2021
ĐTC Phanxicô: Thánh Giuse là gương mẫu và chứng tá cho thời đại chúng ta
ĐTC Phanxicô: Thánh Giuse là gương mẫu và chứng tá cho thời đại chúng ta
Trong buổi tiếp kiến chung sáng thứ Tư 17/11/2021, Đức Thánh Cha bắt đầu loạt bài giáo lý về thánh Giuse. Ngài nói rằng thánh Giuse nhắc chúng ta rằng Thiên Chúa yêu thương những người ở vùng ngoại vi địa lý cũng như ngoại vi của cuộc sống hơn. Giáo hội được kêu gọi loan báo Tin Mừng cho những người ở những vùng ngoại vi của thế giới chúng ta. Những người nghèo và bị lãng quên ở giữa chúng ta có thể tìm đến thánh Giuse như một người hướng dẫn và người bảo vệ chắc chắn trong cuộc sống của họ.
Loạt bài giáo lý về thánh Giuse được bắt đầu nhân Năm đặc biệt về thánh Giuse, từ ngày 8/12/2020 đến ngày 8/12/2021.
Đức Thánh Cha nhận xét rằng thánh Giuse, người thợ mộc khiêm nhường làng Nadarét, người cha nuôi dưỡng Chúa Giêsu và quan thầy của Giáo hội hoàn vũ, đã sống hoàn toàn tín thác vào sự quan phòng của Thiên Chúa. Bêlem và Nadarét, hai thị trấn nhỏ bé gắn liền với cuộc sống của thánh nhân, nhắc chúng ta rằng Thiên Chúa yêu thương những người nghèo và những người bị gạt ra bên lề cuộc sống hơn. Thiên Chúa đã chọn Bêlem, thành của Đa-vít, làm nơi cho Con của Người sinh ra dưới sự chăm sóc cẩn thận của thánh Giuse, thuộc dòng dõi Vua Đa-vít.
Bằng cuộc đời và gương sáng của mình, thánh Giuse nhắc nhở chúng ta rằng, trong thời đại của chúng ta, Giáo hội được kêu gọi để loan báo tin mừng Chúa Kitô đến, bắt đầu từ những vùng ngoại vi cuộc sống của thế giới chúng ta. Những người nghèo và bị lãng quên ở giữa chúng ta có thể tìm đến ngài như một người hướng dẫn và người bảo vệ chắc chắn trong cuộc sống của họ. Đức Thánh Cha mời gọi các tín hữu hãy cầu xin thánh Giuse cầu bầu cho Giáo hội, để chúng ta luôn có thể khởi hành lại từ Bêlem, để nhìn thấy và đánh giá đúng những gì là quan trọng thiết yếu đối với Thiên Chúa.
Chứng tá và gương mẫu của thánh nhân soi sáng chúng ta hơn nữa
Mở đầu bài giáo lý Đức Thánh Cha giải thích lý do ngài sẽ trình bày những bài giáo lý về thánh Giuse: “Ngày 8 tháng 12 năm 1870, chân phước Piô IX đã công bố thánh Giuse là quan thầy của Giáo hội hoàn vũ. 150 năm sau sự kiện đó, chúng ta đang sống năm đặc biệt dâng kính thánh Giuse, và trong Tông thư Patris corde, tôi đã thu thập một số suy tư về con người của ngài. Chưa bao giờ như ngày hôm nay, trong thời điểm được ghi dấu bởi một cuộc khủng hoảng toàn cầu với nhiều khía cạnh khác nhau, thánh nhân có thể là người hỗ trợ, an ủi và hướng dẫn chúng ta. Do đó, tôi đã quyết định dành một loạt bài giáo lý về ngài; tôi hy vọng điều này sẽ giúp chúng ta để mình được mẫu gương và chứng tá của ngài soi sáng nhiều hơn nữa.
