2021
ĐTC Phanxicô: Thánh Giuse, người công chính, gương mẫu cho các đôi vợ chồng
ĐTC Phanxicô: Thánh Giuse, người công chính, gương mẫu cho các đôi vợ chồng
Đức Thánh Cha nói rằng thánh Giuse là gương mẫu cho các đôi vợ chồng và cho chúng ta, những người đang ở giữa những thử thách không thể tránh khỏi của cuộc sống, được mời gọi khám phá niềm vui và tự do đích thực từ sự tín thác vào sự quan tâm và quan phòng của Thiên Chúa đối với cuộc sống của chúng ta.
Sáng thứ Tư ngày 1/12/2021, trong buổi tiếp kiến chung tại đại thính đường Phaolô VI, Đức Thánh Cha đã cùng các tín hữu suy tư về thánh Giuse, như được thánh Mátthêu mô tả trong Phúc Âm, là “một người công chính” và là “hôn phu của Đức Maria”.
Đức Thánh Cha giải thích rằng, là một người Israel ngoan đạo, thánh Giuse sẵn sàng tuân giữ các yêu cầu của Lề Luật và các điều luật liên quan đến hôn nhân. Vì yêu thương và quan tâm đến Đức Maria, nên khi biết Mẹ đã có thai, thánh nhân tìm cách cứu Mẹ khỏi bị sỉ nhục công khai. Rồi trong giấc mơ, qua lời truyền dạy của thiên thần, thánh Giuse hiểu rằng kết hôn với Mẹ Maria là điều đúng đắn.
Đức Thánh Cha nhận xét rằng sự cởi mở của thánh Giuse và Mẹ Maria đối với kế hoạch cứu độ của Thiên Chúa giúp tình yêu của các ngài trưởng thành, thể hiện qua các đức tính khiết tịnh, trung thành, tôn trọng và khiêm nhường. Trên thực tế, những đức tính này không hề hạn chế sự tự do của chúng ta; ngược lại, chúng mang lại cho tình yêu của chúng ta sự định hướng và bền bỉ. Theo nghĩa này, thánh Giuse và Mẹ Maria có thể là gương mẫu không chỉ cho những người trẻ đã đính hôn, mà còn cho tất cả chúng ta.
Thông điệp cho các đôi hứa hôn và các đôi tân hôn
Mở đầu bài giáo lý, Đức Thánh Cha nói rằng ngài muốn đào sâu thêm về đức tính “công chính” của thánh Giuse và “người đã đính hôn với Đức Maria”, và từ đó đưa ra một thông điệp cho tất cả các cặp đôi đã đính hôn, cả cho những đôi tân hôn.
Trước hết, Đức Thánh Cha lưu ý rằng nhiều sự kiện liên quan đến thánh Giuse được kể lại trong những câu chuyện trong các Phúc âm nguỵ thư, tức là những sách Tin Mừng không thuộc quy điển, những sách cũng có ảnh hưởng đến nghệ thuật và những nơi thờ phượng khác nhau. Những sách này, không thuộc Bộ Kinh Thánh, là những sưu tập được thu thập vào thời đó, đáp lại ước muốn trình bày về những điều không được nói đến trong các bản văn Tin Mừng trong Kinh Thánh, và cung cấp cho chúng ta mọi điều cần thiết cho đức tin và đời sống của Kitô hữu. Ngài nhắc rằng các Phúc Âm nguỵ thư không phải là điều xấu, ngược lại là những điều tuyệt vời, nhưng chúng không phải là Lời của Chúa. Còn các Phúc Âm trong Kinh Thánh là Lời Chúa.
