2021
Đức Hồng y Muller: Chỉ có nam giới có thể làm linh mục
Đức Hồng y Muller: Chỉ có nam giới có thể làm linh mục
Đức Hồng y Gerhard Müller, người Đức, nguyên Tổng trưởng Bộ Giáo lý đức tin, tái khẳng định rằng trong Giáo hội Công giáo chỉ có người nam mới có thể trở thành linh mục: “Điều gì đã được xác định và bó buộc trên nguyên tắc, không thể bị tương đối hóa sau đó”.
Đức Hồng y Müller đã trình bày lập trường trên đây trong cuộc phỏng vấn dành cho tờ “Frankfurt toàn báo” (Frankfurter Allegemeine Sonntagszeitung), số ra Chúa nhật, 19 tháng Mười Hai vừa qua, tại Đức. Ngài nói: “Chỉ có người nam mới có thể lãnh nhận bí tích truyền chức linh mục. Điều này tham chiếu Chúa Kitô. Đàng khác, dĩ nhiên các chức vụ khác do Giáo hội thành lập, đều có thể dành cho nam giới hay nữ giới đồng đều. Có những phụ nữ làm giáo lý viên, giáo sư thần học hoặc giữ các chức vụ cao khác, ví dụ trong tổ chức Caritas hoặc trong ngành hành chánh của Giáo hội”.
Tờ “Frankfurt toàn báo” phỏng vấn Đức Hồng y Müller, trong bối cảnh tại Đức đang có trào lưu đòi Giáo hội phải truyền chức linh mục cho phụ nữ và điều này cũng nằm trong các mục tiêu của “Con đường công nghị” đang tiến hành tại Đức, với mục đích cải tổ Giáo hội.
Đức Hồng y Müller nhắc lại rằng Giáo hội không phải là một tổ chức thế tục do con người lập ra. “Chương trình của Giáo hội không thể thay đổi. Có nhiều phụ nữ nổi bật trong Giáo hội, trên hết là Đức Mẹ Maria, Mẹ Chúa Giêsu. Sau Chúa Giêsu, Đức Mẹ là nhân vật quan trọng nhất trong lịch sử cứu độ và trong tư cách phụ nữ, Đức Mẹ là mẫu mực của Giáo hội… Vì thế, không có vấn đề kỳ thị 700 triệu phụ nữ Công giáo”.
Đức Hồng y Müller nhìn nhận rằng có hàng ngàn văn bản trong hơn hai ngàn năm lịch sử Giáo hội viết về phụ nữ và vai trò của họ, nhưng cần cẩn thận phân biệt xem các văn bản đó có diễn tả đức tin được mạc khải, hay chỉ là những nhận định cá nhân, vốn không có tính chất bó buộc. “Đạo lý đức tin mạc khải không thể bị giải thích một cách độc đoán. Người nam không được ưu đãi trong Giáo hội và sự liên tục trong giáo huấn của Giáo hội không thể bị thu hẹp vào những điều cụ thể”.
Trả lời câu hỏi liệu Đức Giáo hoàng hay Công đồng chung có thể quyết định truyền chức linh mục cho nữ giới hay không, Đức Hồng y Müller đáp: “Đức Thánh cha Gioan Phaolô II đã xác quyết chung kết rằng Giáo hội không có quyền truyền chức linh mục cho phụ nữ. Đó là một đường lối ăn sâu trong cơ chế thần linh của Giáo hội. Trong một số vấn đề, Giáo hội quyết định cải tổ, nhưng chỉ có thể làm trong những gì liên quan đến trật tự của Giáo hội thay đổi. Đàng khác, chân lý mạc khải là điều vượt quá quyền hạn của Đức Giáo hoàng và Công đồng chung. Đây không phải là vấn đề chọn lựa”.
Về câu hỏi liệu phụ nữ có được chịu chức phó tế hay không, Đức Hồng y Müller, cũng là thành viên Tối cao pháp viện của Tòa Thánh, nói rằng: “có thể hay không, điều này không tùy thuộc vào ai hoặc có bao nhiêu người ủng hộ vấn đề này, nhưng tùy thuộc cơ quan của Giáo hội thẩm định các dữ kiện tín lý và lịch sử. Đây cũng là một vấn đề làm thế nào thẩm định về đạo lý và Kinh thánh, liên quan đến giáo vụ nữ phó tế vốn đã có từ thế kỷ thứ III”.
