2023
Đức Hồng Y Mario Grech nói về Thượng hội đồng: Chúng tôi không có chương trình nghị sự
Đức Hồng Y Mario Grech nói về Thượng hội đồng: Chúng tôi không có chương trình nghị sự
Đức Hồng y Mario Grech, Tổng thư ký của Thượng hội đồng trong buổi nói chuyện với Andreas Thonhauser, Giám đốc Văn phòng EWTN Roma, được phát sóng trên EWTN vào ngày 22. 5. 2023. (Hình: EWTN Vatican)
ĐỨC HỒNG Y MARIO GRECH NÓI VỀ THƯỢNG HỘI ĐỒNG:
CHÚNG TÔI KHÔNG CÓ CHƯƠNG TRÌNH NGHỊ SỰ
Andreas Thonhauser
Hôm 22.05.2023, Đức Hồng y Mario Grech, Tổng thư ký Thượng Hội Đồng Giám mục đã dành cho đài EWTN cuộc phỏng vấn độc quyền, xoay quanh những vấn đề về tiến trình Hiệp hành đang diễn ra trong Giáo hội. Dưới đây là nội dung cuộc phỏng vấn của Đức Hồng y:
Thưa Đức Hồng y, ngài chịu trách nhiệm trong việc tổ chức cuộc họp Thượng hội đồng vào tháng 10 tới đây. Thượng hội đồng không phải là điều gì xa lạ nhưng lần này là Thượng hội đồng về Hiệp hành. Theo quan điểm của Đức Hồng y, tại sao Giáo hội cần một Thượng hội đồng về tính Hiệp hành?
Đây là hai từ khác nhau, synod (Thượng hội đồng) và synodality (Hiệp hành tính). Có thể có Hiệp hành mà không có Thượng hội đồng. Nhưng không có Thượng hội đồng mà không có Hiệp hành.
Tôi không có ý chơi chữ. Điều có thể xảy ra là chúng ta có một Đại hội của Thượng hội đồng mà không có tinh thần Hiệp hành. Chúng ta có thể và cần phải trở thành một Giáo hội Hiệp hành hơn, ngay cả khi không có một Thượng hội đồng.
Thượng hội đồng là một thời điểm quan trọng trong đời sống Giáo hội. Trước đây, Thượng hội đồng là sự kiện chỉ có các giám mục tham gia. Đức Thánh Cha Phanxicô đã giới thiệu một chiều kích mới của trải nghiệm này liên quan đến tất cả dân Chúa.
Mọi người đều được mời để suy tư, cầu nguyện và góp phần nhằm giúp chúng ta trở thành một Giáo hội hơn. Suy cho cùng, khi chúng ta nói về tính Hiệp hành là chúng ta đang nói về chính Giáo hội.
Đức Hồng y có thể diễn tả một cách ngắn gọn làm sao để Giáo hội để trở nên Hiệp hành hơn?
Nói một cách đơn giản, một Giáo hội Hiệp hành là một Giáo hội tâm linh hơn. Như Đức Thánh Cha nhấn mạnh, có một cám dỗ là chúng ta biến Giáo hội thành một tổ chức phi chính phủ (NGO). Giáo hội là nhiệm thể của Chúa Kitô và linh hồn (anima) của Giáo hội là Chúa Thánh Thần.
Một Giáo hội Hiệp hành là một lời mời gọi dân Chúa đón nhận sự hiện diện của Chúa Thánh Thần, Đấng là nhân vật chính trong tiến trình Hiệp hành này. Chúa Thánh Thần là vị giữ vai trò chủ đạo của tiến trình này.
Đối với tôi, lời mời gọi tiến tới một Giáo hội Hiệp hành là một lời mời dành nhiều không gian hơn cho Chúa Thánh Thần. Thực ra, từ khóa trong tiến trình đơn giản này là sự phân định: Chúng ta có thể phân định điều mà Chúa Thánh Thần đang truyền đạt cho Giáo hội ngày nay như thế nào?
Một trong những phương pháp thực sự hiệu quả trong các Đại hội Châu lục là điều mà chúng ta gọi là cuộc đối thoại trong Thần Khí: Cuộc đối thoại tâm linh hay cuộc đối thoại hiệp hành.
Khi gặp gỡ để thảo luận và lắng nghe trong các phiên họp, vốn không thuần tuý là những phiên họp của con người. Chúng ta phải khẩn cầu Chúa Thánh Thần, chúng ta phải lắng nghe Lời Chúa. Nếu không, Giáo hội sẽ là dự án của tôi, dự án của chúng ta, nhưng Giáo hội không phải là của chúng ta. Giáo Hội thuộc về Chúa Giêsu Kitô.
Đức Hồng y có thể giải thích lý do tại sao những người không phải là giám mục hiện đang được mời tham gia vào Đại hội của Thượng hội đồng Giám mục sẽ diễn ra vào tháng 10 tại Rôma không ạ?
Thượng hội đồng là một Hội đồng dành cho các giám mục và nó vẫn sẽ là một Hội đồng thuộc giám mục. Bản chất của Hội đồng sẽ không thay đổi. Nhưng qua việc lắng nghe dân Chúa, Đức Thánh Cha đã quyết định mời cả những người không phải là giám mục tham dự Thượng hội đồng.
Khi nói đến những người không phải là giám mục, chúng ta không chỉ muốn nói đến giáo dân mà còn cả linh mục, phó tế, những người tận hiến, tu sĩ và phó tế vĩnh viễn. Tổng số những người không phải giám mục là dưới 25%.
Tại sao là tỷ lệ phần trăm này? Chúng ta không muốn thay đổi bản chất của Hội đồng. Thượng hội đồng là một hội đồng của các giám mục. Sự hiện diện của những thành viên khác của dân Chúa diễn tả toàn thể dân Chúa, nhưng sự hiện diện của họ cũng là sự hiện diện để bảo đảm rằng tiến trình này được các giám mục tham gia Thượng hội đồng thừa nhận.
Dân Chúa đã tham gia tiến trình này ngay từ đầu thì giờ đây cũng tham gia vào giai đoạn cuối của tiến trình. Sự hiện diện của họ là ở đó. Các giám mục ở đó vì các ngài là những mục tử, và không có đàn chiên nào mà không có mục tử. Và không có mục tử nào mà không có đàn chiên.
Suy tư về Giáo hội Hiệp hành đã đưa ra những vấn đề nóng chẳng hạn như hôn nhân đồng tính, phá thai và phong chức cho phụ nữ. Thượng Hội đồng Giám mục về Hiệp hành cần giúp giải quyết những vấn đề này như thế nào?
Trong giai đoạn đầu của tiến trình tham vấn hoặc lắng nghe, nhiều vấn đề đã được nêu ra, như bạn vừa đề cập. Đây là lần đầu tiên mọi người có cơ hội để lên tiếng về những vấn đề này. Giáo hội đã lắng nghe nhu cầu của họ. Và tôi không ngạc nhiên khi một số vấn đề nóng giờ đây đã trở nên nổi bật. Nhưng có lần, tôi và Đức Hồng y Jean-Claude Hollerich, Tổng tường trình viên của Thượng hội đồng này, đã gửi một lá thư cho tất cả các giám mục, nhấn mạnh thực tế rằng chủ đề cụ thể của Thượng hội đồng lần này là về Giáo hội Hiệp hành.
