2021
Vua Yêu Thương và Vua Hòa Bình
Vua Yêu Thương và Vua Hòa Bình
Lễ Chúa Giêsu Kitô Vua Vũ Trụ (Ga 18, 33b-37)
Năm Phụng Vụ kết thúc với lễ Chúa Giêsu Kitô Vua Vũ Trụ, vì chung cuộc của tạo dựng và cứu độ, là muôn loài nhận biết và tôn thờ Chúa Giêsu Kitô là Thiên Chúa, nên Giáo hội long trọng cử hành lễ này với niềm vui khôn tả, đồng thời quả quyết rằng Người là Chúa chúng ta, là Vua Tình Yêu, Vua sự thật, là Alpha và Omêga, là khởi nguyên và là cùng đích (x. Kh 1,8).
Đã từ lâu, trong ngôn ngữ thông thường, người ta đã gán cho Chúa Giêsu Kitô tước hiệu Vua ; Người đúng là Vua trên hết các vua, là Chúa trên hết các Chúa, trổi vượt trên hết mọi loài, thống trị lòng người, Người hiển trị đến muôn đời “quyền năng của Ngài là quyền năng vĩnh cửu, không khi nào bị cất mất; vương quốc của Ngài không khi nào bị phá huỷ” (Đn 7,14). Bởi vương quyền của Người từ Chúa Cha tự muôn đời, chứ không phải do người thế trao cho. Người cũng khẳng định Người là Vua, nhưng là Vua Thiên Sai, đến nhằm mục đích làm chứng cho sự thật. Thần dân của Người là những ai thuộc về sự thật và sẵn sàng vâng nghe Lời Người.
Chúa Giêsu là vua lòng người, với tình yêu và lòng trùi mến, Người lôi kéo mọi con tim đến với mình. Người là “Con Chiên đã bị giết nay xứng đáng lãnh nhận thần tính và uy quyền, khôn ngoan cùng sức mạnh, danh dự với vinh quang…” (Ca nhập lễ).
Lễ Chúa Kitô Vua tương đối mới, nhưng có nền tảng Thánh Kinh và thần học sâu xa. Từ ” vua “, được áp dụng cho Chúa Giêsu khởi đi từ “Vua người Do thái”, dẫn đến tước hiệu “Vua của thế giới”, “Chúa của vũ trụ và lịch sử”, vượt qua mọi kỳ vọng của dân Do thái.
Trọng tâm tiến trình mạc khải về vương quốc của Vua Giêsu, còn tiềm ẩn bí mật về cái chết và sự phục sinh của Người. Chúa Giêsu là Con Thiên Chúa đã tự ý nộp mình chịu khổ hình và chịu chết trên cây Thánh Giá, một nghịch lý của Vua Giêsu thể hiện thánh ý Chúa Cha trên sự bất tuân của tội lỗi. Chính sự hiến mình làm của lễ đền tội này mà Chúa Giêsu đã trở thành Vua vũ trụ.
Quyền bính của Chúa Kitô Vua ở đây là gì ? Hẳn không phải là quyền bính của các vua trần thế và những kẻ có thế lực ; nhưng là quyền năng thiêng liêng có thể ban sự sống thần linh để giải thoát chúng ta khỏi sự dữ, đánh bại sự thống trị của thần chết. Ðây là quyền năng yêu thương, một quyền năng có thể rút từ sự ác ra sự lành, làm cho tâm hồn chai đá ra mềm mỏng, mang lại hòa bình cho những cuộc xung đột, biến tăm tối thành hy vọng. Vương quốc của Chúa Kitô không hề áp đặt bất cứ điều gì và luôn tôn trọng tự do của con người. Khi Philatô hỏi Chúa Giêsu rằng : “Ông có phải là Vua dân Do-thái không?” (Ga 18, 33) Bị hỏi, nhưng với tư cách là Vua, Chúa Giêsu không trả lời câu hỏi của Philatô, mà Chúa hỏi lại ông : “Quan tự ý nói thế, hay là có người khác nói với quan về tôi?” (Ga 18, 35)
Khi thi hành sứ mạng công khai, đã có lần đám đông dân chúng muốn tôn Chúa lên làm vua, nhưng Người lại chốn khỏi Vương quốc thế trần, đúng như Chúa nói với Philatô : “Nước tôi không thuộc về thế gian này”(Ga 18, 36). Chúa là Vua không có quân đội, không khí giáp.
Cung điện Người ở đâu ? Thưa, Người ngự trị trong lòng chúng ta. “Vua không có cung điện” nhưng toàn trái đất thuộc về Người. Nhờ Người mà thế giới này được tác tạo. Trước Philatô, kẻ có quyền ra án tử cho Chúa, Chúa khẳng định, “Tôi đến trần gian để làm chứng cho Chân Lý” (Ga 18, 37).