Thánh Giuse – người công chính
Đức Thánh Cha nói tiếp: Thánh sử Mátthêu định nghĩa thánh Giuse là một người “công chính”. Chúng ta hãy lắng nghe lời tường thuật của ngài: “Sau đây là gốc tích Đức Giêsu Kitô: bà Maria, mẹ Người, đã đính hôn với ông Giuse. Nhưng trước khi hai ông bà về chung sống, bà đã có thai do quyền năng Chúa Thánh Thần. Ông Giuse, chồng bà, là người công chính và không muốn tố giác bà, nên mới định tâm bỏ bà cách kín đáo.” (1,18-19). Và Đức Thánh Cha giải thích thêm: Bởi vì khi người vợ đã hứa hôn mà không chung thủy hoặc có thai, thì người chồng hứa hôn đều có thể tố cáo họ! Họ phải làm như thế. Và người phụ nữ đó bị ném đá. Nhưng thánh Giuse là người công chính. Ngài nói: “Không, tôi sẽ không làm điều này. Tôi sẽ im lặng bỏ đi”.
Phong tục hôn nhân Do Thái cổ xưa
Đức Thánh Cha giải thích về các phong tục hôn nhân của dân Israel cổ xưa để giúp hiểu cách cư xử của thánh Giuse đối với Mẹ Maria. Ngài nói: Hôn nhân bao gồm hai giai đoạn được xác định rõ ràng. Giai đoạn đầu tiên giống như một cuộc đính hôn chính thức và điều này ám chỉ một tình cảnh mới. Đặc biệt, trong khi tiếp tục sống ở nhà cha mẹ đẻ thêm một năm nữa, người phụ nữ trên thực tế đã được coi là “vợ” của người bạn đời hứa hôn của mình. Họ chưa sống chung với nhau nhưng đã được coi như là vợ. Giai đoạn thứ hai là cô dâu chuyển từ nhà cha mẹ đẻ sang nhà chồng. Nghi lễ này diễn ra với một đám rước lễ hội và đám cưới kết thúc. Trên cơ sở của những phong tục này, việc “trước khi họ về chung sống với nhau, Đức Maria đã có thai” khiến Đức Trinh nữ bị buộc tội ngoại tình. Và, theo Luật cổ xưa, tội của Mẹ bị trừng phạt bằng cách bị ném đá (x. Đnl 22,20-21). Tuy nhiên, trong thực hành Do Thái sau này, có một cách giải thích ôn hòa hơn. Theo cách này, người phụ nữ sẽ bị ruồng bỏ cùng với các hậu quả dân sự và hình sự, nhưng không bị ném đá.
Công chính: tuân giữ luật và bảo vệ Đức Mẹ
Tin Mừng nói rằng thánh Giuse “công chính” bởi vì ngài phải tuân theo luật pháp như bất kỳ người Israel ngoan đạo nào, nhưng trong lòng thánh Giuse, tình yêu dành cho Mẹ Maria và sự tin tưởng của ngài đối với Mẹ đã gợi lên cho ngài cách thức mà ngài vừa có thể tuân giữ lề luật vừa cứu lấy danh dự của vợ sắp cưới của mình. Đức Thánh Cha nhận xét rằng thánh Giuse quyết định từ bỏ Đức Mẹ cách kín đáo, không gây ồn ào, không khiến Mẹ phải chịu sự sỉ nhục trước công chúng. Ngài đã chọn con đường bảo mật, không đưa ra toà hay đòi bồi thường. Thánh Giuse thật thánh thiện dường nào! Ngược với chúng ta, khi vừa có một chút tin đồn, một chút tin xấu về người khác, chúng ta bắt đầu đi bàn tán đưa chuyện. Còn thánh Giuse thì im lặng!
Sự trợ giúp của Thiên Chúa
Thánh sử Mátthêu nói thêm: “Nhưng khi ông đang toan tính như vậy, thì kìa sứ thần Chúa hiện đến báo mộng cho ông rằng: ‘Này ông Giuse, con cháu Đavít, đừng ngại đón bà Maria vợ ông về, vì người con bà cưu mang là do quyền năng Chúa Thánh Thần. Bà sẽ sinh con trai và ông phải đặt tên cho con trẻ là Giêsu, vì chính Người sẽ cứu dân Người khỏi tội lỗi của họ’” (1,20-21). Tiếng của Thiên Chúa can thiệp vào sự phân định của thánh Giuse. Trong một giấc mơ, Thiên Chúa tiết lộ một ý nghĩa quan trọng hơn sự công chính của thánh nhân. Đức Thánh Cha nhận định: Điều quan trọng đối với mỗi người chúng ta là vun đắp một cuộc sống công chính, đồng thời, luôn cảm thấy cần sự giúp đỡ của Thiên Chúa để mở rộng tầm nhìn của chúng ta và xem xét các hoàn cảnh của cuộc sống từ một quan điểm luôn khác và rộng lớn hơn.