Đức Hồng y nhấn mạnh rằng Giáo hội có thể tái lập giáo vụ phó tế (diaconesse), nhưng sự đơn nhất của bí tích truyền chức thánh chống lại việc này, vì chức thánh dành cho nam giới, và thực tế các “chức nhỏ” đã bị Đức Giáo hoàng Phaolô VI bãi bỏ. Tuy nhiên, ngày nay mỗi nhân viên mục vụ có những trách vụ được khai triển nhiều hơn bất kỳ nhiệm vụ nữ phó tế nào trong thời thượng cổ”.
(Kai 20-12-2021)
- Trần Đức Anh, O.P.
2021
Bộ Phụng tự trả lời mười một nghi vấn về Tự sắc “Traditionis Custodes”
Bộ Phụng tự trả lời mười một nghi vấn về Tự sắc “Traditionis Custodes”
Hôm 18 tháng Mười Hai vừa qua, Bộ Phụng tự và kỷ luật bí tích đã công bố câu trả lời cho mười một nghi vấn được nêu lên, liên quan đến Tự sắc Traditionis Custodes, những người gìn giữ Truyền thống, xác nhận việc giới hạn việc làm lễ bằng tiếng Latinh theo nghi thức tiền Công đồng Vatican II, do Đức Thánh cha Gioan XXIII ban hành hồi năm 1962.
Bản giải đáp mang chữ ký của Đức Tổng giám mục Arthur Roche, Tổng trưởng Bộ Phụng tự và kỷ luật bích, nhưng đã được Đức Thánh cha Phanxicô phê chuẩn trước đó. Nói chung, các giải đáp này siết chặt và giải thích ngặt hơn những qui định Đức Thánh cha đưa ra trong tự sắc.
Trong số các giải đáp có qui định rằng tại nơi nào còn được phép cử hành thánh lễ tiếng Latinh theo nghi thức cũ thì các bài đọc phải dùng tiếng địa phương. Những linh mục mới chịu chức gần đây phải được phép rõ ràng của Đức Thánh cha mới có thể cử hành thánh lễ theo nghi thức cũ; khuyên các giám mục chỉ cho phép cử hành thánh lễ theo nghi thức cũ một cách nhất thời; trong trường hợp vắng mặt linh mục được phép cửa hành lễ nghi thức cũ thì linh mục thay thế phải được phép chính thức; cần có phép của Đức giám mục giáo phận để truyền chức phó tế và trao các tác vụ đã được Giáo hội thiết định; phép cử hành thánh lễ theo nghi thức cũ đối với linh mục giáo phận thì chỉ có giá trị trong giáo phận đó. Không được cử hành lễ cũ trong các nhà thờ giáo xứ và thánh lễ này không thuộc đời sống hằng ngày của giáo xứ.
Trong thư gửi các giám mục trên thế giới, kèm theo bản trả lời thắc mắc, Đức Tổng giám mục Roche viết rằng: “thật là buồn khi thấy mối liên hệ sâu xa nhất về sự hiệp nhất và tham gia Bánh Duy Nhất được bẻ ra là Thân Mình của Chúa dâng hiến để tất cả mọi người được trở nên một (Xc Ga 17,21) lại trở thành lý do để chia rẽ: bổn phận của các giám mục – cum Petro et sub Petro – cùng với Phêrô và dưới Phêrô, là giữ gìn tình hiệp thông, là điều kiện thiết yếu để có thể tham dự Bàn tiệc Thánh Thể, như thánh Phaolô tông đồ đã nhắc nhở. (Xc 1 Cr 11,17-34)”
Nhiều báo chí nhận xét rằng những giải đáp trên đây xiết chặt các qui luật đã được Đức Thánh cha ban hành trong Tự sắc “Những người bảo tồn truyền thống”.
(Vatican News 18-12-2021)
- Trần Đức Anh, O.P.