Thánh Giuse – người tràn đầy tin tưởng vào sự quan phòng của Thiên Chúa
Và Đức Thánh Cha bắt đầu bài giáo lý với suy tư về bối cảnh Kinh Thánh của cuộc đời thánh Giuse. Ngài nói: “Có hơn mười nhân vật trong Kinh Thánh có tên Giuse. Quan trọng nhất trong số này là người con trai ông Giacóp và bà Rakhen; người này đã trải qua nhiều thăng trầm, từ một nô lệ trở thành người quan trọng thứ hai ở Ai Cập sau vua Pharaô (x. St 37-50). Trong tiếng Do Thái, Giuse có nghĩa là “xin Chúa gia tăng, xin Chúa làm cho tăng trưởng”. Đó là một lời cầu chúc, một lời chúc lành dựa trên sự tin tưởng vào sự quan phòng của Thiên Chúa và đặc biệt là nói đến sự sinh sản và sự gia tăng con cái. Thật vậy, chính tên này đã tỏ lộ cho chúng ta một khía cạnh quan trọng trong tính cách của thánh Giuse thành Nadarét. Ngài là một người tràn đầy niềm tin vào Thiên Chúa, vào sự quan phòng của Người. Mỗi hành động của thánh nhân được Phúc Âm thuật lại đều được xác định bằng sự xác tín rằng Thiên Chúa “làm cho lớn lên”, “gia tăng”, “thêm vào”, nghĩa là Thiên Chúa chuẩn bị để thực hiện chương trình cứu độ của Người. Và, về điều này, Giuse thành Nadarét rất giống với Giuse ở Ai Cập”.
Bêlem và Nadarét – những vùng ngoại vi
Theo Đức Thánh Cha, Bêlem và Nadarét, những tham chiếu địa lý đầu tiên về thánh Giuse, cũng đóng vai trò quan trọng giúp chúng ta hiểu biết về thánh nhân. Đức Thánh Cha giải thích: “Trong Cựu ước, thành phố Bêlem được gọi là Beth Lechem, ‘Nhà bánh mì’, hay còn gọi là Épratha, theo tên bộ lạc định cư ở đó. Tuy nhiên, trong tiếng Ả Rập, tên này có nghĩa là ‘Ngôi nhà của thịt’, có lẽ vì có nhiều đàn cừu và dê ở khu vực này. Thật vậy, không phải ngẫu nhiên mà khi Chúa Giêsu sinh ra, các mục đồng là những người đầu tiên chứng kiến sự kiện này (x. Lc 2,8-20). Dưới ánh sáng của câu chuyện về Chúa Giêsu, những ám chỉ về bánh và thịt nói đến mầu nhiệm Thánh Thể: Chúa Giêsu là bánh hằng sống từ trời xuống (x. Ga 6,51). Người sẽ nói về mình: ‘Ai ăn thịt và uống máu tôi, thì có sự sống đời đời’ (Ga 6,54)”.
“Bêlem được nhắc đến nhiều lần trong Kinh Thánh, từ ngay trong sách Sáng Thế. Bêlem cũng được liên kết với câu chuyện của bà Rút và bà Naômi, được thuật lại trong sách Rút, một cuốn sách ngắn gọn nhưng tuyệt vời. Bà Rút sinh một người con trai tên là Obed, và người này sinh ra ông Giêsê, cha của Vua Đavít. Và chính từ dòng dõi của Vua Đavít mà thánh Giuse, cha của Chúa Giê-su theo pháp lý, đã được sinh ra. Bấy giờ, tiên tri Mikha đã báo trước những điều tuyệt vời về Bêlem: ‘Phần ngươi, hỡi Bêlem Épratha, ngươi nhỏ bé nhất trong các thị tộc Giuđa, từ nơi ngươi, Ta sẽ cho xuất hiện một vị có sứ mạng thống lãnh Israel’ (Mk 5,1). Thánh sử Mátthêu sẽ lấy lời tiên tri này và kết nối nó với câu chuyện về Chúa Giêsu như sự ứng nghiệm rõ ràng của nó”.
“Quả thật, Con Thiên Chúa không chọn Giêrusalem làm nơi Người nhập thể làm người, mà là Bêlem và Nadarét, hai làng ở ngoại ô, cách xa tiếng ồn ào của tin tức và những người quyền lực thời bấy giờ. Tuy nhiên, Giêrusalem là thành phố được Chúa yêu thương (x. Is 62,1-12), là ‘thành thánh’ (Dn 3,28), được Chúa chọn làm nơi cư ngụ (x. Dc 3,2; Tv 132,13). Thực ra, đây là nơi cư ngụ của các tiến sĩ Luật, kinh sư và người Pharisêu, các thượng tế và các kỳ lão trong dân (xem Lc 2,46; Mt 15,1; Mc 3,22; Ga 1,19; Mt 26,3)”.