Vậy chúng ta theo ai : Thiên Chúa hay ma quỷ? Sự thật hay giả dối? Tùy lựa chọn mỗi người. Chọn theo Chúa Kitô không bảo đảm cho chúng ta sự thành công theo những tiêu chuẩn thế gian, nhưng bình an và niềm vui thì chỉ mình Chúa mới có thể mang lại cho chúng ta. Với Chúa, chúng ta có thể xây dựng yêu thương và bình an.
Chúa là “Vua, của một vương quốc gồm những người tội lỗi!” Chúng ta phải thường xuyên lặp lại : Xin thương đến con là kẻ tội lỗi, để chúng ta nhìn anh em mình với lòng từ bi. Họ cũng là những tội nhân nghèo như chúng ta. Chúa là Vua của những người nghèo! Chúng ta biết tình yêu đầy ân sủng của Thiên Chúa là sự giàu có của chúng ta, chúng ta sẽ không bao giờ thiếu nó. Chúa là “Vua của một vương quốc huynh đệ!” Hãy là những người anh em yêu thương nhau! Trong mắt Chúa Giêsu, Bình an và Tình yêu lan tỏa. Vì vậy, Tin Mừng trình bày Chúa Giêsu, Vua vũ trụ bị kết án, Philatô là kẻ xét xử Người.
Khi nói : “Nước tôi không thuộc về thế gian này. Philatô hỏi lại: “Vậy ông là Vua ư?” Chúa Giêsu đáp : “Quan nói đúng. Tôi là Vua. Tôi sinh ra và đến trong thế gian này là chỉ để làm chứng về Chân lý. Ai thuộc về Chân lý thì nghe tiếng Tôi”(Ga 18, 36-37).
Chúng ta đang ở trong thế gian, nhưng không thuộc về thế gian. Chúng ta có bổn phận làm cho tình yêu, sự dịu dàng, hiền lành và vẻ đẹp trở lại vương quốc này. Chúa Giêsu là Đấng Cứu Thế, Người đã không đến để xét xử nhân loại, nhưng là để cứu. Người là Đấng công chính duy nhất, thế chỗ cho tội nhân.
Để phục vụ Đức Giêsu Vua, chúng ta phải chấp nhận làm việc mỗi ngày cho Triều Đại cánh chung đang đến… điều ấy không xảy ra mà không có chiến đấu : Vâng, Vua chúng ta yêu cầu chúng ta cầm sẵn vũ khí trong tay để chiến đấu, chống lại “các thế lực của bóng tối” (Cl 1, 13). Cùng với Người, chúng ta nắm chắc phền thắng (x. Ga 16, 33), nhưng với điều kiện là chúng ta cũng tham gia chiến đấu, chiến đấu hàng ngày với ba thù là ma quỉ, thế gian và xác thịt… vì “những ngày là xấu xa! “(Ep 5, 16) và rằng “cả thế giới nằm dưới sự thống trị của ma quỷ”(1 Ga 5, 19).
Làm cho Chúa hiển trị, tiên vàn vẫn là làm cho Chúa hiển trị trong lòng chúng ta… khi tuyên xưng đức tin trong cuộc sống hàng ngày cách cá nhân hay cộng đoàn, chúng ta không xấu hổ! (LG §31). Lời Đức thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô II nói cùng dân chúng ngày 15 tháng 6 năm 1993 vẫn còn vang vọng : “Hãy đi đến các ngả đường, sống đức tin của chúng con với niềm vui vẻ, hãy mang đến cho mọi người Ơn cứu độ của Đức Kitô, ơn ấy phải thâm nhập vào trong gia đình, trường học, trong các nền văn hóa và đời sống chính trị!” Đừng sợ phải đi ngược dòng! Làm cho Đức Kitô hiển trị, là trở nên tông đồ lôi kéo nhiều linh hồn về với Chúa là Vua Vương Quốc Yêu Thương và An Bình.
Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ
2021
Chân phước Lazarus Devasahayam sẽ được phong thánh, “thời khắc lịch sử” của Giáo hội Ấn Độ
Chân phước Lazarus Devasahayam sẽ được phong thánh, “thời khắc lịch sử” của Giáo hội Ấn Độ
Vào ngày 15/5/2022, tại Vatican, chân phước Lazarus Devasahayam của Ấn Độ và 6 chân phước khác sẽ được phong thánh. Đối với các tín hữu Công giáo Ấn Độ, việc một người từng là tín đồ Ấn giáo từ thế kỷ XVIII trở lại Công giáo sắp được phong thánh là một “thời khắc lịch sử” của toàn thể Giáo hội Công giáo ở Ấn Độ.
Chân phước Lazarus Devasahayam
Đức Tổng Giám mục Felix Machado của Tổng Giáo phận Vasai, Tổng Thư ký của Hội đồng Giám mục Ấn Độ nói: “Đối với nhiều người trong chúng tôi, những người đã lãnh nhận đức tin từ các vị tiền bối, chứng tá của chân phước Devasahayam nhắc nhở chúng tôi rằng, Tin Mừng là một kho tàng cần được khám phá và dành trọn cả đời. Chân phước Lazarus, thường được gọi là Devasahayam, đã trở thành người nghèo vì thiện ích và tình thương dành cho người nghèo. Việc chân phước Lazarus được phong thánh sẽ là một sự khích lệ cho chúng tôi cố gắng bắt chước đời sống của chân phước”.