2021
Giáo hội Việt Nam liên tiếp có hai vị Giám mục trẻ nhất
Giáo hội Việt Nam liên tiếp có hai vị Giám mục trẻ nhất
Cho đến ngày 29 tháng 10 năm 2021, Đức Cha Phêrô Nguyễn Văn Viên-Giám quản Tông Tòa Hưng Hóa và phụ tá Giáo phận Vinh là vị giám mục trẻ nhất hàng giám mục Việt Nam. Đức Cha Phêrô sinh ngày 8 tháng 1 năm 1965. Ngài sẽ trọn 57 tuổi trong ít ngày tới. Đức Cha Phêrô đã giữ “danh hiệu” này kể từ khi được bổ nhiệm và tấn phong vào năm 2013.
Ngày 30 tháng 10 năm 2021, với việc Tòa Thánh bổ nhiệm Đức Cha Phó Bắc Ninh Giuse Đỗ Quang Khang, sinh ngày 7 tháng 10 năm 1965, Đức Cha tân cử trở thành vị giám mục trẻ nhất hàng giám mục Việt Nam. Đức Cha Giuse vừa được tấn phong tại Nhà thờ chính tòa Bắc Ninh ngày 14 tháng 12 năm 2021.
Bất ngờ, bốn ngày sau lễ tấn phong của “vị giám mục trẻ nhất Việt Nam”, Tòa Thánh loan tin bổ nhiệm Cha Đa Minh Hoàng Minh Tiến làm Giám mục chính tòa giáo phận Hưng Hóa. Đức Cha tân cử Đa Minh sinh ngày 7 tháng 1 năm 1969. Ngài sẽ tròn 53 tuổi vào tháng 1 sắp đến. Với thông tin mới này, Đức Cha Đa Minh Hoàng Văn Tiến hiện là vị giám mục trẻ tuổi nhất của hàng giám mục Việt Nam.
Như vậy, chỉ trong vòng gần 2 tháng, danh hiệu “Đức Cha trẻ tuổi nhất” liên tiếp bị “đổi chủ” hai lần. Với việc liên tiếp bổ nhiệm hai Đức Cha sau khoảng thời gian rất dài (3 năm 6 tháng) trước đó không có tân giám mục, đây là một tín hiệu rất đỗi vui mừng cho giáo hội Công giáo tại Việt Nam.
Chúng ta cùng cầu nguyện cho hai Đức Cha tân nhiệm tràn đầy Ơn Chúa để thi hành sứ vụ, cũng như cầu nguyện cho các giáo phận đang trong cảnh trống tòa khác đang trông chờ có vị Mục Tử mới.
GP.BẮC NINH: Thánh lễ tấn phong Giám mục Giuse Đỗ Quang Khang (conggiao.info)
2021
Sinh Nhật Của Gioan Tẩy Giả
23 20 Tm Thứ Năm Tuần IV Mùa Vọng.
(Tr) Thánh Gio-an thành Ken-ty (Kęty), Linh mục.
Lc 1, 57-66
Sinh Nhật Của Gioan Tẩy Giả
Chúng ta biết đến thánh Gioan Kenty như là một con người thánh thiện và học thức, Ngài vừa là một giáo sư đại học lừng danh, vừa là một ân nhân của người nghèo.
Có một truyền thuyết rất đẹp về lòng bác ái của thánh nhân. Một người nghèo ăn xin ở cửa phòng ăn. Mỗi người có đúng phần mình, nhưng Gioan đã lấy trọn phần mình cho người bất hạnh. Từ đó, phần của người ăn xin được dành riêng. Công thức “người nghèo đến” được đáp ứng lại bằng “Chúa Kitô đến”. Gioan Kenty còn đưa chính áo choàng của mình cho người bị lạnh lẽo.
Là bậc thầy về đức ái, Ngài cũng rất vui tươi. Một lần, được những người quí phái mời, Ngài đến với y phục rất khiêm tốn của mình và bị đầy tớ chủ nhà xua đuổi. Thay bộ đồ khiêm tốn ấy đi Ngài được mời vào tiệc. Chẳng may, một người giúp việc vụng về làm rớt đồ ăn vào đó. Ngài nói : – “Này, chính nhờ bộ áo mà tôi được ở đây, thế là nó cũng được quyền nếm nước chấm nữa”.