Những vấn đề khác sẽ không bị loại bỏ nhưng chúng tôi tạm gác những vấn đề ấy lại vì chúng không phải là những vấn đề cần được giải quyết tại Đại hội của Thượng hội đồng này. Nếu đi sâu vào những vấn đề đó vào thời điểm đặc biệt này, chúng ta sẽ bỏ lỡ một cơ hội vàng, một khoảnh khắc ân sủng, một suy tư về làm sao chúng ta có thể thực sự giúp Giáo hội trở nên Hiệp hành hơn và tạo ra những không gian, nơi tất cả các thành phần dân Chúa, dưới sự lãnh đạo và hướng dẫn của các mục tử, có thể góp phần vào việc loan báo Tin Mừng.
Vì vậy, điều này cần được minh bạch và chúng tôi đã cố gắng để nói một cách rõ ràng. Một lần nữa, không phải là chúng ta đang bỏ qua một số vấn đề do dân Chúa nêu ra. Những vấn đề này cần được quan tâm. Nhưng tôi tin, và đây là niềm tin cá nhân của tôi, rằng một khi chúng ta trở nên Hiệp hành hơn, các nhà thần học trở nên Hiệp hành hơn, thì chúng ta sẽ ở vị thế tốt hơn để giải thích Tin Mừng cho dân Chúa, và cũng giải quyết một số vấn đề cụ nào đó.
Trong một cuộc họp báo, khi được hỏi liệu Đức Hồng y có lo rằng một số chương trình nghị sự sẽ thống lĩnh Thượng hội đồng không, Đức Hồng y đã nói rằng Đấng duy nhất có thể chiếm quyền điều khiển Thượng hội đồng là Chúa Thánh Thần.
Tôi thực sự tin rằng thời khắc ân sủng này sẽ giúp chúng ta trở nên tâm linh hơn, bởi vì những cơn gió của thế tục cũng có thể thổi vào Giáo hội và chúng ta phải lưu tâm tới. Chúng tôi không có chương trình nghị sự. Chương trình nghị sự đã được thiết lập sẵn, được thiết lập trong Tin Mừng, và được thiết lập do chính Chúa Giêsu Kitô. Chúng ta phải suy tư và lắng nghe Lời Chúa, dưới ánh sáng của Truyền thống, và của Huấn quyền.
Ngày nay chúng ta không bắt đầu một trang mới, như thể chưa có gì xảy ra trong quá khứ mà là luôn có một sự liên tục. Nhưng để tham gia vào cuộc đối thoại tâm linh này, vào cuộc hoán cải tâm linh này, bởi vì đòi phải có một cuộc hoán cải, chúng ta cần dành nhiều thời gian hơn cho việc cầu nguyện, để có thể quỳ gối trước sự hiện diện của Chúa.
Tự bản chất Thượng hội đồng có tính tham vấn. Sau khi đã tham khảo ý kiến của rất nhiều người từ khắp nơi trên thế giới, bao gồm các giám mục và cả những người không phải là giám mục, Đức Hồng y có nghĩ rằng Thượng hội đồng cần trở thành một cơ quan hợp pháp hơn nữa của Giáo hội bằng việc đưa ra các lá phiếu mang tính bắt buộc không?
Tôi không thể tự mình đưa ra tuyên bố về vấn đề này. Và rất thực lòng, tôi muốn Đại hội của Thượng hội đồng nói điều gì đó về vấn đề này. Nhưng, như bạn vừa nói, bản chất của Đại hội của Thượng hội đồng là tham khảo ý kiến, bởi vì cuối cùng đó là quyết định của Đức Thánh Cha. Khi Đức Phaolô VI thiết lập Thượng hội đồng, mục đích là để giúp Đức Thánh Cha, để tham vấn với Đức Thánh Cha.
Tôi nghĩ rằng có việc nhận quyết định và ra quyết định. Việc lắng nghe tất cả dân Chúa, nhất là các giám mục được triệu tập tại Đại hội của Thượng hội đồng, là một phần của tiến trình ra quyết định này, vốn sẽ soi sáng cho Đức Thánh Cha để thực hiện sự phân định của riêng ngài.
Có sự phân định mang tính giáo hội đang diễn ra. Tôi cũng nói rằng, luôn dựa trên điều này, chúng ta có hồng ân thừa tác vụ giám mục trong các Giáo hội địa phương là điều có thể bảo đảm rằng mọi người sẽ không lạc hướng trong sự phân định của mình. Và đối với toàn thể Giáo hội, chúng ta có Đức Thánh Cha, thừa tác vụ Phêrô, thực sự nâng đỡ và bảo đảm cho toàn thể Giáo hội rằng chúng ta đang làm theo ý Chúa.
Đã có sự phê bình liên quan đến tiến trình Thượng hội đồng về Hiệp hành. Vậy thì có sự chỉ trích nào khiến Đức Hồng y lo lắng mà Đức Hồng y muốn đề cập đến không?
Trước hết, tôi hiểu những người còn nghi ngờ, sợ hãi hoặc có quan điểm khác biệt.
Đối với tôi, sự phê bình rất có giá trị và nó sẽ giúp ích cho tất cả chúng ta trong tiến trình phân định. Không ai phải bị loại trừ, ngay cả người chỉ trích hoặc phản đối, mọi người cần được đón nhận. Đừng quên rằng chúng ta là một gia đình. Và phải mất thời gian cho đến khi các ý tưởng chín muồi, cho đến khi người ta thực sự hiểu chuyện gì đang diễn ra.
Tôi cũng có những nỗi sợ hãi của mình. Ví dụ, những người đang chống lại dân Chúa và hàng giáo phẩm hiện nay, bởi vì trong tiến trình Hiệp hành này, mọi người đều được phép lên tiếng, một số người có thể nghĩ rằng chúng ta đang trên đường dẫn đến một loại dân chủ. Giáo hội không phải là một chế độ dân chủ.
Giáo hội là phẩm trật, phẩm trật cấu thành. Thừa tác vụ của các giám mục, thừa tác vụ Phêrô, là hồng ân của Chúa Thánh Thần dành cho Giáo Hội. Và chúng ta cần trân trọng điều đó.
Vì vậy, nếu những người đang chống đối, chẳng hạn như đám đông, dân Chúa với hàng giáo phẩm, điều đó thực sự làm tôi đau lòng, bởi vì chúng ta phải cùng nhau bước đi, tôn trọng tất cả các đặc sủng và thừa tác vụ.
Các thừa tác vụ là một hồng ân đối với Giáo hội. Và thừa tác vụ có thể đảm bảo với chúng ta rằng chúng ta đang đi đúng lộ trình.
Nhiệm vụ truyền đạt và giải thích tiến trình Hiệp hành của Đức Hồng y không tất nhiên trở nên dễ dàng hơn với một tiến trình song song ở châu Âu đã thu hút nhiều sự chú ý – Con đường công nghị tại Đức. Đức Hồng y nghĩ gì về điều này và Con đường công nghị được nhìn nhận như thế nào trong bối cảnh của Thượng Hội đồng phổ quát về Hiệp hành?
Thật không may, Con đường Công nghị tại Đức đã phát ra những sung năng tiêu cực đến toàn thể Giáo hội. Tôi đã ở Châu Phi, tôi đã ở Bangkok, và tôi lắng nghe những người có chút do dự và lo lắng về những gì đang diễn ra ở Đức.
Nhưng tôi luôn nói rằng, liệu chúng ta có thực sự biết điều gì đang xảy ra trong Giáo hội, trong Giáo hội chị em của chúng ta ở Đức không? Có hai trải nghiệm Hiệp hành khác nhau.