Chân phước Lazarus sẽ là giáo dân và thánh tử đạo đầu tiên người Ấn của Giáo hội Ấn Độ. Ngài sẽ được chính thức tuyên là thánh tử đạo của Giáo hội Công giáo hoàn vũ. Chân phước Lazarus đã được phúc tử đạo vì đức tin cách đây gần 270 năm tại tiểu bang Tamil Nadu.
Vào ngày 03/5/2021, tại Dinh Tông Tòa, Đức Thánh cha đã nhóm công nghị và quyết định tôn phong bảy chân phước lên bậc hiển thánh, trong đó có chân phước Lazarus. Tuy nhiên, ngài không ấn định ngày cho lễ tuyên thánh vì tình trạng khẩn cấp về sức khỏe do đại dịch Covid-19 gây ra. Hôm 09/11 vừa qua, Phòng báo chí Tòa Thánh cho biết Đức Thánh Cha đã ấn định ngày tôn phong hiển thánh cho bảy chân phước, là ngày 15/5/2022, và chính ngài sẽ chủ sự Thánh lễ phong thánh này.
Tiểu sử
Lazarus Devasahayam sinh ngày 23/4/1712 với tên gọi Neelakanda Pillai, tại làng Nattalam. Ông từng phục vụ trong hoàng gia của Vương quốc Hindu ở Travancore, ngày nay thuộc bang Kerala miền nam Ấn Độ. Vương quốc này trải dài từ khu vực Kanyakumari của bang Tamil Nadu, đến tận Cochin ở bang Kerala láng giềng.
Năm 1741, thuyền trưởng Eustachius De Lannoy, một vị chỉ huy hải quân Hà Lan của công ty Đông Ấn Hà Lan, được lệnh đến đánh chiếm cảng Colachel của Travancore. Ông đã không thành công trong nhiệm vụ này, bị bắt làm tù binh. Nhưng sau đó, thuyền trưởng người Hà Lan đã được ân xá và trở thành vị chỉ huy đáng tin cậy của Vương quốc Hindu. Ông đã giành chiến thắng trong một số trận chiến tại Travancore.
Chính trong những vai trò có ảnh hưởng của họ dưới thời vua Travancore, Devasahayam Pillai và De Lannoy đã trở thành bạn thân.
Trở lại và lãnh nhận Bí tích Thánh Tẩy
Devasahayam bắt đầu quan tâm đến đức tin của De Lannoy. Từng bước, thuyền trưởng đã khai mở đức tin cho Devasahayam và vào năm 1745, khi đó 32 tuổi, ông chính thức trở lại Công giáo, lãnh nhận Bí tích Thánh Tẩy.
Devasahayam được cha Bouttari Italus, Dòng Tên, rửa tội tại nhà thờ Công giáo của làng Vadakkankulam, thuộc quận Tirunelveli của Tamil Nadu. Ông lấy tên thánh rửa tội là Lazarus, và trong tiếng địa phương, Devasahayam có nghĩa là “Thiên Chúa là Đấng phù trợ tôi”. Vợ ông, bà Bargavi Ammal ở Travancore, cũng theo chồng và được rửa tội lấy tên là Gnanapoo, nghĩa là Têrêsa.
Bị giết vì thù ghét đức tin
Cuộc trở lại Công giáo của Lazarus Devasahayam gây bất mãn nơi các thủ lãnh tôn giáo địa phương. Họ vu khống ông phản bội và gây nguy hiểm cho vương quốc Hindu.
Việc ông từ chối thờ các vị thần Ấn giáo trong cung điện và từ chối tham dự các lễ hội tôn giáo truyền thống của Ấn giáo đã khiến các quan chức vô cùng tức giận. Họ không thể dung thứ cho ông về những lời rao giảng cho sự bình đẳng đối với mọi người. Thực vậy, trong các lần giảng dạy, ông đặc biệt nhấn mạnh đến sự bình đẳng của tất cả mọi người, bất chấp sự khác biệt về đẳng cấp.
Những kẻ thù ghét vu khống ông về tội phản quốc và tố cáo ông làm gián điệp, đồng thời cách chức và sa thải ông. Devasahayam đã bị bắt giam và bị tra tấn dã man. Ngày 14/01/1752, sau 7 năm trở lại Công giáo, ông đã bị bắn chết trong rừng Aralvaimozhy.
Các địa điểm liên quan đến cuộc đời và cuộc tử đạo của Devasahayam ở giáo phận Kottar, thuộc quận Kanyakumari của bang Tamil Nadu, cũng như phần mộ của ông tại nhà thờ thánh Phanxicô Xavier ở Nagercoil đã thu hút rất nhiều người đến kính viếng và cầu nguyện.
