các lời khấn này, bốn lời khấn, chúng tôi cần phải để cuộc đời mình được đan dệt bằng Bí tích Thánh Thể. Đó là lý do tại sao chúng tôi bắt đầu một ngày của chúng tôi với Chúa Giêsu trong Bí tích Thánh Thể. Với Người, chúng tôi tiến tới. Và khi trở về vào buổi chiều, chúng tôi có một giờ thờ phượng Chúa Giêsu trong Bí tích cực thánh, và lúc này, bạn sẽ lấy làm ngạc nhiên, rằng chúng tôi không cắt giảm công việc của mình đối với người nghèo”.
Thật vậy, mẹ Têrêxa đã xác tín rằng mẹ có thể yêu thương người nghèo nhiều hơn nhờ giờ chầu Thánh Thể của mẹ.
“Điều đó đã đưa chúng tôi đến gần nhau. Chúng tôi yêu thương nhau nhiều hơn, nhưng tôi nghĩ chúng tôi yêu thương người nghèo bằng một niềm tin sâu xa và một tình yêu vĩ đại”.
Dòng Thừa sai Bác ái mà Mẹ Têrêxa thành lập vẫn tiếp tục truyền thống này, và luôn luôn dành thời gian để cầu nguyện trước Chúa Giêsu trong Bí tích Thánh Thể. Điều đó luôn là nền tảng của họ cho đến hôm nay, và là điểm tựa đối với công việc của họ giữa người nghèo.
Mẹ Têrêxa tin rằng: nếu bạn muốn yêu thương người nghèo một cách mãnh liệt hơn, bạn cần dành nhiều thời gian hơn cho việc chầu Thánh Thể.
2021
Lịch trình chuyến Tông du của ĐTC Phanxicô đến Budapest và Slovakia
Trưa thứ Tư 21/07, Phòng báo chí Toà Thánh công bố lịch trình chính thức chuyến tông du của Đức Thánh Cha đến Budapest nhân dịp Thánh lễ kết thúc Đại hội Thánh Thể Quốc tế lần thứ 52, và đến Slovakia, từ 12-15/09/2021.
LỊCH TRÌNH CHUYẾN TÔNG DU CỦA ĐỨC THÁNH CHA PHANXICÔ ĐẾN BUDAPEST VÀ SLOVAKIA
| Chúa Nhật ngày 12 tháng 09 năm 2021 ROMA – BUDAPEST – BRATISLAVA |
||
| 06:00 | Khởi hành từ sân bay quốc tế Roma/Fiumicino để bay đến Budapest | |
| 07:45 | Đáp xuống sân bay quốc tế Budapest | |
| 07:45 | CHÀO ĐÓN CHÍNH THỨC
tại sân bay quốc tế Budapest |
|
| 08:45 | GẶP TỔNG THỐNG VÀ THỦ TƯỚNG
tại Bảo tàng Nghệ thuật Budapest |
|
| 09:15 | GẶP CÁC GIÁM MỤC
tại Bảo tàng Nghệ thuật Budapest |
Diễn văn của ĐTC |
| 10:00 | GẶP ĐẠI DIỆN HỘI ĐỒNG ĐẠI KẾT CÁC GIÁO HỘI VÀ MỘT SỐ CỘNG ĐOÀN DO THÁI CỦA HUNGARY tại Bảo tàng Nghệ thuật ở Budapest | Diễn văn của ĐTC |
| 11:30 | THÁNH LỄ tại Quảng trường Anh hùng
ở Budapest |
Bài giảng của ĐTC Kinh Truyền Tin |
| 14:30 | NGHI THỨC CHÀO BIỆT
tại sân bay quốc tế Budapest |
|
| 14:40 | Khởi hành bằng máy bay đến Bratislava | |
| 15:30 | Đến sân bay quốc tế Bratislava | |
| 15:30 | CHÀO ĐÓN CHÍNH THỨC
tại sân bay quốc tế Bratislava |
|
| 16:30 | GẶP GỠ ĐẠI KẾT
tại Tòa Sứ thần ở Bratislava |
Diễn văn của ĐTC |
| 17:30 | GẶP RIÊNG CÁC TU SĨ DÒNG TÊN
tại Toà Sứ thần ở Bratislava |
|
| ***** | ||
| Thứ Hai ngày 13 tháng 09 năm 2021 BRATISLAVA |
||
| 09:15 | NGHI THỨC TIẾP ĐÓN
tại Dinh Tổng thống ở Bratislava |
|
| 09:30 | THĂM HỮU NGHỊ TỔNG THỐNG
tại “Sảnh Vàng” của Dinh Tổng thống ở Bratislava |
|
| 10:00 | GẶP GỠ CHÍNH QUYỀN, XÃ HỘI DÂN SỰ VÀ NGOẠI GIAO ĐOÀN
tại vườn của Dinh Tổng thống ở Bratislava |
Diễn văn của ĐTC |
| 10:45 | GẶP GỠ CÁC GIÁM MỤC, LINH MỤC, TU SĨ, CHỦNG SINH VÀ GIÁO LÝ VIÊN
tại Nhà thờ Chính toà Thánh Martino ở Bratislava |
Diễn văn của ĐTC |
| 16:00 | THĂM RIÊNG “TRUNG TÂM BÊ-LEM”
ở Bratislava |
|
| 16:45 | GẶP GỠ CỘNG ĐOÀN DO THÁI
tại Quảng trường Rybné námestie ở Bratislava |
Diễn văn của ĐTC |
| 18:00 | GẶP CHỦ TỊCH QUỐC HỘI
tại Tòa Sứ thần ở Bratislava |
|
| 18:15 | GẶP THỦ TƯỚNG
tại Tòa Sứ thần ở Bratislava |
|
| ***** | ||
| Thứ Ba ngày 14 tháng 09 năm 2021 BRATISLAVA – KOŠICE – PREŠOV – KOŠICE – BRATISLAVA |
||
| 08:10 | Khởi hành bằng máy bay đến Košice | |
| 09:00 | Đến sân bay Košice | |
| 10:30 | CỬ HÀNH PHỤNG VỤ THÁNH THỂ BIZANTINE CỦA THÁNH GIOAN KIM KHẨU tại Quảng trường thể thao Mestská ở Prešov | Bài giảng của ĐTC |
| 16:00 | GẶP GỠ CỘNG ĐOÀN ROM
tại Khu vực Luník IX ở Košice |
Lời chào của ĐTC |
| 17:00 | GẶP GỠ GIỚI TRẺ
tại Sân vận động Lokomotiva ở Košice |
Diễn văn của ĐTC |
| 18:30 | Khởi hành bằng máy bay về Bratislava | |
| 19:30 | Đến sân bay quốc tế Bratislava | |
| ***** | ||
| Thứ Tư ngày 15 tháng 09 năm 2021 BRATISLAVA – ŠAŠTIN – BRATISLAVA – ROMA |
||
| 10:00 | THÁNH LỄ tại Đền thánh Quốc gia Šaštin | Bài giảng của ĐTC |
| 13:30 | NGHI THỨC CHÀO BIỆT
tại sân bay quốc tế Bratislava |
|
| 13:45 | Khởi hành bằng máy bay về Roma | |
| 15:30 | Đến sân bay quốc tế Roma/Ciampino | |
Nguồn: vaticannews.va/vi/