Sự quan phòng của Chúa
Tiếp tục bài giáo lý Đức Thánh Cha nhận xét rằng, nhiều lần, chúng ta cảm thấy bị giam cầm bởi những gì đã xảy ra với chúng ta: “Hãy xem những gì xảy đến với tôi!” và chúng ta bị cầm tù bởi những điều tồi tệ xảy ra với mình; nhưng chính trong một số hoàn cảnh trong cuộc sống mà thoạt đầu có vẻ là bi kịch, một sự Quan Phòng được dấu ẩn sẽ được bày tỏ theo thời gian và soi sáng cho thấy ý nghĩa, ngay cả của nỗi đau đã làm chúng ta thương tổn. Cám dỗ là sự đóng kín trong nỗi đau đó, trong suy nghĩ về những điều không tốt đã xảy ra với chúng ta. Và điều này là không tốt. Điều này dẫn bạn đến nỗi buồn và sự cay đắng. Trái tim cay đắng là điều tồi tệ.
Mẹ Maria và thánh Giuse mở lòng đón nhận kế hoạch của Thiên Chúa
Đức Thánh Cha cũng suy ngẫm về một chi tiết của câu chuyện được kể lại trong Tin Mừng nhưng thường bị bỏ qua. Mẹ Maria và thánh Giuse đã đính hôn với nhau. Họ có lẽ đã nuôi dưỡng những ước mơ và kỳ vọng về cuộc sống và tương lai của họ. Thật bất ngờ, Thiên Chúa dường như đã chen mình vào cuộc sống của họ và, ngay cả khi ban đầu điều đó gây khó khăn cho họ, cả hai đều mở rộng trái tim mình với thực tế được đặt trước mặt họ.
Từ lý luận của “ngày mới yêu” sang lý luận của “tình yêu trưởng thành
Và Đức Thánh Cha nhắn nhủ: Anh chị em thân mến, cuộc sống của chúng ta thường không giống như những gì chúng ta tưởng tượng. Đặc biệt là trong các mối quan hệ yêu đương tình cảm, khó có thể chuyển từ logic của “khi bắt đầu yêu” sang logic của “một tình yêu trưởng thành”. Giai đoạn đầu tiên luôn được đánh dấu bởi một sự say mê nào đó khiến chúng ta sống chìm đắm trong những tưởng tượng thường không dựa trên thực tế và các sự kiện. Nhưng chính xác là khi tình trạng mới bắt đầu yêu và những mong đợi về nó dường như kết thúc, thì đó là nơi tình yêu thực sự bắt đầu. Trên thực tế, yêu không phải là nghĩ rằng người kia, hay cuộc sống, tương ứng với sự tưởng tượng của chúng ta. Đúng hơn nó có nghĩa là hoàn toàn tự do lựa chọn để chịu trách nhiệm về cuộc sống như khi nó xảy đến với chúng ta. Đây là lý do tại sao thánh Giuse dạy cho chúng ta một bài học quan trọng. Ngài chọn Mẹ Maria với “đôi mắt mở to”. Sự liều lĩnh của thánh Giuse dạy chúng ta một bài học: đón nhận sự sống như nó là. Thánh Giuse làm như lời thiên thần Chúa truyền: “Khi tỉnh giấc, ông Giuse làm như sứ thần Chúa dạy và đón vợ về nhà…” (Mt 1,24-25).