Công nhận tử đạo
Trong Giáo hội Công giáo, việc phong thánh cho một tín hữu là một tiến trình rất nghiêm ngặt kéo dài nhiều năm và thậm chí nhiều thập kỷ. Tiến trình này bắt đầu ở cấp giáo phận nơi ứng viên thuộc về. Trong trường hợp của ông Devasahayam, từ năm 1756 đã bắt đầu có những nỗ lực và lời kêu gọi lẻ tẻ về việc phong thánh và tử đạo cho ông.
Vào ngày 22/12/2003, Giáo phận Kottar đã nhận được sự đồng ý của Toà Thánh cho tiến trình án phong thánh tử đạo của Devasahayam ở cấp địa phương. Từ năm 2006 đến 2008, bắt đầu giai đoạn điều tra ở cấp Giáo phận, và Devasahayam đã được tuyên Tôi Tớ Chúa.
Sau đó, tiến trình này được chuyển đến Vatican dưới sự xem xét của Bộ Phong thánh. Vào ngày 15/11/2011, sau khi đánh giá các tài liệu được đệ trình, các nhà tư vấn lịch sử kết luận rằng các bằng chứng thu thập được là đủ và đáng tin cậy để chứng minh cuộc tử đạo của Devasahayam là xác thực.
Ngày 07/02/2012, một cuộc họp đặc biệt của các nhà tư vấn thần học đã diễn ra, lưu ý đến độ tin cậy lịch sử của các tài liệu thu thập được. Các nhà thần học kết luận rằng nguyên nhân cái chết của Devasahayam là do lòng thù ghét đức tin và chính Devasahayam cũng đã chấp nhận điều này. Sau đó, ngày 08/5/2012, trong một phiên họp thường niên, các hồng y và giám mục đã thông qua việc xác định này.
Đối với một ứng viên không phải tử đạo, trước khi phong chân phước phải có một phép lạ được chứng minh là nhờ lời chuyển cầu của tín hữu này. Tuy nhiên điều này không cần thiết đối với một án phong chân phước cho một tín hữu đã chịu tử đạo, như trường hợp của ông Devasahayam.
Phong chân phước
Vào ngày 28/6/2012, Đức nguyên Giáo hoàng Biển Đức XVI đã ủy quyền cho Bộ Phong thánh ban hành sắc lệnh nhìn nhận sự tử đạo của Devasahayam. Ngày 02/12/2012, Đức Hồng y Angelo Amato, nguyên Tổng Trưởng Bộ Phong Thánh đại diện Đức Giáo Hoàng, chủ sự Thánh lễ phong Chân phước cho ông Devasahayam, tại khuôn viên trường Carmel ở Nagercoil, Giáo phận Kottar.
Trong buổi đọc Kinh Truyền Tin tại quảng trường thánh Phêrô cùng hôm đó Đức nguyên Giáo hoàng Biển Đức XVI đã nói: “Chúng ta cùng hòa niềm vui chung với Giáo hội Ấn Độ và cầu nguyện với tân Chân phước, xin ngài nâng đỡ đức tin của các Kitô hữu của đất nước rộng lớn và cao quý đó”.
Tiến trình phong thánh
Phép lạ qua sự chuyển cầu của chân phước là điều cần thiết để hoàn thành tiến trình phong thánh.
Trong trường hợp của chân phước Devasahayam, một cuộc điều tra đã được thực hiện tại Giáo phận Kottar về một phép lạ. Bộ Phong thánh cho biết đây là trường hợp hồi sinh của một thai nhi mới được 20 tuần của một phụ nữ người Ấn Độ. Hội đồng y khoa đã thẩm tra trường hợp này, vào ngày 28/02/2019 họ đã nhất trí tuyên bố rằng việc chữa bệnh không thể giải thích bằng kiến thức y học hiện tại.
Vào ngày 05/12/2019, một cuộc họp đặc biệt của các nhà tư vấn thần học của Bộ Phong thánh đã thông qua phép lạ. Các hồng y và giám mục đã họp vào ngày 18/02/2020, cũng đã chấp thuận. Ba ngày sau, ngày 21/02, Đức Thánh Cha đã ủy quyền cho Bộ Phong thánh công bố sắc lệnh chính thức nhìn nhận phép lạ, giúp cho tiến trình phong hiển thánh cho Chân phước Devasahayam được hoàn tất.
Niềm vui của Giáo hội Ấn độ
Việc chân phước Devasahayam, một giáo dân Ấn Độ đầu tiên được phong thánh là một sự khích lệ lớn cho Giáo hội tại đây. Điều này càng là một niềm tự hào, vì Devasahayam chịu tử đạo khi đấu tranh cho sự bình đẳng của các giai cấp trong Ấn Độ, một hiện tượng cho đến nay vẫn còn tồn tại.