Vùng ngoại vi và bên lề đều được Thiên Chúa ưu ái
Đức Thánh Cha nhận định rằng đây là lý do tại sao việc lựa chọn Bêlem và Nadarét cho chúng ta biết rằng vùng ngoại vi và bên lề đều được Thiên Chúa ưu ái. Chúa Giêsu không sinh ra ở Giêrusalem cùng với toàn thể triều đình … Không: Người sinh ra ở vùng ngoại ô và sống cuộc đời của mình, tới 30 năm, ở vùng ngoại ô đó, làm thợ mộc, giống như thánh Giuse. Đối với Chúa Giêsu, những vùng ngoại vi và những người bị thiệt thòi được ưu tiên hơn. Đức Thánh Cha lưu ý: “Không xem xét sự kiện này một cách nghiêm túc đồng nghĩa với việc không coi trọng Tin Mừng và hoạt động của Thiên Chúa, Đấng tiếp tục tỏ mình ra trong các vùng ngoại vi địa lý và cuộc sống. Chúa luôn hành động âm thầm: Người luôn hành động âm thầm, ở ngoại vi. Ngay cả trong tâm hồn chúng ta, ở những vùng ngoại vi của linh hồn, của những tình cảm, có lẽ những tình cảm khiến chúng ta xấu hổ, nhưng Chúa ở đó để giúp chúng ta tiến bước. Chúa tiếp tục tỏ mình ra ở các vùng ngoại vi, dù là về mặt địa lý hay về cuộc sống”.
Chúa Giêsu đến viếng thăm cả những vùng ngoại vi của tâm hồn
Đặc biệt, Đức Thánh Cha nhấn mạnh: “Chúa Giêsu đi tìm kiếm những người tội lỗi; Người vào nhà họ, nói chuyện với họ, mời gọi họ hoán cải. Chúa Giêsu cũng bị quở trách về điều này: ‘Nhưng hãy nhìn xem vị Thầy này – các tiến sĩ luật nói – hãy nhìn vị Thầy này: ông ăn uống với tội nhân, người ô uế, đi tìm những tội nhân đã làm điều ác và cũng đi tìm những người không làm điều ác nhưng đã phải chịu đựng nó, chẳng hạn như những người bệnh tật, đói khổ, nghèo khó, rốt cùng’. Chúa Giêsu luôn luôn hướng về những vùng ngoại vi. Và điều này phải mang lại cho chúng ta rất nhiều niềm tin, đúng không? Bởi vì, Chúa biết vùng ngoại vi của trái tim chúng ta, vùng ngoại vi của tâm hồn chúng ta, vùng ngoại vi của xã hội chúng ta, của thành phố của chúng ta, của gia đình chúng ta, tức là phần hơi tăm tối, nơi có lẽ chúng ta không thể hiện ra vì xấu hổ, đúng không?”
Giáo hội được kêu gọi loan báo tin mừng đến các vùng ngoại vi
Đức Thánh Cha nhận xét: “Về mặt này, xã hội lúc bấy giờ không khác chúng ta là mấy. Ngay cả ngày nay vẫn có một trung tâm và một vùng ngoại vi. Và Giáo Hội biết rằng mình được kêu gọi để loan báo tin mừng đến các vùng ngoại vi. Thánh Giuse, một thợ mộc từ làng Nadareth và là người tin tưởng vào kế hoạch của Thiên Chúa dành cho vị hôn thê của ngài và cho ngài, nhắc nhở Giáo hội hãy chú ý đến những gì mà thế giới cố tình phớt lờ. Hôm nay thánh Giuse dạy chúng ta: ‘Đừng quá chú trọng vào những điều mà thế gian ca tụng, nhưng hãy nhìn vào những góc khuất, những bóng tối, hãy nhìn ra ngoại vi, những điều thế gian không mong muốn’. Ngài nhắc nhở mỗi chúng ta phải quý trọng đến những người mà người khác loại bỏ”.
Nhận ra điều cốt yếu
Theo nghĩa này, Đức Thánh Cha khẳng định rằng thánh Giuse “thực sự là một bậc thầy về điều cốt yếu: ngài nhắc nhở chúng ta rằng những gì thực sự có giá trị không thu hút sự chú ý của chúng ta, nhưng đòi hỏi sự phân định kiên nhẫn để được khám phá và đánh giá cao”.
Đức Thánh Cha mời gọi cầu xin thánh Giuse cầu bầu “để toàn thể Giáo hội có thể tìm lại được cách nhìn này, khả năng phân định và đánh giá điều cốt yếu này. Chúng ta hãy lại bắt đầu từ Bêlem, chúng ta hãy bắt đầu lại từ Nadarét”.