Đức Thánh Cha đặc biệt nhấn mạnh: Các cặp đôi Kitô giáo đã đính hôn được kêu gọi để làm chứng cho một tình yêu như thế; một tình yêu có can đảm để chuyển từ logic của ngày mới yêu sang logic của tình yêu trưởng thành. Đây là một sự lựa chọn khắt khe mà thay vì giam cầm cuộc sống, nó có thể củng cố tình yêu để tình yêu bền vững khi đối mặt với thử thách của thời gian.
Lời khuyên cho các đôi vợ chồng: hãy làm hoà với nhau trước khi đi ngủ
Theo Đức Thánh Cha, tình yêu của một cặp đôi phát triển trong cuộc sống và trưởng thành mỗi ngày. Tình yêu thời hứa hôn hơi lãng mạn, nhưng rồi nó bắt đầu trưởng thành mỗi ngày, với công việc, với con cái chào đời. Đôi khi sự lãng mạn mất đi một chút, nhưng tình yêu trưởng thành. Việc cãi nhau giữa vợ chồng là cơm bánh hàng ngày, đôi khi chén dĩa cũng bay. Nhưng làm thế nào để điều này không tổn hại đến cuộc sống hôn nhân? Ngài nhắn nhủ: đừng bao giờ kết thúc một ngày mà không làm hoà. Bởi vì chiến tranh lạnh của ngày hôm sau rất là nguy hiểm. Đừng để ngày hôm sau bắt đầu trong chiến tranh. Vì thế hãy làm hoà trước khi đi ngủ. Điều này sẽ giúp các bạn trong đời sống hôn nhân.
Cầu nguyện với thánh Giuse
Và Đức Thánh Cha kết thúc bài giáo lý bằng kinh nguyện với thánh Giuse.
Lạy thánh Giuse,
Ngài đã yêu thương Mẹ Maria cách tự do,
và đã chọn từ bỏ sự tưởng tượng của mình để dành chỗ cho thực tế,
xin giúp mỗi người chúng con để cho mình được Thiên Chúa làm ngạc nhiên
và đón nhận cuộc sống không phải như một điều bất ngờ mà mình cần phòng thủ,
nhưng như một mầu nhiệm dấu ẩn bí quyết của niềm vui thực sự.
Xin ban cho tất cả các đôi bạn Kitô hữu đã đính hôn niềm vui và sự phấn khích,
trong khi luôn nhận thức rằng chỉ có lòng thương xót và tha thứ mới làm cho tình yêu trở nên có thể. Amen.
Hồng Thủy
2021
Cựu thuyền nhân trở thành Tổng giám mục Tirana, thủ đô Albani
Cựu thuyền nhân trở thành Tổng giám mục Tirana, thủ đô Albani
Một cựu thuyền nhân đã được Đức Thánh cha Phanxicô bổ nhiệm làm Tổng giám mục giáo phận Tirana-Durazzo, bên Albani hôm 30 tháng Mười Một vừa qua.
Đức cha Arjan Dodaj | Vatican News
Đó là Đức cha Arjan Dodaj 44 tuổi, kế nhiệm Đức Tổng giám mục George Anthony Frendo, 75 tuổi, thuộc dòng Đa Minh người Malta, về hưu.
Năm 1993, Arjan Dodaj, 16 tuổi đã vượt biên từ Albani sang Ý. Anh cho biết đã đặt nhiều hy vọng nơi Âu châu, các giá trị tự do, sự thật, bình đẳng và tình huynh đệ. Và sau đó anh mới biết đó là những giá trị Kitô. Trong chế độ cộng sản Albani, những người mang hy vọng và bênh vực các quyền con người bị loại trừ, nhất là các giáo sĩ.
Chế độ này, hồi năm 1967, đã tuyên bố Albani là quốc gia vô thần đầu tiên. Cho đến năm 1990, những ai thực hành tôn giáo đều bị bắt và cầm tù, lao động khổ sai hoặc bị kết án tử hình. Sau khi chế độ cộng sản sụp đổ, các cơ cấu của tôn giáo dần dần được tái thiết.