Tại Đức, không phải là một Thượng hội đồng. Đó là một hành trình Công nghị. Người ta gọi đó là một Con đường Công nghị. Về mặt giáo luật, theo như tôi biết, đó không phải là một công nghị giáo phận hay một công nghị quốc gia,
Đó là hai trải nghiệm mang tính giáo hội khác nhau. Trải nghiệm ở Đức đang cố gắng giải quyết các vấn đề vốn là thách thức thường xuyên đối với Giáo hội tại Đức. Và trải nghiệm còn lại là dành cho toàn thể Giáo hội. Và các chủ đề khác nhau hoàn toàn.
Có lẽ Thượng hội đồng toàn cầu sẽ giúp chúng ta, sẽ hướng dẫn chúng ta tránh những khó khăn khác trong tương lai trong trải nghiệm về tính Hiệp hành.
Đúng là các Giáo hội địa phương cụ thể rất quan trọng trong toàn bộ hệ thống giáo hội học. Giáo hội được cấu thành từ các Giáo hội địa phương, và đây là Công đồng Vatican II, nhưng không có Giáo hội địa phương tự trị, không có Giáo hội địa phương độc lập với các Giáo hội khác.
Và nếu Hiệp hành tính là một yếu tố quan trọng trong Giáo hội, thì sự hiệp thông giữa các giám mục cũng là một giá trị.
Tôi đang nói về tính Hiệp đoàn. Ví dụ, các giám mục tại Úc, bởi vì các ngài hiện cũng có một công đồng toàn thể, các giám mục ở Ireland, các giám mục ở Đức cũng có trách nhiệm và thách đố riêng. Và chúng tôi phải giúp đỡ anh em của mình giải quyết những khó khăn.
Nhưng các giám mục không tự trị, các giám mục là một phần của giám mục đoàn, và có những vấn đề thuộc về toàn thể Giáo hội cần được tất cả các giám mục cùng nhau giải quyết, cùng với Đức giáo hoàng.
Điều này có thể cho chúng ta hy vọng về trải nghiệm ở Đức. Tôi thực sự tin tưởng vào các anh em giám mục của tôi ở Đức rằng các ngài có thiện chí. Và tôi hy vọng các Giám mục tại đây sẽ tìm ra câu trả lời xứng hợp cho những vấn đề được nêu ra trong trải nghiệm công nghị, và cho những vấn đề mà dân Chúa ở Đức đang đặt ra.
Liệu có những yêu cầu rằng các đề xuất ở Đức đã được bỏ phiếu cũng như thông qua phải được thêm vào trong chương trình nghị sự của Thượng hội đồng Giám mục hoàn vũ chăng?
Không. Chúng là 2 trải nghiệm khác nhau. Thượng hội đồng cho toàn thể Giáo hội là về tính Hiệp hành. Giờ đây, nếu có những yếu tố trong trải nghiệm công nghị của Đức liên quan đến tính Hiệp hành, thì tại sao lại không? Nhưng không phải tất cả mọi thứ đã diễn ra theo Con đường công nghị ở Đức đều phù hợp với trải nghiệm Hiệp hành của toàn thể Giáo hội, nên tôi xin nhắc lại, đó là 2 trải nghiệm khác nhau.
Liệu có những yếu tố Hiệp hành dành cho Ngày Giới trẻ Thế giới sắp tới ở Lisbon không?
Một kết quả từ tất cả các Hội đồng Châu lục đó là chúng tôi nhận ra rằng chúng ta cần tạo ra nhiều không gian hơn cho thế hệ trẻ. Chúng ta cần tìm một ngôn ngữ mới để có thể giao tiếp với họ. Đây là một thách đố. Và rõ ràng, Ngày Giới trẻ Thế giới sẽ là một cơ hội.
Ban thư ký của chúng tôi đang nghiên cứu một dự án làm thế nào để hiện diện trong dân chúng để chúng tôi cũng có thể lắng nghe thế hệ trẻ. Bởi vì người trẻ không chỉ là tương lai, mà còn là hiện tại. Và khi đưa ra lời mời gọi những người không phải là giám mục tham dự Đại hội của Thượng hội đồng giám mục, chúng tôi đã yêu cầu các Hội đồng giám mục vui lòng cử cả những người trẻ. Chúng tôi muốn những người trẻ đại diện để tham gia vào tiến trình này.
Đức Hồng y đã kêu gọi mọi người từ khắp nơi trên thế giới đóng góp và tham gia vào tiến trình này. Có bất kỳ ý tưởng loan báo Tin Mừng đầy cảm hứng nào, mà Đức Hồng y có được, đáng để theo đuổi không?
Ý tưởng về Sứ mạng và Hiệp hành được bắt nguồn từ Thượng hội đồng về Giới trẻ. Thực ra, trong tài liệu cuối cùng của Thượng hội đồng đó, giới trẻ và các thành viên Thượng hội đồng đã nói về sứ mạng và Giáo hội mang tính Hiệp hành. Sứ mạng và Hiệp hành tính là 2 mặt của cùng một đồng tiền. Chúng ta cần một Giáo hội Hiệp hành để có thể trở nên hữu hiệu hơn trong sứ mạng của chúng ta.
Ngày nay, làm thế nào chúng ta có thể thực sự trở nên hữu hiệu hơn? Nếu mọi thành phần dân Chúa ý thức rằng tất cả chúng ta đều là chủ thể của việc loan báo Tin Mừng, thì việc loan báo Tin Mừng đó không chỉ giới hạn cho một tầng lớp cụ thể, một nhóm cụ thể. Nhưng tất cả những ai đã chịu Phép Rửa đều là chủ thể và được Chúa Thánh Thần trao quyền để loan báo Tin Mừng.
Mọi người đều được mời gọi và phải cảm thấy bổn phận ràng buộc để loan báo Chúa Giêsu cho nhân loại ngày nay. Đây là mục tiêu chính trong suy tư của chúng ta về một Giáo hội Hiệp hành.
Đối với tôi, một Giáo hội Hiệp hành chủ yếu là một Giáo hội tâm linh. Chúng ta cần cầu nguyện nhiều hơn. Chúng ta cần cầu nguyện nhiều hơn để tránh nguy cơ Giáo hội chỉ trở thành một thể chế, một tổ chức của con người.
Đây là lý do tại sao cách đây vài tháng, chúng tôi đã gửi lời mời đến tất cả các giám mục, để trong tháng Năm này, chúng ta tổ chức một buổi cầu nguyện dưới chân Đức Maria, với sự hiện diện của Mẹ.
Bởi vì Đức Maria, mẹ của Giáo hội, mẹ của chúng ta, Mẹ sẽ hướng dẫn chúng ta, nâng đỡ chúng ta, và đồng hành với chúng ta trong thời khắc đặc biệt này của Giáo hội. Tôi mời gọi tất cả mọi người hãy tham gia bằng lời cầu nguyện trong thời điểm ân sủng này.
Nt. Anna Ngọc Diệp, OP
Dòng Đa Minh Thánh Tâm
2023
Buổi thường huấn dành cho giáo dân thuộc Giáo tỉnh Huế năm 2023
Buổi thường huấn dành cho giáo dân thuộc Giáo tỉnh Huế năm 2023
BUỔI THƯỜNG HUẤN DÀNH CHO GIÁO DÂN THUỘC GIÁO TỈNH HUẾ NĂM 2023
Ban Thư ký
– Sáng ngày 25.05.2023, Ủy ban Giáo dân (UBGD) sáu giáo phận thuộc giáo tỉnh Huế: Ban Mê Thuột, Kontum, Huế, Đà Nẵng, Qui Nhơn và Nha Trang tề tựu đông đủ tại Trung tâm Mục vụ Giáo phận Đà Nẵng, để tham dự hai ngày thường huấn do UBGD trực thuộc Hội đồng Giám mục Việt Nam tổ chức với chủ đề: “Củng cố sự hiệp thông để loan báo Tin mừng”.