Thánh Giuse – chứng nhân và người bảo vệ
Cuối cùng Đức Thánh Cha gửi một thông điệp đến tất cả những người sống ở những vùng ngoại vi địa lý hay cuộc sống, bị lãng quên nhất trên thế giới, hoặc những người đang bị gạt ra ngoài lề của cuộc sống. Ngài nói: “Chớ gì anh chị em tìm thấy nơi thánh Giuse chứng nhân và người bảo vệ để mình tìm đến”. Và ngài mời gọi dâng lên thánh nhân lời cầu nguyện này:
Lạy Thánh Giuse,
ngài là người luôn tín thác vào Thiên Chúa,
và đưa ra những chọn lựa theo sự hướng dẫn quan phòng của Người,
xin dạy chúng con đừng quá dựa trên những kế hoạch của mình
nhưng theo kế hoạch tình yêu của Người.
Ngài là người đến từ những vùng ngoại vi,
xin giúp chúng con chuyển đổi cách nhìn
và thích chọn những gì thế giới loại bỏ và những thứ bị gạt ra bên lề hơn.
Xin an ủi những người cảm thấy cô đơn
và nâng đỡ những người làm việc âm thầm để bảo vệ sự sống và phẩm giá con người. Amen.
Hồng Thủy
2021
Hơn 7.000 tội ác oán ghét chống các tín hữu Kitô và tôn giáo khác
Hơn 7.000 tội ác oán ghét chống các tín hữu Kitô và tôn giáo khác
Phúc trình mới của tổ chức an ninh và cộng tác Âu châu, gọi tắt là OSCE cho biết trong năm ngoái (2020) có hơn 7.000 tội ác chống các nhóm thiểu số và tôn giáo. Con số những vụ chống các tín hữu Kitô tăng 70% so với năm 2019 trước đó. Cả các tội ác chống Do thái cũng gia tăng nhiều.
Phúc trình được công bố hôm 16 tháng Mười Một vừa qua, tại thủ đô Ba Lan với tựa đề “Dữ kiện về tội ác oán ghét” (Hate Crime Data). 42 trong số 57 quốc gia thành viên của tổ chức OSCE đã góp phần và cung cấp các dữ kiện cho phúc trình thường niên này.
Phúc trình liệt kê 7.181 vụ chống lại con người và các tổ chức tôn giáo tại 46 quốc gia. Có 980 tội ác chống các tín hữu Kitô và các nơi thờ phượng, biểu tượng và cơ sở của Giáo hội, tức là tăng thêm 70% so với 578 vụ hồi năm 2019. Con số những vụ bài Do thái tăng thêm 600 vụ. Phúc trình cho biết có 333 vụ chống người Hồi giáo, 84 vụ chống những nhóm du mục người Rom và Sinti.
Bà Madeleine Enzlberger, Giám đốc Đài quan sát về sự bất bao dung và kỳ thị chống Kitô hữu (OIDAC) nói rằng sự tăng ồ ạt những tội oán ghét chống Kitô hữu phải mở mắt những giới ưu tú chính trị và văn hóa. “Trong giới truyền thông và chính trị người ta ít coi tội oán ghét Kitô hưu là vấn đề, mặc dù chúng ngày càng hiển nhiên trong xã hội. Phúc trình của tổ chức OSCE chỉ phản ánh một phần nhỏ trong xu hướng mà từ nhiều năm nay chúng tôi quan tâm ghi nhận, và đó là một sự báo động chống lại sự dửng dưng và mạ lỵ các Kitô hữu, coi thái độ này như một mốt thời trang”.
Bà Enzlberger xác tín rằng con số thực sự về những tội ác oán ghét Kitô hữu cao hơn nhiều.
(Kathpress 16-11-2021)
Trần Đức Anh, O.P.
2021
Nhà nước Cuba đe dọa các linh mục
Nhà nước Cuba đe dọa các linh mục
Nhà nước cộng sản Cuba đe dọa các linh mục tại nước này trong nhiều ngày vì đã ủng hộ những cuộc biểu tình dân chủ cho Cuba diễn ra tại nhiều nơi trên thế giới, hôm 15 tháng Mười Một vừa qua, với khẩu hiệu “Dân chúng tuần hành đòi thay đổi”.