Tại Ý, anh Dodaj làm nghề thợ hàn và làm vườn mỗi ngày hơn mười tiếng đồng hồ. Anh được tiếp xúc lần đầu tiên với đức tin Kitô, nên đã xin rửa tội và nảy sinh ước muốn làm linh mục. Anh học triết và thần học và thụ phong linh mục, do Đức Giáo hoàng Gioan Phaolô II phong chức, trong Huynh đoàn Linh mục nam tử Thánh Giá (Fraternità Sacerdotale dei Figli della Croce), cộng đoàn Nhà Đức Maria ở Roma. Năm 2017, cha Dodaj trở về quê hương như linh mục “Hồng ân đức tin” (Fidei Donum) và chỉ ba năm sau được Đức Thánh cha Phanxicô bổ nhiệm làm Giám mục Phụ tá Tổng giáo phận Tirana-Durazzo.
Trong cuộc viếng thăm mới đây tại Vienne và trả lời phỏng vấn của hãng tin Kathpress, Đức cha Dodaj cho biết trường hợp những người Albani tìm được đức tin Kitô như bản thân ngài, không phải là điều họa hiếm. Tại Albani ngày nay có nhiều người lớn xin trở lại. Ví dụ, tại Nhà thờ chính tòa Tirana, năm nay vào dịp vọng Phục sinh, có 60 người được rửa tội. Giáo hội Công giáo tăng trưởng nhanh tại Albani và đức tin rất sinh động. Nhiều người Albani di cư ra nước ngoài, đã học được nhiều khả năng và sau đó, khi hồi hương, họ đã góp phần kiến đạo các điều kiện sinh sống tốt đẹp hơn và họ trở thành những người mang hy vọng”.
Tổng giáo phận Tirana có gần 140.000 tín hữu Công giáo trên tổng số một triệu 250.000 dân cư, với 19 giáo xứ và chỉ có 5 linh mục giáo phận và 31 linh mục dòng.
(KAP 30-11-2021)
- Trần Đức Anh, O.P.
2021
Đức Tổng giám mục Ganswein phê bình con đường Công nghị của Công giáo Đức
Đức Tổng giám mục Ganswein phê bình con đường Công nghị của Công giáo Đức
Đức Tổng giám mục Georg Gänswein, bí thư riêng của Đức nguyên Giáo hoàng Biển Đức XVI, phê bình con đường Công nghị của Công giáo Đức đang tiến hành từ hai năm nay, với mục đích cải tổ sâu rộng Giáo hội tại nước này, sau những vụ giáo sĩ lạm dụng tính dục trẻ vị thành niên trong những thập niên trước đây.
Đức Tổng giám mục Georg Gänswein | Vatican News
Con đường này là một tiến trình do Hội đồng Giám mục và Ủy ban trung ương giáo dân Công giáo Đức đề xướng nhắm cải tổ Giáo hội trong bốn lãnh vực thực thi quyền bính trong Giáo hội, cụ thể là dân chủ hóa; vai trò của phụ nữ trong Giáo hội, trong đó có việc cho phụ nữ chịu thánh chức, cải tổ luân lý tính dục của Giáo hội cho hợp thời và sau cùng là thay đổi luật độc thân giáo sĩ. Khóa họp toàn thể của Công nghị có 230 đại biểu, đa số là giáo dân.
Trong cuộc phỏng vấn dành cho “Tạp chí Vatican” (Vatican-Magazin), số ra tháng Mười Hai này, Đức Tổng giám mục Gänswein nói: “Đức cha Vorderholzer, Giám mục giáo phận Regensburg, có lý khi nói về Con đường Công nghị tại Đức là một sự “lạm dụng những vụ lạm dụng”. Tiến trình này muốn tạo nên những cải tổ trong nội bộ Giáo hội, đưa Giáo hội Công giáo tại Đức ra khỏi sự hiệp thông với Cộng đoàn Giáo hội hoàn vũ. Nếu không có sự thức tỉnh trước, thì dân chúng sẽ bị thất vọng lớn”. Hoặc các giám mục Đức phải chấm dứt sớm những đòi hỏi không thực tế, hoặc Roma phải chấm dứt. Và điều này chẳng có lợi cho Giáo hội tại Đức cũng như cho Giáo hội hoàn vũ”.