Thành phần tham dự có 65 tham dự viên gồm: Các cha trưởng và phó đặc trách Ban Giáo dân các giáo phận và đại diện Hội đồng Mục vụ Giáo xứ và các Đoàn hội Tông đồ. Về tham dự buổi thường huấn có Đức Cha Giuse Trần Văn Toản – Chủ tịch UBGD, Giám mục Giáo phận Long xuyên. Cha Giuse Lê Quốc Thăng – Phó Chủ tịch UBGD, đặc trách Hội đồng Mục vụ Giáo xứ, Cha Antôn Hà Văn Minh, Tổng thư ký UBGD.
Vào lúc 11g15, Đức cha Giuse Đặng Đức Ngân, Giám mục Giáo phận Đà Nẵng đã đến Trung tâm Mục vụ để chào thăm và gửi lời khích lệ cho buổi thường huấn. Đức cha nhấn mạnh việc thường huấn cho anh chị em tín hữu giáo dân trong giai đoạn này thật là khẩn thiết, bởi hơn lúc nào hết Giáo hội ra sức kêu mời anh chị em tín hữu giáo dân hiểu rõ vai trò và chỗ đứng của mình trong Giáo hội để cùng cộng tác với hàng giáo sĩ, cụ thể là các chủ chăn trực tiếp của mình trong việc thi hành sứ mạng mà Chúa Giêsu đã giao phó cho Giáo hội. Cho nên, việc thường huấn này rất cần thiết và bổ ích.
Đúng 2 giờ chiều ngày 25.05.2023, Đức cha Giuse Trần Văn Toản, Chủ tịch UBGD khai mạc buổi thường huấn. Ngài hướng tham dự viên vào chủ đề của buổi thường huấn: “Củng cố sự hiệp thông để loan báo Tin mừng” với ba bài thuyết trình được trình bày xuyên suốt theo chủ đề:
– Sự liên đới linh mục thừa tác và linh mục cộng đồng trong Giáo hội
– Giáo dân sống Bí tích Thanh tẩy trong việc xây dựng một Giáo hội hiệp hành
– Linh đạo hiệp hành của người giáo dân tông đồ
Vì lý do công việc riêng, buổi thường huấn được bắt đầu với bài thuyết trình thứ II: “Giáo dân sống Bí tích Thanh tẩy trong việc xây dựng một Giáo hội hiệp hành” do cha Giuse Maria Lê Quốc Thăng trình bày.
Cha Giuse nói về ân sủng của Bí tích Rửa tội, và từ Bí tích này mỗi người tín hữu giáo dân đều nhận được sứ vụ của Giáo hội là loan báo Tin mừng. Người tín hữu giáo dân thực thi sứ vụ này ngay chính trong môi trường sống và làm việc của mình. Công đồng Vatican II đặc biệt đề cao vai trò của giáo dân trong xã hội trần thế. Giáo dân phải dấn thân vào các sinh hoạt trần thế với mọi người, như mọi người trong tương giao nghề nghiệp, văn hóa, xã hội và bằng hữu. Bổn phận chính đáng của tín hữu giáo dân là công bố Tin mừng bằng lời chứng gương mẫu của đời sống được ăn rễ sâu trong Đức Kitô và được sống động qua những thực tại trần thế như gia đình. Cha Giuse nhấn mạnh đến chỗ đứng của người giáo dân trong thế giới như là “linh hồn của thế giới”, theo ngôn ngữ của Công đồng Vatican II trong hiến chế Lumen Gentium số 38. Vì thế, người tín hữu giáo dân cần phải biểu tỏ tinh thần Tin mừng ngay trong cuộc sống trần thế của mình, được gọi là sống chứng nhân giữa đời.
Sau khi nghỉ giải lao, Cha Antôn Hà Văn Minh trình bày đề tài về thần học giáo dân, qua việc khai sáng Hiến chế Tín lý về Giáo hội (Lumen Gentium). Ngài nhấn mạnh đến tư tưởng của Công đồng về Dân Chúa. Theo Công Đồng Vatican II, Dân Chúa bao gồm linh mục và giáo dân. Vì thế, vấn đề về sự liên đới giữa hai thành phần đó trong Giáo hội được đặt ra: Nhiệm vụ (officium) của mỗi một thành phần là gì? Hiến chế “Lumen Gentium” số 10 đã minh định: “Chức tư tế chung của các tín hữu và chức tư tế thừa tác hay phẩm trật, tuy khác nhau không chỉ về cấp bậc mà còn cả về yếu tính, song cả hai bổ túc cho nhau. Thực vậy, cả hai đều tham dự vào chức tư tế duy nhất của Đức Kitô theo cách thức riêng của mình” (LG, số 10).
Cha Antôn nhấn mạnh: Giáo hội được Chúa Kitô thánh hoá, hướng dẫn và dạy dỗ, nên các thành phần trong Giáo hội liên kết với nhau thành một cộng đoàn hiệp thông và trở thành sứ giả của Chúa Kitô trong nhân loại. Cho nên, linh mục và giáo dân có yếu tính riêng tùy theo nhiệm vụ mà mỗi một thành phần có được. Sự phân biệt hai thành phần: linh mục và giáo dân là vì đặc tính cốt yếu của hai thành phần đó. Mỗi một thành phần hiện hữu là vì thành phần kia. Sự đa dạng phong phú của cương vị các nhiệm vụ trong Giáo hội thuộc về bản chất của Giáo hội. Vì thế, giữa giáo sĩ và giáo dân tuy có phân biệt, nhưng cả hai đều có chung một sứ vụ, đó là loan báo Tin mừng, cho nên cả hai luôn cần có nhau để hoàn tất sứ vụ. Việc loan báo Tin mừng sẽ không đạt tới mục đích nếu giáo sĩ và giáo dân không chung tay cùng tiến bước trên con đường hiệp hành.
Kết thúc ngày thường huấn đầu tiên là một cuộc hành trình hành hương về Đức Mẹ Trà Kiệu. Đến bên Mẹ Trà Kiệu để nhận ra tình mẫu tử của Mẹ dành cho dân Việt cách chung và cách riêng cho giáo dân vùng Trà Kiệu đang trong cơn nguy khốn vì tình hình bắt bớ đạo Chúa; để khám phá Mẹ hiện diện trên mảnh đất Trà Kiệu là một sự hiện diện không phân biệt đạo đời, Mẹ đến với mọi người, và nhất là nhận ra sự quan tâm của Mẹ về tình cảnh nghèo khó của dân Việt, Mẹ không yêu cầu xây một đền đài, mà chỉ biết giơ tay đỡ nâng con cái đang cơn túng cực.
Một ngày thường huấn khép lại sau cuộc hành hương Đức Mẹ Trà Kiệu là lời khẩn cầu bên Đền thánh Anrê Phú Yên tại Giáo họ Phước Kiều, Quảng Nam.