Un’immagine dai social delle manifestazioni a sud ovest di L’Avana | AFP or licensors
Tin được phổ biến trên nhiều trang mạng cho biết ban tôn giáo chính phủ đã lên tiếng cảnh cáo các linh mục liên quan hoặc ủng hộ các cuộc tuần hành này.
Một trong số các linh mục bị cảnh cáo và đe dọa là cha Alberto Reyes. Tuy nhiên cha nói rằng mặc dù bị đe dọa và đàn áp, các linh mục không do dự ủng hộ cuộc đấu tranh cho tự do tại Cuba. Cha nói: “Chúng tôi là những linh mục công bố Tin mừng của Chúa Giêsu Kitô, và Tin mừng nói về tự do, công lý và sự thật, đó là những điều mà đất nước chúng ta đòi hỏi”.
Hôm 15 tháng Mười Một vừa qua, các cuộc biểu tình phò dân chủ tại Cuba đã diễn ra tại hơn 120 thành phố trên thế giới, trong đó Madrid, Zaragoza bên Tây Ban Nha và Miami bên Mỹ. Đó là một hình thức ủng hộ các cuộc biểu tình phản đối ồ ạt, hôm 11 tháng Bảy năm nay tại Cuba. Các tham dự viên biểu lộ sự bất mãn với tình trạng nạn nghèo đói gia tăng, những khó khăn trong việc tìm kiếm lương thực, thuốc men và vắc xin chống Covid-19.
(Kai 16-11-2021)
Trần Đức Anh, O.P.
2021
Giuđa Phản Bội, Phêrô Chối Thầy và Người Trộm Lành dạy cho chúng ta những bài học gì?
Giuđa Phản Bội, Phêrô Chối Thầy và Người Trộm Lành dạy cho chúng ta những bài học gì?
Hỏi: Nhân Mùa Chay, xin cha giải thích ý nghĩa việc Giuđa phản bội, người trộm lành sám hối và Phêrô chối Chúa như được ghi lại trong trong các Tin Mừng.
Trả lời: Mùa chay là thời điểm thuận lợi nhất để Giáo Hội mời gọi con cái mình suy niệm sâu xa hơn nữa về tình thương bao la của Thiên Chúa thể hiện nơi Chúa Kitô, Đấng đã vui lòng chịu mọi đau khổ, sỉ nhục và chết trên thập giá để cứu chuộc cho nhân loại khỏi chết vì tội và có hy vọng được sống hạnh phúc muôn đời với Thiên Chúa trên Nước Trời .
Mùa chay cũng là mùa sám hối, thúc dục mọi tín hữu nhìn nhận tội lỗi đã phạm để xin Chúa nhân lành khoan dung thứ tha vì Người “muốn cho mọi người được cứu độ và nhận biết chân lý”. ( 1Tm 2:4)
Thiên Chúa là Cha rất nhân lành..Người “chậm giận và giầu tình thương”. Vì thế, ai có lòng trông cậy và kêu xin thì dù cho tội lỗi đến đâu cũng sẽ được tha thứ.Chỉ có sự tuyệt vọng, không còn muốn xin Chúa thương xót tha thứ nữa mới làm bế tắc tình thương bao la của Thiên Chúa cho con người mà thôi
Sau đây là nhũng bài học ta có thể rút ra từ việc Phêrô chối Thầy, Giuđa bán Chúa và người trộm lành sám hối.
Tin Mừng Matthêu, Marcô, Luca và Gioan đều ghi lai sự kiên Phêrô chối Thầy, Giuđa Ít-ca-ri-ốt , một trong 12 môn đệ đầu tiên của Chúa Giêsu đã phản bội Thầy, bán Thầy và tuyệt vọng đến mức treo cổ tự tử sau đó. (Mt 27: 5)
Riêng Tin Mừng Luca ghi lại sự kiên “Người gian phi sám hối và được vào Thiên Đàng với Chúa Giêsu”.