Đức Tổng giám mục Gänswein cũng tự hỏi: Con đường Công nghị của Công giáo Đức có mang lại điều gì cho đức tin của nhiều tín hữu đơn sơ hay không. Cho đến nay người ta ít nghe nói về những điều tích liên quan đến sự đào sâu và canh tân đức tin từ phía Giáo hội cơ chế với những hiệp hội Công giáo tại nước này. Thay vào đó, trong các Diễn đàn của Con đường Công nghị, có nhiều người tích cực hoạt động chính trị, họ xuất thân từ Giáo hội Công giáo nhưng nói chung họ có một cái nhìn hoàn toàn khác hẳn về các vấn đề thần học chủ yếu của Giáo hội, theo huấn quyền của Hội thánh, và nhiều lần họ lên tiếng trong dư luận.
(KNA 1-12-2021)
- Trần Đức Anh, O.P.
2021
NHIỆT TÂM LOAN BÁO TIN MỪNG
03 29 Tr Thứ Sáu Tuần I Mùa Vọng.
THÁNH PHAN-XI-CÔ XA-VI-Ê, LINH MỤC, QUAN THẦY CÁC XỨ TRUYỀN GIÁO, lễ kính.
Mc 16, 15-20
NHIỆT TÂM LOAN BÁO TIN MỪNG
Phanxicô ra đời tại lâu đài Xaviê thuộc vương quốc Navarre ngày 7 tháng 4 năm 1506. Cha Ngài là cố vấn của nhà vua miền Navarre và là thẩm phán. Anh em Ngài theo binh nghiệp. Riêng Phanxicô ham thích học hành. Năm 19 tuổi, Ngài theo học tại đại học Paris, trường lớn nhất thế giới. Khi còn ở học viện thánh Barbe, Ngài được phúc trọ cùng phòng với Phêrô Favre, người sau này sẽ nhập dòng Tên và được tuyên thánh trong thời gian gần đây theo thể thức “tuyên thánh tương đương”. Bốn năm sau, Ngài lại có được người bạn học giả là Inhaxiô thành Loyola.
Người học trò mẫn cán đã trở thành giáo sư. Ngài dạy triết học. Thành công làm cho Ngài thành con người tham vọng. Inhaxiô nói với Ngài về một hội dòng mà thánh nhân muốn thành lập. Nhưng Phanxicô mơ tới danh vọng, Ngài chế nhạo cũng như khinh bỉ nếu sống nghèo tự nguyện của bạn mình. Inhaxiô vui vẻ đón nhận những lời châm biếm, nhưng lặp lại rằng: – “Lời lãi cả thế gian mà mất linh hồn nào ích lợi gì.”
Cuối cùng, Phanxicô đã bị ảnh hưởng. Inhaxiô còn đưa ra những lời cao đẹp hơn: – “Một tâm hồn cao cả như anh, không hề chỉ gò bó với cái vinh dự thế trần được. Vinh quang trên trời mới đúng với cao vọng của anh. Thật vô lý, khi ưa chuộng một thứ mây khói chóng tàn hơn là những của cải tồn tại đời đời”.
Phanxicô bắt đầu thấy được cái hư không của những sự cao trọng của thế nhân và hướng vọng tới của cải vĩnh cửu. Chiến thắng rồi, Ngài chống lại tính kiêu căng bằng mọi loại sám hối. Ngài quyết định theo sát Phúc âm, vâng theo cách cư xử của người bạn thánh thiện và xin được khiêm tốn hãm nình. Ngài chỉ còn chú tâm cứu rỗi các linh hồn.
Phanxicô trở lại Ấn Độ. Ngài đã rảo qua gần 100.000 cây số trong 10 năm. Bấy giờ, việc chinh phục Trung hoa ám ảnh tâm hồn Ngài. Ngài đáp tàu, nhưng không bao giờ tới được quốc gia rộng lớn này. Vào cuối tháng 11 năm 1552, trên đảo Hoàng Châu, Ngài bị lên cơn sốt rét. Giữa cơn đau, Ngài đã lập lại: – Lạy Chúa Giêsu, con vua David, xin thương xót con, xin thương đến các tội con.