Xã hội Ấn chia thành 4 giai cấp: giai cấp cao nhất là “Brahmani” gồm các tư tế, các người trí thức, các nhà chú giải các văn bản thánh, dạy dỗ và truyền thụ; giai cấp thứ hai là “Kshatriya” gồm các nhà lãnh đạo quân sự, các chiến sĩ, tức giới thượng lưu quân sự; giai cấp thứ ba là “Vaishya” gồm các thương gia, các nông dân và các người chăn nuôi súc vật; giai cấp thứ tư là “Shudra” gồm các người làm thủ công nghệ, đầy tớ và công nhân thợ thuyền. Ngoài ra, thấp nhất trong bậc thang xã hội là những người “ngoài giai cấp”, thường được gọi là những người “paria” hay ”không thể đụng tới”, vì các công việc ô uế và hèn hạ họ làm như thu dọn vệ sinh và chôn người chết. Ngày nay những người “paria” này được gọi là “Dalit”, những người “bị áp bức”.
Hiến pháp của Ấn Độ độc lập năm 1950 đã chính thức loại bỏ việc phân chia giai cấp. Khoản 15 của Hiến pháp cấm mọi kỳ thị dựa trên tôn giáo, chủng tộc, giai tầng xã hội, phái tính và nơi sinh trưởng. Và khoản 16 thiết định các cơ hội đồng đều cho tất cả mọi công dân liên quan tới công ăn việc làm. Nhưng giữa hai cực đó là sự mập mờ và khuynh hướng xu thời.
Tuy trên lý thuyết việc phân chia giai cấp đã chính thức được hủy bỏ, nhưng trên thực tế, trong tiềm thức và cung cách hành xử của người dân Ấn Độ, việc phân chia và kỳ thị giai cấp vẫn tiếp tục hiện diện và đè nặng trên cuộc sống của các giai cấp thấp kém hơn, đặc biệt là giai cấp cùng đinh.
Trong nhiều thập niên qua, Kitô giáo đã tranh đấu cho quyền được hỗ trợ của các anh chị em cùng đinh Dalit Kitô, nhưng chính quyền Ấn Độ nhất quyết không chấp thuận, viện cớ là họ đã được các Giáo hội Kitô nâng đỡ rồi. Việc theo Kitô giáo giúp người Dalit ra khỏi các ràng buộc truyền thống, nhưng lại khiến cho họ trở thành nạn nhân của bạo lực.
Các nhà truyền giáo đã hỗ trợ vật chất và tinh thần cho các anh chị em Dalit, để họ có được nền giáo dục cao hơn. Các thế hệ sau này theo Kitô giáo vì nhiều lý do khác nhau, đặc biệt vì căn tính Kitô mới mẻ giúp họ sống kinh nghiệm của phẩm giá và sự tự do của bản vị con người.
Tuy vậy, quyền lợi của người Dalit vẫn chưa thực sự được nhìn nhận. Vì vậy Giáo hội Công giáo vẫn không ngừng đấu tranh cho quyền lợi của những người bị thiệt thòi này. Từ năm 2007, hàng năm vào Chúa nhật thứ hai của tháng 11, người Công giáo và Tin lành ở Ấn Độ cử hành “Ngày giải phóng người Dalit”, “những người không có vị trí trong xã hội”. Sáng kiến được Hội đồng Giám mục Ấn Độ đứng ra tổ chức, với sự cộng tác của Hội đồng các Giáo hội Kitô Quốc gia.
Với thực trạng xã hội Ấn, chân phước Devasahayam được phong thánh trong năm tới sẽ là nguồn động viên lớn cho những ai đang dấn thân đấu tranh cho quyền lợi của những người nghèo, những người bị loại ra bên lề ở Ấn Độ.
Ngọc Yến
2021
Tin sự sống đời sau
20 16 X Thứ Bảy Tuần XXXIII Thường Niên.
(Tr) Lễ Đức Mẹ ngày thứ Bảy.
Thánh Phan-xi-cô Xa-vi-ê Nguyễn Cần, Thầy giảng (U1837), Tử đạo.
1Mcb 6,1-13; Lc 20,27-40.
Tin sự sống đời sau
Nếu trong thời Cựu Ước, trước thảm hoạ bị rắn độc cắn chết, nhờ nhìn lên con rắn đồng mà dân Do Thái được cứu sống, tất nhiên được cứu sống đời này thôi, thì trong thời Tân Ước, nhờ tin vào Đức Giêsu Kitô mà con người được sống và được sống đời đời. Bởi vì Đức Kitô có vị trí trỗi vượt: Ngài đến từ trời cao, đến từ cung lòng Chúa Cha (x. Ga 3, 31-32).
Hơn nữa, Ngài còn có vai trò hết sức đặc biệt: là trung gian duy nhất. Đấng trung gian ấy đã thực sự chiến thắng sự chết và đã phục sinh. Đây là dấu chứng đảm bảo cho sự sống đời đời, sự sống mà Thiên Chúa đã hứa ban cho tất cả những ai tin vào Đức Kitô và dấn bước theo Ngài: “Ai tin vào Ngài thì không phải hư mất, nhưng được sự sống đời đời” (Ga 3,16b).