1- Trường hợp của Giuda
Giuđa tượng trưng cho lớp người quá say mê của cải vật chất ở đời này đến mức quên tình quên nghĩa để phản bội người khác, kể cả ân nhân. Giuđa là một trong Nhóm 12 Tông Đồ nòng cốt mà Chúa Giêsu đã chọn lựa cho tham gia vào sứ vụ rao giảng Tin Mừng Cứu Độ của Chúa từ lúc ban đầu. Giuđa đã được diễm phúc sống bên Chúa suốt 3 năm, đã được trực tiếp nghe lời giảng dạy của Chúa về Nước Trời, về tinh thần khó nghèo cũng như chứng kiến tận mắt đời sống khó nghèo của Chúa ở mức “con chồn có hang, chim trời có tổ, nhưng Con Người không có chỗ tựa đầu.” (Mt 8: 20). Vậy mà Giuđa đã không được cảm hóa theo gương khó nghèo của Chúa. Vì thế Giuda đã cam tâm bán Chúa lấy 30 đồng bạc. Nhưng khi chứng kiến cảnh Thầy mình bị bắt và bị đánh đập tàn nhẫn, Giuđa đã hối hận đem tiền trả lại bọn thượng tế và kỳ mục Do Thái rồi đi thắt cổ chết. Hắn tự tử vì quá tuyệt vọng, không còn tin tưởng gì vào lòng xót thương, tha thứ của Chúa nữa. Đây là điều rất đáng buồn cho anh ta và là gương xấu cho người khác.
Thật vậy, Giuđa đã trở thành gương xấu không những vì tham mê tiền của, phản bội mà nhất là tuyệt vọng về lòng xót thương của Chúa. Đây là điều đáng nói nhất về người môn đệ phản bội này, vì y đã mất hết niềm tin vào Thiên Chúa nhân lành, sẵn lòng tha thứ hết mọi tội lỗi của con người trừ tội phạm đến Chúa Thánh Thần, tức tội tuyệt vọng không còn tin tưởng gì vào lòng xót thương tha thứ của Chúa nữa.Giuđa đã phạm tội này khi tự tử chết.
Chúa Giêsu đã than thở như sau về sự phản bội của Giuđa: “…Con đã canh giữ và không một ai trong họ phải hư mất trừ đứa con hư hỏng để ứng nghiệm lời Kinh Thánh” ( Ga 17: 12)
lại nữa: “…đã hẳn Con Người ra đi theo như lời đã chép về Người, nhưng khốn cho kẻ nào nộp Con Người: thà nó đừng sinh ra thì hơn” (Mt 26: 24; Mc 14: 21)
Dầu vậy, Giáo Hội cũng không dám kết luận chắc chắn về số phận đời đời của Giuđa. Việc này chỉ có một mình Thiên Chúa biết vì Người đã phán đoán Giuđa theo lượng từ bi và công bằng của Người.
Ngược lại , Giáo Hội chỉ lưu ý con cái mình về gương xấu của Giuđa mà thôi. Gương xấu vì Giuđa đã mê tiền của hơn yêu mến Thầy, nên đã phản bội Thầy khi bán Người lấy 30 đồng bạc của các Thượng Tế và kỳ mục Do Thái. Nhưng điều đáng nói nhất về Giuđa là sự tuyệt vọng của anh, khi không còn muốn sám hối để xin Chúa tha thứ nữa, để rồi đi treo cổ tự tử (cf. Mt 27:5). Đây là gương xấu mà mọi tín hữu phải xa tránh vì thực chất của nó là mất hết hy vọng vào lòng thương xót của Chúa, là Cha nhân từ luôn sẵn lòng tha thứ cho kẻ có tội biết sám hối và xin tha thứ.
2- Phêrô chối Chúa
Ngược lại với Giuđa là kẻ nêu gương xấu về tham tiền và tuyệt vọng, Phêrô lại dạy cho chúng ta bài học quý giá về lòng ăn năn sám hối.
Phêrô cũng có khuyết điểm là quá tự tin nơi mình khi tuyên bố lúc ban chiều trước khi Chúa Giêsu bị bắt: “Dầu có phải chết với Thầy, con cũng không chối Thầy.” ( Mt 26:35)
Nhưng đúng như lời Chúa đã nói trước là đêm đó gà chưa gáy sáng thì Phêrô đã chối Chúa ba lần. Nhưng chối xong và nhớ lại lời Chúa đã nói trước, Phêrô “ra ngoài khóc lóc thảm thiết” (cf. Mt 26: 75, ; Lc 22: 62). Ông khóc vì ăn năn hối hận đã hèn nhát chối Thầy trước những kẻ bắt bớ và hành hạ Người cách tàn nhẫn. Chính vì thật sự thống hối ăn năn mà Chúa đã tha cho Phêrô tội công khai chối Chúa và còn tín nhiệm trao phó cho Phêrô sứ mệnh “chăn dắt chiên con và chiên mẹ của Thầy” ( Ga 21: 15-16).