Tinh thần và bác ái đi đôi quá chân thật có một không hai. Ngày kia, khi đi Roma, Ngài bị bọn cướp bóc lột, Ngài nói với họ là không còn gì nữa. Nhưng sau đó Ngài thấy tiền trong áo kép. Ngài vội đuổi theo họ, thú nhận mình ăn cắp và đưa cho họ số tiền này. Lịch sử kể lại rằng, bon cướp đã hối cải ngay.
Kenty, quê hương của Gioan gần Cracovia, là nơi Ngài theo học và đạt bằng tiến sĩ triết học lẫn thần học, Ngài thụ phong linh mục. Giữ ghế tại đại học, Ngài nói tiếng Latinh và tiếng Balan.
Khi cần thiết, Ngài chỉ tranh luận trong tinh thần bác ái bao dung. Trả lời cho những nhục mạ của đối phương, Ngài chỉ biết nói: “Tạ ơn Chúa”. Để vượt qua mọi cực nhọc, thử thách, Ngài tự nhủ: “ráng lên”. Ngài thường nói với học trò của mình : – “Hãy lấy nhẫn nại, dịu dàng và tình yêu làm khí giới để chống lại những quan điểm sai lầm. Thô bạo chỉ hại cho linh hồn và làm hư chính nghĩa”.
Những ghen tương đố kỵ đã làm cho Ngài mất chức đại học và đẩy Ngài vào công việc nặng nhọc tại giáo xứ. Thời gian làm cha sở tại Gracôvia, Ngài đã tỏ ra có một đức bác ái vô bờ, nhưng đại học lại đòi Ngài phải trở về, Ngài lãnh trách nhiệm dạy kinh thánh và tôn giáo cho các công tử Balan. Ngài hành hương Giêrusalem và lắng nghe các lương dân. Khi qua đời vào tuổi rất thọ, sự thánh thiện của Ngài đã lừng khắp nơi Ngài đã đi qua. Thánh Gioan Kenty đã để lại lời kinh rất đẹp này.
“Xin hãy cho chúng con yêu Chúa trên hết mọi sự và yêu mọi người vì Chúa và làm đẹp lòng Chúa trong tâm hồn và trong hành động của chúng con”.
Nhiều người khóc thương Ngài và Ngài được kể như người làm nhiều phép lạ. Nhưng mãi tới năm 1767, Ngài mới được tuyên thánh.
Trong bài đọc của phần Phụng Vụ hôm nay, ngôn sứ Malakia đã tiên báo về một sứ giả có nhiệm vụ dọn đường cho vị Vua trên hết các vua đến thăm Ngài. Sứ giả ấy là Elia: “Này đây, Ta sai tiên tri Elia đến cùng các ngươi trước ngày trọng đại kinh khủng của Ta, người sẽ hoán cải lòng cha ông về lại với con cháu và lòng con cháu trở về cùng cha ông”. Về sau Chúa Giêsu sẽ tỏ lộ cho các môn đệ Ngài biết: “Elia chính là Gioan Tẩy Giả”, và trong bài Tin Mừng thánh sử Luca đã nói gì với sứ giả Gioan này?
Gio-an là một tên bình thường của người Do-thái. Tương tự như những tên Thiên Ân, Thiên Phúc của người Việt, tên Gio-an có nghĩa là ‘Thiên Chúa thi ân’ – ‘Gia vê có lòng tốt, từ bi, nhân từ, độ lượng’. Tuy nhiên, sự kiện khác thường trong việc đặt tên cho Gio-an là vì trong dòng tộc của hai ông bà không ai có tên như thế, mà theo tục lệ người ta sẽ lấy tên ông nội đặt cho đứa trẻ, nhưng vì Da-ca-ri-a đã cao niên và người ta cũng kính trọng ông nên người ta muốn lấy tên ông để đặt cho con, và điều gây ngạc nhiên ở đây là cả hai ông bà đều nhất trí “Tên cháu là Gio-an”. Tại sao? Bởi vì Gio-an chính là tên Chúa đặt cho, mà theo truyền thống Kinh Thánh thì Thiên Chúa đặt tên cho ai thì người ấy thuộc về Thiên Chúa – người được Thiên Chúa chọn.