Ngài dứt tiếng và không nhận ra được các bạn hữu nữa. Khi hồi tỉnh, Ngài lại kêu cầu Chúa Ba Ngôi, Chúa Giêsu và nài xin Đức Mẹ: “Lạy Đức Trinh Nữ, Mẹ Thiên Chúa, xin hãy nhớ đến con”.
Một người Trung Hoa thấy Ngài hấp hối thì đặt vào tay Ngài một cây nến. Phanxicô qua đời ngày 03 tháng 12 năm 1552. Ít tuần sau, người ta tìm thấy xác Ngài vẫn nguyên vẹn và chở về Goa. Dân chúng tại đây nhiệt tình tôn kính Ngài, vì đã coi Ngài như một vị thánh.
Năm 1619, Đức Phaolô V đã suy tôn ngài lên bậc chân phước. Năm 1622, Đức Grêgôriô XV suy tôn lên bậc hiển thánh, tuyên thánh cùng với thánh Inhaxiô và đặt làm bổn mạng các xứ truyền giáo.
Chúa Giêsu, Đấng cứu độ và khai sinh Hội Thánh, Đấng yêu thương chúng ta vô cùng, trước khi về trời Ngài cũng để lại cho Giáo Hội và cho chúng ta, cho cả nhân loại một kho tàng quý báu lớn lao, đó là lời chân lý, lời hằng sống, lời ban sự sống đời đời, các bí tích, nhất là bí tích Thánh Thể, và lời trối trăn rất quý báu và quan trọng là “chúng con hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương chúng con”. “Thầy đã rửa chân cho chúng con, thì chúng con cũng hãy rửa chân cho nhau”. Giáo Hội rất trân trọng quý mến, bảo vệ và rao giảng để cho kho tàng và lời trối trăn của Chúa được mọi người đón nhận, thi hành để đạt được ơn cứu độ như Đức Kitô mong muốn.
Việc Chúa Giêsu phục sinh và lên trời không chấm dứt việc phổ biến Tin Mừng, nhưng Tin Mừng được các tông đồ tiếp nối Chúa Giêsu đi khắp thế gian công bố cho mọi loài thọ tạo (Mc 16, 15; 13, 10; 14,9). Đó là công tác tông đồ và truyền giáo của toàn thể Hội Thánh thực hiện cách kiên trì bền bỉ trải qua mọi thời đại, và cho đến muôn đời. Như vậy, biến cố thăng thiên kết thúc sứ vụ của Chúa Giêsu ở trần thế, và khởi đầu sứ vụ của các tông đồ “Anh em hãy đi khắp tứ phương thiên hạ, loan báo Tin Mừng cho mọi loài thọ tạo. Ai tin và chịu phép rửa sẽ được cứu độ, ai không tin sẽ bị kết án”.
Chúa Giêsu xuống thế làm người, đòi buộc con người một sự chọn lựa. Không ai có thể có sự sống siêu nhiên mà không nhờ Chúa Giêsu, Giáo Hội chỉ truyền đạt sự sống này qua các bí tích, trước hết là bí tích Thánh tẩy, vì Đức Kitô là Đấng cứu độ duy nhất chứ không như người Do Thái lầm tưởng là ơn cứu độ nhờ lề luật. Các tông đồ ra đi rao giảng tin mừng, làm chứng về Đức Giêsu Kitô và có Chúa cùng hoạt động với các tông đồ như Ngài đã hứa: “Thầy sẽ ở với chúng con mọi ngày cho đến tận thế”, và dùng những dấu lạ kèm theo để xác nhận lời họ rao giảng. Chúa Giêsu kể ra một loạt dấu lạ: họ sẽ trừ được quỷ, nói được tiếng lạ và chữa nhiều bệnh nhân. Chúa ban cho họ có quyền năng trên rắn rết, bò cạp và nếu có uống nhằm thuộc độc cũng chẳng sao, chẳng có gì làm hại được họ ( Mc 15, 17; Lc 10, 19 ).