Như thế đủ cho ta thấy là dù tội lỗi con người có nặng đến đâu, nhưng nếu biết sám hối và chạy đến với lòng thương xót vô biên của Chúa thì chắc chắn sẽ được tha thứ và nối lại tình thân với Người, sau khi đã lỡ sa ngã vì yêu đuối của nhân tính do hậu quả của tội nguyên tổ còn để lại.
3- Người gian phi sám hối (Lc 23 : 40-42)
Tin Mừng Luca kể rõ hai tên gian phi cùng chịu đóng đanh với Chúa Giêsu, một đứa bên phải, một đứa bên trái, trong khi Matthêu nói đó là hai tên cướp ( Mt 27: 38). Chúng bị đóng đinh vì tội trôm cướp, và một trong hai tên gian phi này đã nhận biết tội của mình nên xin cùng Chúa Giêsu rằng: “Ông Giêsu ơi, khi ông vào Nước của Ông xin nhớ đên tôi. Và Người nói với anh ta: “Tôi bảo thật anh, hôm nay, anh sẽ được ở với tôi trên Thiên Đàng.” (Lc 42-43)
Như thế, chỉ có lòng ăn năn sám hội thực sự là đáng kể vì là điều đẹp lòng Chúa, và Người sẽ tha hết mọi tội lỗi cho những ai nhận biết mình có tội và xin Chúa thứ tha. Người gian phi sám hối hay còn được gọi là “kẻ trộm lành” đã vào Thiên Đàng bằng đường tắt nhanh chóng chỉ vì biết ăn năn sám hối và chạy đến với lòng thương xót vô biên của Chúa để xin tha thứ.
Người trộm lành này đã từng đi đàng tội lỗi không biết là bao nhiêu năm, nên bị đóng đanh vì những trọng tội mà xã hội Do Thái phải trừng phạt bằng cực hình đóng đanh. Nhưng Chúa đã tha thứ cho anh mọi tội, từ tội nguyên tổ cho đến mọi tội cá nhân anh đã phạm cho đến ngày bị đóng đanh chung với Chúa, là Người lành vô tội, nhưng đã cam lòng chiu khổ hình thập giá để đền thay cho nhân loại đáng phải phạt vì tội.
Dĩ nhiên chúng ta không thể bắt chước “người trộm lành” bằng cách cứ sống tội lỗi rồi cuối cùng sám hối xin Chúa tha thứ để được vào Nước Trời. Ta chỉ có thể noi gương tốt của anh về lòng sám hối và tin tưởng nơi lòng thương xót của Chúa để xin Người tha thứ mọi tội cho ta đã lỡ sa phạm vì yếu đuối của bản chất và vì ma quỉ cám dỗ. Nhưng ta không thể bắt chước anh ta làm những việc sai trái hay đối nghịch với tình thương, sự thánh thiện và công bằng của Chúa để chờ xin tha thứ vào phút chót. Không ai có thể biết ngày giờ nào mình phải ra đi, nên không thể liều mình sống trong tội chờ ngày sám hối được. Cố ý sống như vậy là lợi dụng lòng thương xót, tha thứ của Chúa. Và nếu ai cố ý liều lĩnh như vậy thì hãy nghe lời Chúa cảnh cáo nghiêm khắc sau đây:
“Ta biết các việc ngươi làm: ngươi chẳng lạnh mà cũng chẳng nóng. Phải chi ngươi lạnh hẳn đi, nhưng vì người hâm hâm, chẳng nóng chẳng lạnh nên Ta sắp mửa ngươi ra khỏi miệng Ta.” (Kh 3: 15-16)
Tóm lại, điều thiết yếu là ta phải cố gắng xa tránh mọi tội lỗi vì chỉ có tội là cản trở duy nhất cho ta sống đẹp lòng Chúa mỗi giây phút của đời mình trên trần thế này. Tuy nhiên, vì bản chất yếu đuối do hậu quả của tội Nguyên tổ, nhất là vì ma quỉ luôn rình rập để lôi kéo ta vào vòng tội lỗi, nên cần thiết cho ta phải xin ơn Chúa giúp sức để có thể đứng vững, sống theo đường lỗi của Chúa để được an vui ngay trên đời này trước khi được hưởng hạnh phúc vĩnh cửu trên Nước Trời mai sau.
LM Phanxicô Xaviê Ngô Tôn Huấn