Ngày thường huấn thứ hai 26.05.2023 được tiếp tục với bài chia sẻ của Đức cha Giuse, Chủ tịch UBGD, với chủ đề: “Linh đạo hiệp hành của người giáo dân tông đồ”. Trong bài thuyết trình, Đức cha Giuse nhấn mạnh tính hiệp hành trong Giáo hội và ngài mời gọi mỗi người khám phá sự hiệp hành này qua năm mầu nhiệm Mân Côi được rút ra từ các mầu nhiệm: Sự Vui, Sự Sáng, Sự Thương và Sự Mừng:
– Người tín hữu giáo dân tông đồ sẽ là hiện thân của Đức Giêsu Emmanuel – Hiệp hành để Chia sẻ kiếp sống làm người, từ trong cung lòng của Mẹ Maria, đến gia đình Nazareth, đến cộng đoàn Do Thái giáo, đến lịch sử nhân loại. Ngài hiện diện trong lòng của một người phụ nữ, Ngài được dìm mình vào hoàn cảnh xã hội, kinh tế, chính trị và tôn giáo địa phương, để trở thành hiện thân của Chúa Kitô xây dựng sự hòa điệu.
– Khi chiêm ngắm Đức Giêsu nhập thể nơi anh chị em mình trong hoàn cảnh xã hội, kinh tế, chính trị và tôn giáo địa phương đặc thù và người tín hữu giáo dân tông đồ là hiện thân của Chúa Giêsu giữa gia đình nhân loại, Hiệp hành để Phục vụ, điển hình là Bữa Tiệc ly: Rửa chân và trao ban chính mình cho con người.
– Đức Kitô mà người tín hữu giáo dân tông đồ là hiện thân là Người Tôi tớ đau khổ, Hiệp hành để Tự hiến cuộc sống này cho anh chị em chung quanh “được sống và được sống dồi dào”. Con đường thánh giá, từ phòng tiệc ly đến đồi Calvario là điển hình cho sự hiện diện để tự hủy và tự hiến cho anh chị em mình.
– Người tín hữu giáo dân tông đồ là hiện thân của Chúa Giêsu sống tinh thần ngày Lễ Ngũ Tuần, ở đó mọi ngôn ngữ đều có thể lắng nghe, hiểu và công bố Thiên Chúa tình yêu. Kết quả là một cộng đoàn được hình thành và phát triển như mầm giống của Hội thánh và của Nước Thiên Chúa. Người tín hữu giáo dân tông đồ là hiện thân của Chúa Giêsu, Hiệp hành để quy tụ được Chúa Thánh Thần với hình lưỡi lửa trên đầu, ra đi để xây dựng Nước Thiên Chúa, trở nên mọi sự cho mọi người.
– Người tín hữu tông đồ giáo dân là hiện thân của Chúa Giêsu sống gắn bó với Đức Mẹ, trong biến cố truyền tin, tại tiệc cưới Cana, trong cuộc khổ nạn, trong cộng đoàn Giáo hội, và trên đường tiến về Nhà Cha, để sẽ được lên trời như Mẹ Maria. Tầm nhìn về 4 sự sau: chết, phán xét, thiên đàng và hỏa ngục, sẽ là định hướng cho sinh hoạt hiệp hành của người tín hữu tông đồ giáo dân. Đây là Hiệp hành tiến vào quê hương Nước Trời.
Những lời trên cho thấy các kitô hữu giáo dân tông đồ hiệp hành với Thiên Chúa và với nhau trong Giáo hội (là giáo sĩ, là tu sĩ, là giáo dân) để xây dựng sự HÒA ĐIỆU trong cộng đoàn.
Người kitô hữu giáo dân tông đồ, hiệp hành với Chúa, với nhau để cùng hiệp hành với con người thời đại, với những người đang thực hành đức tin, với những người có nguy cơ mất cảm thức đức tin, và với những anh chị em chưa được nghe Tin mừng Chúa Kitô, để xây dựng cộng đoàn “thành gia đình của Thiên Chúa”.
Sau bài thuyết trình là buổi hội thảo với các ý kiến của tham dự viên. Buổi hội thảo thật sôi nổi vào hào hứng, nhưng vì thời gian có hạn, nên ban tổ chức đành phải cho ngưng buổi thảo luận, làm mọi người thấy thật tiếc!
Hai ngày thường huấn khép lại qua Thánh lễ tạ ơn được cử hành tại Nguyện đường Trung tâm Mục vụ Giáo phận Đà Nẵng. Đức Cha Giuse, Chủ tịch UBGD đã nhắn nhủ mỗi người tín hữu phải nhận ra căn tính của mình: tôi là ai? Là tín hữu giáo sĩ, là tín hữu tu sĩ, là tín hữu giáo dân, phải nhận ra rõ căn tính của mình để khám phá ra vai trò và nhiệm vụ của mình trong Giáo hội, mới có thể cùng nhau tiến bước trên con đường hiệp hành.
Kế đến, từng người tín hữu khi khám phá căn tính của mình, thì cũng phải nhận ra ân huệ của từng người nhận lãnh trong Bí tích Rửa tội, nhận ra sự bình đẳng về phẩm giá của mỗi người trong cộng đoàn Dân Chúa, để từng người nỗ lực sống thánh thiện theo đúng bản chất mà ân sủng Bí tích Rửa tội trao ban.
Khi sống ân sủng này, cũng có nghĩa là mỗi người được mời gọi trở thành người tông đồ, và trong công việc tông đồ không ai đơn độc một mình, nhưng tất cả cùng hiệp thông với nhau, cùng làm việc với nhau trong vườn nho của Chúa tùy theo ơn gọi và bậc sống của từng người, nhưng tất cả chung chia một sứ vụ duy nhất là làm mọi người trở thành môn đệ của Chúa theo lệnh truyền mà Người đã trao ban trước khi Người về trời.
2023
Sứ điệp Đức Thánh Cha nhân Ngày Thế giới Cầu nguyện cho việc Chăm sóc Thụ tạo năm 2023
Sứ điệp Đức Thánh Cha nhân Ngày Thế giới Cầu nguyện cho việc Chăm sóc Thụ tạo năm 2023
Hôm 25.05 vừa qua, phòng Báo chí Toà thánh đã công bố Sứ điệp của Đức Thánh Cha Phanxicô nhân Ngày Thế giới Cầu nguyện cho việc Chăm sóc Thụ tạo 2023, có chủ đề “Hãy để Công lý và Hoà bình tuôn trào”, được cử hành vào ngày 01.09.2023.
Sau đây là toàn văn Sứ điệp của Đức Thánh Cha:
SỨ ĐIỆP ĐỨC THÁNH CHA
NHÂN NGÀY THẾ GIỚI CẦU NGUYỆN CHO VIỆC CHĂM SÓC THỤ TẠO
Ngày 01.09.2023
“Hãy để Công lý và Hoà bình tuôn trào” (Am 5:24)
Anh chị em thân mến!
“Hãy để Công lý và Hòa bình tuôn trào” là chủ đề của Mùa Thụ tạo đại kết năm nay, được gợi hứng từ lời của ngôn sứ Amos: “Ta chỉ muốn cho lẽ phải như nước tuôn trào, cho công lý như dòng suối không bao giờ cạn” (5, 24).
Hình ảnh biểu cảm này của Amos cho chúng ta biết điều Thiên Chúa muốn. Thiên Chúa muốn công lý ngự trị, công lý cần thiết đối với cuộc sống của chúng ta với tư cách là con cái Thiên Chúa được dựng nên theo hình ảnh của Ngài giống như nước cần thiết đối với sự tồn tại về thể chất của chúng ta. Công lý này phải tuôn trào đến bất cứ nơi nào cần đến chứ không ẩn sâu dưới lòng đất hoặc biến mất như nước bốc hơi, trước khi nó mang lại sự nuôi dưỡng. Thiên Chúa muốn mọi người tìm kiếm công lý trong mọi hoàn cảnh, sống theo luật của Ngài và nhờ đó giúp cuộc sống thăng hoa. Khi chúng ta “tìm kiếm Nước Thiên Chúa trước” (x. Mt 6, 33), duy trì mối tương quan đúng đắn với Thiên Chúa, với nhân loại, và với thiên nhiên, thì công lý và hòa bình có thể tuôn trào, như dòng nước tinh khiết không bao giờ cạn, dưỡng nuôi con người và muôn loài.