Không những Chúa ban cho các tông đồ các dấu lạ ấy, mà còn cho những người có lòng tin vào danh Ngài và nối tiếp về sau sứ vụ của các tông đồ nữa. Các dấu lạ ấy còn chỉ rõ cho chúng ta biết là chúng ta đang sống trong triều đại của Đức Messia, là thời đại của ơn cứu độ.
Sau khi Chúa Giêsu mời gọi các tông đồ tiếp tục sứ mạng truyền giáo, loan báo Tin Mừng cho muôn dân muôn nước, Chúa Giêsu được đưa lên trời trước mặt các ông cách hữu hình, như Ngài đã nói với các thành viên trong Thượng Hội Đồng “rồi các ông sẽ thấy Con Người ngự bên hữu Đấng toàn năng” ( Mc 14, 62 ). Biến cố thăng thiên không phải là một cuộc ra đi của Chúa Giêsu, nhưng là khai mạc một cách thế hiện diện mới mẻ của Ngài, hiện diện vô hình và không còn bị giới hạn bởi không gian và thời gian nữa.
Lời Tin Mừng hôm nay nhắc đến biến cố về trời của Đức Giêsu để tôn vinh Ngài đã hoàn thành công trình cứu độ, suy tôn Ngài là Chúa, là chủ tể mọi trong mọi trong hoàn vũ. Chúa Giêsu còn được tôn vinh bằng hình ảnh ngự bên hữu Thiên Chúa Cha, Ngài có tất cả vinh quang danh dự nơi Thiên Chúa Cha, Ngài dự phần vào quyền năng của Thiên Chúa Cha như Ngài đã nói với các tông đồ trong bữa tiệc ly về việc “Ngài ra đi khỏi thế gian mà về cùng Cha Ngài”, và trong lời cầu nguyện của Ngài gợi lên cuộc tôn vinh của Ngài “vậy lạy Cha, giờ đây, xin Cha tôn vinh Con bên Cha, xin ban cho Con vinh quang mà Con được hưởng bên Cha trước khi có thế gian” ( Ga 17, 5 ). Chính việc biến hình trên núi Tabor là một hình thức thăng thiên vô hình, và tiên báo vinh quang mà Chúa Giêsu ‘Con Thiên Chúa Làm Người’ sẽ được nhận lại nơi Cha.
Mừng lễ kính Thánh Phanxicô Xaviê hôm nay, chúng ta mang tâm tình kính phục Ngài có một tấm lòng hăng say phục vụ Hội Thánh. Chúng ta cảm tạ Ngài đã để lại cho chúng ta kho tàng lòng nhiệt thành loan Tin Mừng. Chúng ta cũng ngưỡng mộ Ngài là một mẫu gương nhiệt thành đi theo Chúa Giêsu, và nhiệt thành rao giảng Tin Mừng. Noi gương Thánh Phanxicô Xaviê, chúng ta tích cực cộng tác với Giáo Hội trong mọi công tác tông đồ truyền giáo. Chúng ta luôn ý thức trách nhiệm rao giảng Tin Mừng cho anh chị em mình, vì chúng ta là những Kitô hữu, là thành phần của Hội Thánh.
Trong khi rao giảng Tin Mừng chúng ta cũng cần có các dấu lạ để minh chứng lời chúng ta rao giảng, như các tông đồ đã làm xưa là sống một cuộc sống huynh đệ thân thương, nhẹ nhàng nhân ái với mọi người, hiền lành dịu ngọt, xả kỷ lo cho nhu cầu quyền lợi của người khác, hăng say, can đảm chấp nhận gian khổ, những dấu lạ ấy cũng là những lời chứng hùng hồn về Chúa Giêsu về Ngài là Con Thiên Chúa, Ngài là Tình Yêu. Chúng ta cũng noi gương các tông đồ từ bỏ con người cũ và sống con người mới tốt hơn.