Hai chữ “đời sau” là có ý muốn nói đến “sau cái chết”. Người ta tin rằng sau khi chết đi, mình vẫn còn sống theo một cách thức nào đó, chỉ có điều, sự sống ấy như thế nào, giống và khác với sự sống mà ta đang thụ hưởng ra sao, thì chẳng ai biết được cả. Dù không biết chính xác, nhưng trong tận thâm tâm, người ta tin là nó sẽ tuyệt vời hơn bây giờ rất nhiều, rằng “người đã chết” ấy hiện diện trong một trạng thái thuần linh, “người đó” có thể nhìn thấy chúng ta, nghe biết và chứng kiến mọi chuyện đang diễn ra trong thế giới này.
Thậm chí, người ta còn tin rằng, “người đã chết”, vì không còn bị kìm kẹp bởi vật chất nữa, nên “thần thông quảng đại” hơn, có thể làm được nhiều điều mà chúng ta không thể làm được. Đó là lý do vì sao chúng ta thường dành một sự cung kính cho người quá cố, chúng ta thắp cho họ nén hương, khấn vái, cầu khẩn… Nhiều người còn dâng cúng đồ ăn thức uống, trò chuyện với người đã khuất.
Vào thời Chúa Giêsu, giới lãnh đạo Do thái chia thành nhiều nhóm khác nhau. Liên quan đến sự sống lại, số người thuộc nhóm Biệt phái thì tin rằng cuộc sống sau khi chết cũng giống như cuộc sống trước đó trên trần gian này, nghĩa là con người cũng ăn uống, buôn bán, sống đời vợ chồng, nhưng chỉ có sung sướng mà thôi; tuy nhiên, một số khác thì tin rằng cuộc sống sau cái chết là cuộc sống hoàn toàn biến đổi.
Còn nhóm Sađốc thì không tin vào cuộc sống đời sau: đối với họ, chết là hết; họ dựa trên luật Do thái buộc người em phải lấy chị dâu để đảm bảo cho anh mình có con nối dõi tông đường, nếu người anh chết mà chưa có con. Họ đặt ra trường hợp bảy anh em nhà kia cùng lấy một người đàn bà và hỏi Chúa Giêsu: khi sống lại, người đàn bà ấy sẽ là vợ của ai?
Chúa Giêsu khẳng định cuộc sống phục sinh hoàn toàn được biến đổi và không giống cuộc sống trên trần gian này như một số người Biệt phái tưởng nghĩ; do đó, mọi tương quan giữa con người với nhau cũng sẽ được biến đổi và tan hòa trong tương quan tình yêu thương của Thiên Chúa, cũng như mang sắc thái và chiều kích của tình yêu ấy, vì thế, mọi cách diễn tả và biểu lộ trong các liên hệ cuộc sống trần gian khi đó không còn ý nghĩa nữa.
Chết là sự chắc chắn phải có. Tuy nhiên, chết không phải là hết. Tất cả các tôn giáo và các dân tộc đều tin rằng luôn có sự sống mới sau cái chết. Có lẽ chúng ta đã từng nghe và cũng từng nói những từ ngữ như: Từ trần, Qua đời, Băng hà, Đi rồi,… khi nói về một người chết
Chúa Giêsu quả quyết có sự sống lại, nhưng Ngài không giải thích sự việc sẽ xẩy ra thế nào và khi nào sẽ xẩy ra biến cố sống lại, vì điều đó không quan trọng cho ơn cứu rỗi. Chẳng những có lời quả quyết của Chúa, chúng ta còn có một sự kiện cụ thể khác, đó là sự phục sinh của Chúa Kitô, đó là câu trả lời duy nhất cho thắc mắc của con người về sự chết, về sự sống lại và sự sống đời đời.
Cái chết và sự Phục sinh của Chúa Giê-su đã trả lời cho mọi vấn nạn về cùng đích cuộc sống. Ngài đã chết và sống lại. NGài về trời và nói rằng Ngài về Nhà Cha. Về nơi hạnh phúc trường sinh. Nơi đó Ngài cũng dọn chỗ cho tất cả những ai tin vào Người.
Cuộc sống trần gian chỉ là tạm bợ. Sự sống thần linh mới là vĩnh cửu. Điều đó mời gọi chúng ta đừng mải tranh dành danh lợi thú trần gian. Hãy sống cuộc đời có ý nghĩa, nhất là biết dành thời giờ chăm sóc, quan tâm tới những người thân của mình. Hãy sống có trách nhiệm với bản thân và gia đình. Đừng đợi khi quỹ thời gian đã không còn mới sống đẹp thì đã muộn. Vì lúc đó, trí chẳng còn, sức cũng cạn!
Tin vào sự sống đời sau, ta được mời gọi để sống thanh cao, sống những giá trị vượt trên những tầm thường nhỏ nhen. Thật ra, ta đã có thể bắt đầu sự sống đời sau với nhiều hạnh phúc qua từng cái chết nho nhỏ nơi cuộc sống này: chết đi cho cái tôi ích kỷ, chết đi cho những kiêu ngạo, chết đi qua những hy sinh… Thật lạ kỳ: giá trị của cuộc sống hệ tại ở những cái chết như thế; càng chết đi, ta lại càng cảm thấy mình sống cách sung mãn hơn, và sự sống đời sau bắt đầu hình thành từ giây phút ấy.