Vào một ngày hè đẹp trời tháng 7. 2022, trong chuyến tông du đến Canada, tôi đã suy ngẫm về điều này trên bờ hồ Thánh Anna (Lac Ste. Anne), thuộc tỉnh bang Alberta. Hồ này đã và vẫn là nơi hành hương của nhiều thế hệ người dân bản địa. Như tôi đã chia sẻ trong tiếng trống rền vang vào dịp đó: “Biết bao trái tim đã đến đây, với nỗi khao khát khắc khoải, trĩu nặng bởi gánh nặng cuộc sống, và tìm được nơi dòng nước này niềm an ủi và sức mạnh để tiến bước! Ở đây, đắm chìm trong thụ tạo, chúng ta cũng có thể cảm nhận được một nhịp đập khác: nhịp đập từ mẫu của trái đất. Giống như trái tim của em bé trong bụng mẹ hòa nhịp đập với trái tim của người mẹ, cũng thế, để lớn lên như một con người, chúng ta cần phải hòa hợp nhịp sống của chính mình với nhịp sống của thụ tạo, vốn ban cho chúng ta sự sống”[1].
Trong Mùa Thụ tạo này, chúng ta hãy tập trung vào những nhịp đập đó: nhịp đập của chính chúng ta, của mẹ và bà của chúng ta; nhịp đập của tạo vật; và nhịp đập của Thiên Chúa. Ngày nay, các nhịp đập này không nhịp nhàng; không hòa hợp trong công lý và hòa bình. Rất nhiều anh chị em của chúng ta không được uống nước từ dòng sông đầy sức sống này. Chúng ta hãy lắng nghe lời kêu gọi sát cánh cùng các nạn nhân của sự bất công về môi trường và khí hậu, đồng thời chấm dứt cuộc chiến vô nghĩa chống lại thụ tạo.
Những tác động của cuộc chiến này có thể được nhìn thấy ở nhiều dòng sông đang khô cạn. Đức Thánh Cha Bênêđictô XVI đã từng nhận xét rằng: “Những sa mạc bên ngoài gia tăng trên thế giới, bởi vì những sa mạc nội tâm đã trở nên rộng lớn hơn”[2]. Lòng tham của chủ nghĩa tiêu thụ, được thúc đẩy bởi những trái tim ích kỷ, đang làm đảo lộn vòng tuần hoàn nước của hành tinh. Việc đốt tràn lan nhiên liệu hóa thạch và chặt phá rừng đang gây ra nhiệt độ tăng cao và dẫn đến hạn hán nghiêm trọng. Tình trạng thiếu nước đáng báo động ngày càng ảnh hưởng đến cả các cộng đồng nông thôn nhỏ lẫn các đô thị lớn. Ngoài ra, các ngành công nghiệp trấn lột đang làm cạn kiệt và gây ô nhiễm nguồn nước uống của chúng ta bằng các hoạt động cực đoan như bẻ gãy thủy lực để khai thác dầu khí, các dự án khai thác lớn không được kiểm soát và chăn nuôi thâm canh. “Chị Nước”, như cách gọi của Thánh Phanxicô Assisi, bị cướp phá và biến thành “nguồn hàng hóa chịu chi phối bởi luật thị trường” (Thông điệp Laudato Si’, 30).
Uỷ ban Liên chính phủ về Biến đổi khí hậu (IPCC) của Liên hiệp quốc đã khẳng định rằng hành động khẩn cấp hơn lúc này về khí hậu có thể đảm bảo là chúng ta sẽ không bỏ lỡ cơ hội tạo ra một thế giới bền vững và công bằng hơn. Chúng ta có thể và phải ngăn chặn những hậu quả tồi tệ nhất xảy ra. “Có rất nhiều điều chúng ta có thể làm” (sđd., 180), nếu chúng ta đến với nhau như rất nhiều dòng nước, khe suối và con lạch, cuối cùng hòa vào một dòng sông hùng vĩ để tưới sự sống cho hành tinh kỳ diệu, và gia đình nhân loại của chúng ta cho các thế hệ mai sau. Vì vậy, chúng ta hãy chung tay và thực hiện những bước táo bạo để “Công lý và Hòa bình tuôn trào” khắp thế giới.
Làm sao chúng ta có thể góp phần vào dòng sông hùng vĩ của công lý và hòa bình trong Mùa Thụ tạo này? Chúng ta có thể làm gì, cụ thể trong tư cách là các cộng đoàn Kitô, để chữa lành ngôi nhà chung của chúng ta để nó tràn đầy sức sống trở lại? Chúng ta phải làm điều này bằng việc quyết tâm biến đổi con tim, lối sống, và các chính sách công đang chi phối xã hội của chúng ta.
Trước hết, chúng ta hãy hòa vào dòng sông hùng vĩ bằng cách biến đổi con tim của chúng ta. Điều này là cần thiết đối với bất kỳ sự biến đổi nào khác; đó chính là sự “hoán cải sinh thái” mà Thánh Gioan Phaolô II đã khuyến khích chúng ta thực hiện: đổi mới mối tương quan của chúng ta với thụ tạo để chúng ta không còn coi thụ tạo như một đối tượng để khai thác, mà thay vào đó, trân trọng nó như một món quà thánh thiêng từ Đấng Tạo Hóa. Hơn nữa, chúng ta cần nhận thức rằng một cách tiếp cận toàn diện đòi phải thực hành tôn trọng hệ sinh thái theo bốn chiều kích tương quan: với Chúa, với anh chị em của chúng ta hôm nay và ngày mai, với tất cả thiên nhiên, và với chính mình.
Về mối tương quan thứ nhất, Đức Bênêđictô XVI đã xác định một nhu cầu cấp thiết là phải nhận ra rằng sự Sáng Tạo và Cứu Chuộc không thể tách rời nhau: “Đấng Cứu Chuộc là Đấng Tạo Hóa, và nếu chúng ta không tuyên xưng Thiên Chúa trong sự cao cả trọn vẹn của Ngài –Đấng Tạo Hóa và Cứu Chuộc – thì chúng ta cũng làm giảm giá trị của sự cứu chuộc”[3]. Sự sáng tạo vừa đề cập đến hành động kỳ diệu, và mầu nhiệm của Thiên Chúa trong việc dựng nên hành tinh và vũ trụ hùng vĩ và xinh đẹp này từ hư vô, vừa đề cập đến kết quả liên tục của hành động sáng tạo, mà chúng ta trải nghiệm như một món quà vô tận. Trong Phụng vụ và cầu nguyện cá nhân trong “thánh đường vĩ đại của thụ tạo”[4], chúng ta hãy nhớ đến Vị Nghệ sĩ cao cả, Đấng đã tạo ra vẻ đẹp như vậy, và suy tư về mầu nhiệm của sự lựa chọn đầy yêu thương đó để tạo dựng vũ trụ.