Tên Gio-an nói lên con người và sứ mạng của ông; bởi chính bản thân Gio-an đã là một quà tặng mà Thiên Chúa ban cách chung cho nhân loại và cách riêng cho ‘đôi bạn già’ Za-ca-ria và Ê-i-sa-bét. Quả thật, Thiên Chúa đã tỏ lòng thương xót với những kẻ có lòng kính sợ người. Người biểu lộ lòng thương xót với Ê-li-sa-bét, giải thoát bà khỏi nỗi tủi nhục không con, vì theo quan niệm Do-thái, người phụ nữ không con là người vô phúc, không đẹp lòng Thiên Chúa, thì nay lòng dạ son sẻ của bà đã được Chúa chúc phúc để từ đây bà có thể ‘ngẩng mặt’ trước hàng xóm láng giềng.
Và cách đặc biệt, Gio-an là người đầu tiên (sau Đức Mẹ) được Chúa thi ân viếng thăm ban ơn cứu độ nên đã “nhảy lên vui sướng trong lòng mẹ” (Lc 1, 44). Gio-an có sứ mạng loan báo lòng thương xót Chúa thi ân cho gian trần, là đã ban chính con của người làm vị Cứu thế đến để giải thoát nhân loại khỏi xích xiềng và bóng đêm tội lỗi – Ông là vị tiền hô dọn đường cho Đấng Cứu tinh và rất xứng đáng với lời ngợi khen của Đức Giê-su: “Trong số phàm nhân đã lọt lòng mẹ, không có ai cao trọng hơn ông Gio-an” (Lc 7, 28).
Gio-an đã sống trọn vẹn và hoàn tất sứ mạng Thiên Chúa trao cho ông. Ông đóng vai trò của một ‘tiếng kêu’ để giúp nhân loại đón nhận Lời của Thiên Chúa. Ông mời gọi con người tỏ lòng sám hối, từ bỏ nếp sống tội lỗi cũ đầy những gian tham, mưu mô, gồ ghề, lươn lẹo để sống công bình, chính trực, bác ái, yêu thương (Lc 3, 4 – 14). Ông giới thiệu Đấng Mê-si-a cho con người và tự mình rút lui vào bóng tối; Ông đáp lại với những người đối chất và thắc mắc xem ông có phải là Đấng Mê-si-a hay không: “Có Đấng đến sau tôi nhưng trổi vượt hơn tôi, tôi không xứng đáng xách dép cho người” (Lc 3, 15 – 16)….
Mỗi người chúng ta đều có sứ mạng để hoàn thành trong cuộc đời. Cái tên đẹp chỉ có ý nghĩa khi người ta sống đẹp. Tên bạn là Bảo Ngọc ư? Bạn hãy sống sao cho tha nhân có thể cảm nghiệm bạn là viên ngọc quí. Bạn là Hương Lan ư? Bạn hãy sống sao để hương thơm đức độ được lan tỏa…. Ngày nay nếu theo dõi tin tức trên báo chí hay mạng truyền thông, chúng ta có thể thấy có những tội phạm hình sự có những tên rất hay, như tên giết người Thanh Bình, tên cướp Đức Độ…. Chắc hẳn khi đặt tên cho con cha mẹ không bao giờ muốn con mình trở nên những con người như thế. Tuy nhiên, mong ước vẫn là mong ước, nhưng nếu cha mẹ không quan tâm giáo dục con cái trở nên những con người tài đức mà chỉ nuông chiều quá độ, không biết dạy con sống theo lương tâm ngay chính hay thậm chí làm gương xấu cho con thì chính cha mẹ đã không hoàn thành sứ mạng của mình, đồng thời cũng không thể cho con mình một tương lai tốt đẹp được.