Xin Chúa gìn giữ chúng ta trong niềm tin vào sự sống lại và kiên trì hy vọng vào cuộc sống vĩnh cửu mai sau.
2021
Thứ Bảy Tuần XXXIII – Mùa Thường Niên
Thứ Bảy Tuần XXXIII – Mùa Thường Niên
Ca nhập lễ
Gr 29,11.12.14
Chúa phán : “Ý định của Ta
là làm cho các ngươi được bình an
chứ không phải đau khổ.
Bấy giờ các ngươi cầu cứu Ta,
và Ta sẽ nhận lời,
Ta sẽ đưa các ngươi trở về
từ khắp chốn lưu đày.”
Lời nguyện nhập lễ
Lạy Thiên Chúa là nguồn phát sinh mọi điều thiện hảo, được phụng sự Chúa quả là một hạnh phúc tuyệt vời: xin cho chúng con tìm được niềm vui khi hết dạ trung thành với Chúa. Chúng con cầu xin …
Bài đọc
Chính vì những hành vi tàn bạo tôi đã làm ở Giê-ru-sa-lem mà tôi phải chịu buồn phiền vô hạn.
Bài trích sách Ma-ca-bê quyển thứ nhất.
1 Hồi đó, vua An-ti-ô-khô rảo khắp các miền thượng du. Vua nghe tin ở Ba-tư có thành Ê-ly-mai, một thành nổi tiếng vì nhiều của cải vàng bạc. 2 Đền thờ trong thành cũng có nhiều báu vật, có cả những mảnh giáp trụ bằng vàng, có áo giáp và vũ khí mà con vua Phi-líp-phê là A-lê-xan-đê đã để lại ; ông này là vua miền Ma-kê-đô-ni-a và là người đầu tiên cai trị nước Hy-lạp. 3 Vậy vua An-ti-ô-khô đã tới đó, tìm cách đánh chiếm và cướp phá thành, nhưng không thành công, vì dân trong thành đã hay tin trước. 4 Họ đứng lên giao chiến chống lại vua khiến vua phải bỏ chạy về Ba-by-lon, lòng buồn não ruột. 5 Bấy giờ vua đang ở Ba-tư. Có người đến báo cho vua biết là các đoàn quân sang đất Giu-đa đã bị thảm bại : 6 Tướng Ly-xi-a chỉ huy đoàn quân tinh nhuệ nhất đã bị người Do-thái đẩy lui. Những người này càng thêm mạnh nhờ vũ khí, quân nhu và và nhiều chiến lợi phẩm thu được của những đoàn quân đã bị họ đánh tan tành. 7 Họ đã triệt hạ Đồ ghê tởm do vua xây ở trên bàn thờ dâng lễ toàn thiêu tại Giê-ru-sa-lem, rồi xây tường luỹ cao chung quanh Thánh Điện giống như ngày xưa. Cả thành Bết Xua của vua, họ cũng xây như vậy. 8 Nghe tin ấy, vua rất đỗi kinh hoàng. Vua lâm bệnh liệt giường vì phiền não, lại cũng vì sự việc không diễn ra như lòng mong ước. 9 Vua nằm liệt như thế đã lâu, nỗi buồn cứ ngày đêm ray rứt. Tưởng như ngày chết đã gần kề, 10 vua cho vời bạn hữu đến và nói : “Tôi không thể chợp mắt, vì nỗi âu lo canh cánh bên lòng. 11 Tôi tự nhủ : Tại sao giờ đây tôi phải điêu đứng khổ sở như thế này ? Trước kia, khi đang cầm quyền, tôi hạnh phúc và được yêu mến biết bao ! 12 Nhưng bây giờ, nhớ lại thời ở Giê-ru-sa-lem, tôi đã lấy mọi vật dụng bằng bạc bằng vàng, đã sai người đi tiêu diệt dân cư ở miền Giu-đa mà không có lý do chính đáng. Hồi tưởng lại những hành vi tàn bạo đó, 13 tôi biết chắc rằng chính vì thế mà tôi gặp phải bao nhiêu tai biến, và giờ đây sắp phải chết nơi đất khách quê người vì buồn phiền vô hạn.”
Đáp ca
Tv 9,2-3.4 và 6.16 và 19 (Đ. x. c.15c)
Đ.Lạy Chúa, con hoan hỷ vì được Ngài cứu thoát.
2Lạy Chúa, con hết lòng cảm tạ,
kể ra đây muôn việc lạ Chúa làm.
3Mừng Ngài, con hân hoan nhảy múa,
đàn hát kính danh Ngài, lạy Đấng Tối Cao.
Đ.Lạy Chúa, con hoan hỷ vì được Ngài cứu thoát.
4Ngài xuất hiện, địch thù con tháo lui,
chúng té nhào mà chết.
6Ngài hăm doạ chư dân, tiêu diệt lũ gian tà,
tên tuổi chúng, cũng xoá đi vĩnh viễn.