Thứ đến, chúng ta hãy đóng góp vào dòng chảy của dòng sông hùng vĩ này bằng việc thay đổi lối sống của mình. Khởi đi từ sự ngưỡng mộ biết ơn đối với Đấng Tạo Hóa và thụ tạo, chúng ta hãy ăn năn về “những tội lỗi sinh thái” của mình, như người anh em của tôi, Thượng phụ Đại kết Bartholomew, đã thúc giục. Những tội lỗi này gây hại cho thế giới tự nhiên cũng như cho anh chị em của chúng ta. Với sự trợ giúp của ân sủng Chúa, chúng ta hãy áp dụng lối sống bớt lãng phí và tiêu thụ không cần thiết, đặc biệt là ở những nơi quy trình sản xuất độc hại và không bền vững. Chúng ta hãy lưu tâm đến thói quen và lựa chọn kinh tế của mình bao nhiêu có thể để mọi người đều thịnh vượng hơn – đồng loại của chúng ta, dù họ ở đâu, và cả các thế hệ tương lai. Chúng ta hãy cộng tác vào công cuộc sáng tạo không ngừng của Thiên Chúa qua các lựa chọn tích cực: sử dụng tài nguyên ở mức vừa phải nhất, thực hành sự điều độ vui vẻ, xử lý và tái chế rác thải, đồng thời tận dụng nhiều hơn các sản phẩm và dịch vụ có sẵn có trách nhiệm với môi trường và xã hội.
Cuối cùng, để dòng sông hùng vĩ tiếp tục chảy, chúng ta phải thay đổi các chính sách công điều hành xã hội của chúng ta, và định hình cuộc sống của giới trẻ ngày nay và tương lai. Các chính sách kinh tế ủng hộ sự giàu có tai tiếng của một số ít có đặc quyền và làm suy giảm điều kiện sống của nhiều người, báo hiệu sự kết thúc của hòa bình và công lý. Rõ ràng là các quốc gia giàu có hơn đã tích lũy một “món nợ sinh thái” buộc phải trả (x. Laudato Si’, 51)[5]. Các nhà lãnh đạo thế giới tham dự Hội nghị thượng đỉnh COP28, dự kiến diễn ra tại Dubai từ ngày 30. 11 đến ngày 12. 12 năm nay, phải lắng nghe khoa học và thiết lập tiến trình chuyển đổi nhanh chóng và công bằng để chấm dứt kỷ nguyên nhiên liệu hóa thạch. Theo các cam kết được thực hiện trong Thỏa thuận Paris về hạn chế nguy cơ nóng lên toàn cầu, việc cho phép tiếp tục thăm dò và mở rộng cơ sở hạ tầng nhiên liệu hóa thạch là hết sức vô lý. Chúng ta hãy lên tiếng để ngăn chặn sự bất công này đối với người nghèo và con em chúng ta, là những người sẽ phải hứng chịu những tác động tồi tệ nhất của biến đổi khí hậu. Tôi kêu gọi tất cả những người có thiện chí hãy hành động phù hợp với những quan điểm này về xã hội và tự nhiên.
Một quan điểm song song khác liên quan đến cam kết của Giáo hội Công giáo đối với Hiệp hành tính. Năm nay, việc kết thúc Mùa Thụ tạo vào ngày 4. 10, lễ kính Thánh Phanxicô Assisi, sẽ trùng với việc khai mạc Thượng hội đồng về Hiệp hành. Giống như những dòng sông tự nhiên, được nuôi dưỡng bởi vô số con suối nhỏ và những dòng thác lớn hơn, tiến trình Hiệp hành bắt đầu vào tháng 10.2021 mời gọi tất cả các thành phần, ở cấp cá nhân và cộng đoàn, hội tụ trong một dòng sông hùng vĩ của sự suy tư và đổi mới. Toàn thể Dân Chúa đều được mời tham gia vào hành trình đối thoại và hoán cải mang tính Hiệp hành sâu sắc.
Cũng thế, giống như một lưu vực sông với nhiều phụ lưu lớn nhỏ, Giáo hội là sự hiệp thông của vô số Giáo hội địa phương, các cộng đoàn tu trì và Hiệp hội được nuôi dưỡng bởi cùng một nguồn nước. Mỗi nguồn mang đến sự đóng góp độc đáo và bất khả thay thế của mình, cho đến khi tất cả cùng nhau chảy vào đại dương bao la của tình yêu thương xót của Thiên Chúa. Giống như một dòng sông là nguồn sống cho môi trường xung quanh, Giáo hội Hiệp hành cũng phải là nguồn sống cho ngôi nhà chung và tất cả cư dân trong đó. Và giống như cách mà một dòng sông mang lại sự sống cho mọi loại động vật và thực vật, một Giáo hội Hiệp hành phải mang lại sự sống bằng cách gieo rắc công lý và hòa bình ở mọi nơi mà Giáo hội hiện diện.
Vào tháng 7. 2022 tại Canada, tôi đã nói về Biển hồ Galilê, nơi Chúa Giêsu chữa lành, an ủi nhiều người và công bố “một cuộc cách mạng của tình yêu”. Tôi được biết là hồ Thánh Anna cũng là một nơi chữa lành, an ủi và yêu thương, một nơi “nhắc nhở chúng ta rằng tình huynh đệ là đích thực nếu nó liên kết những người xa cách nhau, rằng thông điệp về sự hiệp nhất mà trời cao gửi xuống trần gian không sợ sự khác biệt, nhưng mời gọi chúng ta đến với tình bạn, để bắt đầu lại với nhau, bởi vì tất cả chúng ta đều là những người hành hương trên một hành trình”[6].
Trong Mùa thụ tạo này, với tư cách là những người theo Đức Kitô trên cùng lộ trình Hiệp hành, chúng ta hãy sống, làm việc và cầu nguyện để ngôi nhà chung của chúng ta lại được tràn đầy sức sống. Xin Chúa Thánh Thần tiếp tục bay lượn trên mặt nước và hướng dẫn những nỗ lực “canh tân bộ mặt trái đất” (x. Tv 104, 30) của chúng ta.
Rôma, Đền thờ Thánh Gioan Latêranô, ngày 13 tháng 5 năm 2023
PHANXICÔ
Nt. Anna Ngọc Diệp, OP
Dòng Đa Minh Thánh Tâm
Chuyển ngữ từ: vatican.va (25. 5. 2023)
Các sứ điệp của Đức Thánh Cha nhân Ngày Thế giới Cầu nguyện cho việc Chăm sóc Thụ tạo:
| Năm 2023: Hãy để Công lý và Hoà bình tuôn trào
Năm 2022: Lắng nghe tiếng nói của thụ tạo Năm 2020: Năm Thánh cho Trái đất Năm 2019: Chúng ta hãy chọn sự sống |
[1] Bài giảng tại Hồ Thánh Anna, Canada, ngày 26. 7. 2022, tại https://www.vaticannews.va/vi/pope/news/2022-07/dtc-phanxico-bai-giang-phung-vu-loi-chua-ho-thanh-anna.html
[2] Đức Bênêđictô XVI, Bài giảng Lễ Khai mạc Thừa tác vụ Phêrô, ngày 24. 4. 2005.
[3] Đối thoại tại Nhà thờ chính tòa Bressanone, ngày 06. 8. 2008.
[4] Sứ điệp Ngày Thế giới Cầu nguyện cho việc Chăm sóc Thụ tạo, 21. 7. 2022, tại https://www.vaticannews.va/vi/pope/news/2022-07/su-diep-the-gioi-cau-nguyen-cham-soc-thu-tao-1-9-2022.html
[5] “Thật vậy, có một ‘ món nợ sinh thái’, đặc biệt giữa miền bắc và miền nam toàn cầu, liên kết với sự bất bình đẳng trong thương mại và những hậu quả của chúng trên bình diện môi trường cũng như với việc sử dụng bất bình đẳng các tài nguyên thiên nhiên” (Thông điệp Laudato Si’, 51).