Chẳng khác gì người Việt Nam chúng ta, người Do Thái cũng sống tình bà con láng giềng rất thắm thiết. Nghe Elizabeth sinh hạ con trai, bà con láng giềng liền đến giúp đỡ và chia sẻ niềm vui cùng với gia đình Zacharia. Ðến ngày thứ tám, lúc làm lễ cắt bì và đặt tên cho con trẻ cũng có sự hiện diện của họ. Họ muốn lấy tên Zacharia mà đặt tên cho con trẻ chứ không phải là Gioan. Gioan hay Giokhanan tiếng Do Thái có nghĩa là “Thiên Chúa thương xót”.
Vì sự chào đời của Gioan là một biểu lộ lòng thương xót của Thiên Chúa, cách riêng cho Zacharia và Elizabeth, vì Thiên Chúa đã cất đi sự tủi nhục bấy lâu đè nặng trên người đàn bà son sẻ và cách chung cho toàn thể gia đình nhân loại. Vì hôm nay đã xuất hiện vị sứ giả để dọn đường cho vị Vua trên hết các vua đến thăm dân Ngài, một niềm vui mà đã mấy ngàn năm gia đình nhân loại ngóng chờ. Chắc chắn những người hiện diện đều biết chữ Gioan hay Giokhanan có nghĩa là “Thiên Chúa thương xót”.
Tuy nhiên, họ lại không hiểu được lòng thương xót của Thiên Chúa nên đã từ chối không chịu nhận tên Gioan cho con trẻ. Họ không hiểu vì tâm trí của họ đang bị ràng buộc bởi những suy nghĩ của trần thế, quá lệ thuộc vào các tập quán cổ xưa. Vì thế, họ không còn cảm nhận được giá trị của lòng thương xót Thiên Chúa ban xuống cho con trẻ và gia đình: “Không ai trong họ hàng bà có tên này”.
Con người cứ nhắm mắt đưa chân theo những vết xưa cũ ấy nên họ chẳng nhận ra được những thực tại trước mắt, không biểu lộ được ý nghĩa của công việc họ đang tham dự. Ðến chung vui vì Thiên Chúa đã xót thương, thế mà họ lại không chịu tuyên xưng lòng thương xót của Ngài.
Với Zacharia cũng thế, lý luận mang tính cách trần thế đã khiến ông không tin nhận lòng thương xót của Thiên Chúa đang được ban xuống cho gia đình ông. Vì thế mà ông đã phải lãnh nhận hình phạt là bị câm. Chỉ khi ông đã quyết định đặt tên cho con trẻ là Gioan, tức là khi ông tuyên xưng lòng thương xót của Thiên Chúa thì lúc đó ông mới được tha khỏi hình phạt, và cũng là lúc ông chúc tụng ngợi khen lòng thương xót của Thiên Chúa.
Thật thế, trong cuộc đời có lẽ không có gì làm buồn lòng con người cho bằng đi làm ơn mà chỉ được lãnh nhận thái độ lãnh đạm, thờ ơ và cũng chẳng có gì đáng trách cho bằng thái độ vô ơn. Nếu trong dân gian có những câu nói diễn tả lòng dạ ác độc như cầm thú thì về phương diện biết ơn, thú vật đôi lúc lại được xếp hạng trên con người: “Cứu vật vật trả ơn. Cứu nhân nhân trả oán”.
Trong những ngày cuối cùng của Mùa Vọng để chuẩn bị mừng kính mầu nhiệm Ngôi Hai xuống thế làm người, một mầu nhiệm diễn tả lòng thương xót vô biên của Thiên Chúa đối với gia đình nhân loại.
Ước mong rằng mỗi người trong chúng ta kiểm điểm lại tâm tình biết ơn của mình. Có thể chúng ta không cố tình quên ơn nhưng trong thực tế chúng ta lại sống như những người vô ơn. Tuy nhiên, như những người láng giềng của gia đình Zacharia, thì qua cách suy nghĩ trần tục, các thành kiến hẹp hòi, các thói quen ích kỷ đã vây phủ lấy chúng ta, làm cho chúng ta bị mờ tối nên chẳng nhận ra lòng thương xót của Thiên Chúa hằng bao bọc chúng ta cũng như tình thương của người anh em đang tặng ban cho chúng ta. Nhưng khi nhận ra lòng thương xót ấy thì chúng ta cũng như Zacharia là thốt lên lời chúc tụng và ngợi khen.