Đ.Lạy Chúa, con hoan hỷ vì được Ngài cứu thoát.
16Kìa chư dân sa vào hố chúng đào,
chân mắc lưới chính mình giăng sẵn.
19Nhưng người túng thiếu không mãi bị bỏ quên,
kẻ nghèo khổ chẳng tuyệt vọng bao giờ.
Đ.Lạy Chúa, con hoan hỷ vì được Ngài cứu thoát.
Tung hô Tin Mừng
- 2 Tm 1,10
Ha-lê-lui-a. Ha-lê-lui-a. Đấng Cứu Độ chúng ta là Đức Giê-su Ki-tô đã tiêu diệt thần chết, và đã dùng Tin Mừng mà làm sáng tỏ phúc trường sinh. Ha-lê-lui-a.
Tin Mừng
Lc 20,27-40
Đức Chúa không phải là Thiên Chúa của kẻ chết, nhưng là Thiên Chúa của kẻ sống.
✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Lu-ca.
27 Khi ấy, có mấy người thuộc nhóm Xa-đốc đến gặp Đức Giê-su. Nhóm này chủ trương không có sự sống lại. 28 Mấy người ấy hỏi Đức Giê-su : “Thưa Thầy, ông Mô-sê có viết cho chúng ta điều luật này : Nếu anh hay em của người nào chết đi, đã có vợ mà không có con, thì người ấy phải lấy nàng, để sinh con nối dòng cho anh hay em mình. 29 Vậy nhà kia có bảy anh em trai. Người anh cả lấy vợ, nhưng chưa có con thì đã chết. 30 Người thứ hai, 31 rồi người thứ ba đã lấy người vợ goá ấy. Cứ như vậy, bảy anh em đều chết đi mà không để lại đứa con nào. 32 Cuối cùng, người đàn bà ấy cũng chết. 33 Vậy trong ngày sống lại, người đàn bà ấy sẽ là vợ ai, vì cả bảy đều đã lấy nàng làm vợ ?”
34 Đức Giê-su đáp : “Con cái đời này cưới vợ lấy chồng, 35 chứ những ai được xét là đáng hưởng phúc đời sau và sống lại từ cõi chết, thì không cưới vợ cũng chẳng lấy chồng. 36 Quả thật, họ không thể chết nữa, vì được ngang hàng với các thiên thần. Họ là con cái Thiên Chúa, vì là con cái sự sống lại. 37 Còn về vấn đề kẻ chết trỗi dậy, thì chính ông Mô-sê cũng đã cho thấy trong đoạn văn nói về bụi gai, khi ông gọi Đức Chúa là Thiên Chúa của tổ phụ Áp-ra-ham, Thiên Chúa của tổ phụ I-xa-ác, và Thiên Chúa của tổ phụ Gia-cóp. 38 Mà Người không phải là Thiên Chúa của kẻ chết, nhưng là Thiên Chúa của kẻ sống, vì đối với Người, tất cả đều đang sống.”
39 Bấy giờ có mấy người thuộc nhóm kinh sư lên tiếng nói : “Thưa Thầy, Thầy nói hay lắm.” 40 Thế là họ không dám chất vấn Người điều gì nữa.
Lời nguyện tiến lễ
Lạy Chúa, chúng con thành kính dâng lên Chúa lễ vật này, xin vui lòng chấp nhận, và giúp chúng con trung thành phụng sự Chúa, để mai ngày đạt tới phúc trường sinh. Chúng con cầu xin …
Lời Tiền Tụng
Lạy Chúa là Cha chí thánh, là Thiên Chúa toàn năng hằng hữu, chúng con tạ ơn Chúa mọi nơi mọi lúc, thật là chính đáng, phải đạo và đem lại ơn cứu độ cho chúng con.
Vì lượng từ bi, Chúa yêu thương thế gian, đến nỗi đã sai Ðấng Cứu Chuộc đến với chúng con. Người vô tội mà Chúa muốn Người sống như chúng con, để Chúa yêu thương nơi chúng con/ điều Chúa quý mến nơi Con Chúa. Nhờ sự vâng phục của Người, chúng con được phục hồi để lãnh nhận những ơn Chúa mà chúng con đánh mất khi phạm tội vì bất phục tùng.
Vì thế, lạy Chúa cùng với toàn thể Thiên thầnvà các thánh, chúng con tuyên xưng Chúa và hân hoan tung hô rằng:
Thánh! Thánh! Thánh! …
Ca hiệp lễ
Tv 72,28
Hạnh phúc của tôi là ở kề bên Chúa,
chốn ẩn thân đặt ở Chúa Trời.
Lời nguyện hiệp lễ
Lạy Chúa, chúng con vừa cử hành lễ tế tạ ơn để tưởng nhớ Ðức Kitô Con Chúa, như lời Người truyền dạy, và chúng con đã được rước Mình và Máu Thánh Người; cúi xin Chúa nhận lời chúng con khẩn nguyện và ban cho chúng con được thêm lòng yêu mến. Chúng con cầu xin …