[6] Bài giảng tại Hồ Thánh Anna, Canada, ngày 26. 7. 2022, tại https://www.vaticannews.va/vi/pope/news/2022-07/dtc-phanxico-bai-giang-phung-vu-loi-chua-ho-thanh-anna.html
2023
Một Giáo hội Mỏng Giòn, Vượt Qua và Hiệp Hành – Bức Tranh Thần học về Giáo hội ở Châu Á hậu Covid
Một Giáo hội Mỏng Giòn, Vượt Qua và Hiệp Hành – Bức Tranh Thần học về Giáo hội ở Châu Á hậu Covid
Hình Đức Hồng y Charles Bo tặng quà lưu niệm cho Linh mục Nguyễn Hai Tính SJ và Đức Giám mục Gerald Matthias tại Đại hội FABC 50, ngày 17.10.2022
“Chúa… đã tạo cho con một thân thể” (Hr 10,5)
MỘT GIÁO HỘI MỎNG GIÒN, VƯỢT QUA VÀ HIỆP HÀNH – BỨC TRANH THẦN HỌC VỀ GIÁO HỘI Ở CHÂU Á HẬU COVID
(Bài trình bày trước Đại hội của Liên Hội đồng Giám mục Á Châu – FABC 50, ngày 17.10.2022)
Lm. Phanxicô Xaviê Nguyễn Hai Tính, S.J.
Đại dịch Covid-19 đã để lại một số hậu chứng trên cá nhân và xã hội chúng ta, chắc hẳn Giáo hội ở Châu Á cũng không phải ngoại lệ. Trong bài này, chúng ta cùng nhìn vào thực trạng Giáo hội hậu Covid, nhưng từ quan điểm thần học. Nói cách khác, chúng ta thử trả lời câu hỏi đâu là những ảnh hưởng của đại dịch trên Giáo hội, xét trong tương quan với Thiên Chúa, cụ thể là với Đức Kitô và Thần Khí, cũng như xét trong tương quan với nhân loại như là con cái Thiên Chúa.
Trong khi tìm cách vẽ bức tranh về Giáo hội Á Châu hậu đại dịch Covid-19, chúng ta nhìn Giáo hội bằng con mắt của người trong cuộc và của những người đã cùng trải qua cơn đại dịch với mọi con dân Châu Á. Như thế, chúng ta sẽ mô tả Giáo hội như “người đồng hành” cùng với các dân tộc Á Châu trong hành trình lịch sử đương đại.
Với tâm thế đó, chúng ta có thể khám phá một chân dung Giáo hội Á Châu theo mẫu hình Đức Kitô, Đấng nhận lấy “một thân thể”, tức là hiện hữu nhân sinh, trong mầu nhiệm Làm Người (x. Hr 10,5). Chân dung này không chỉ giúp chúng ta biết mình là ai và đang ở đâu trong lịch sử, mà còn mời gọi chúng ta hoán cải để thể hiện chân dung ấy cách chân thực hơn. Quả thế, thư gởi tín hữu Hipri mô tả Đức Kitô, khi làm người, đã ý thức “thân thể”, hay hiện hữu nhân sinh của mình do Thiên Chúa ban tặng là phương thế hay cách thức Ngài hoàn thành Ý muốn của Thiên Chúa. Bằng cách đón nhận hiện hữu nhân sinh, Đức Kitô trở nên một trong chúng ta và đồng hành với chúng ta trong lịch sử thế giới. Bằng cách đối lập “thân thể” này với các hy tế của Lề Luật, thư Hipri nhấn mạnh giá trị cứu độ của “thân thể” này, mà Đức Kitô dâng hiến cách vâng phục như hy tế dâng lên Thiên Chúa (x. Hr 10,4-10)[1]. Như thế, theo thư Hipri, Đức Kitô hoàn thành Ý muốn Thiên Chúa và cứu độ chúng ta bằng cách làm người, tức mang lấy một “thân thể”, vốn có thể dâng lên làm hy tế vâng phục. Nói cách khác, Ngài mang lấy một “thân thể” mỏng giòn, “phơi nhiễm” trước đau khổ và sự chết; đỉnh cao của sự “mỏng giòn” ấy được thể hiện trên Thập giá. Dựa trên ý nghĩa của “thân thể” Đức Kitô, như là một hiện hữu mỏng giòn, như là sự chuẩn bị cho mầu nhiệm Vượt Qua, và như phương thế để Thiên Chúa đồng hành với nhân loại trong lịch sử, chúng ta có thể trình bày chân dung Giáo hội hậu đại dịch bằng ba nét chính sau: thân thể tính mỏng giòn, sự vượt qua và tính hiệp hành.
Video thuyết trình của Đức Giám mục Gerald Matthias và Linh mục Nguyễn Hai Tính SJ tại Đại hội FABC 50, ngày 17.10.2022
- Thân thể tính mỏng giòn – một Giáo hội của mầu nhiệm Làm Người
Như Đức Kitô có một “thân thể”, Giáo hội với tư cách là Nhiệm Thể Đức Kitô trên trần gian, cũng mang nét thân thể tính, mỏng giòn trước các thay đổi của lịch sử, của khổ đau, cái chết và ngay cả tội lỗi. Thân thể tính này được biểu lộ rõ nét trong suốt đại dịch Covid-19. Đại dịch Covid-19 nhắc nhở toàn nhân loại về tính mỏng giòn của mình, nó cũng phơi bày rõ nét thân thể tính của Giáo hội. Thân thể tính của Giáo hội có thể mang nhiều ý nghĩa, nhưng ở đây chúng ta có thể kể ra ba nghĩa thể chế, con người và luân lý. Về mặt thể chế, thân thể tính ám chỉ tới các yếu tố hữu hình của Giáo hội (x. Lumen Gentium, 8) vốn bị ảnh hưởng nặng nề bởi đại dịch. Về mặt con người, thân thể tính có thể chỉ về người nghèo, vốn là những người bị ảnh hưởng nặng nền nhất bởi đại dịch[2]. Chúng ta thường nghĩ về “người nghèo” như đám đông không rõ khuôn mặt, đại dịch nhắc nhở chúng ta không nghĩ về họ như những con số thống kê, nhưng như những con người thật, có mặt có tên như Lazaro (x. Lc 16, 20). Cuối cùng, về mặt luân lý, thân thể tính chỉ về việc Giáo hội ôm ấp những tội nhân như chúng ta, những người đã góp phần làm cho đại dịch thành “nhân tai” và trầm trọng hơn. Quả thế, đại dịch Covid-19 không chỉ là thiên tai mà còn là kết quả của việc chúng ta bóc lột thiên nhiên thái quá; đại dịch cũng trở nên trầm trọng hơn do lòng tham, sự sợ hãi, sự vô tâm, tâm thế cá nhân chủ nghĩa và cơ hội chủ nghĩa của chúng ta.
Do đó, có thể nói rằng chân dung Giáo hội Á Châu hậu đại dịch nổi rõ nét vẽ của đau khổ[3], vốn vừa là hậu quả của tội vừa là cơ hội của ân sủng. Đại dịch đã để lại vết thương sâu xa trên thân xác, tâm trí và tinh thần người dân Châu Á, mà không phải lúc nào vết thương đó cũng được nhận ra. Cùng đau khổ với mọi người dân Châu Á, Giáo hội sống thân thể tính của mình, ít nhất theo ba cách sau:
Giáo hội tại Châu Á ý thức rằng với tư cách là một thực thể tại thế, Giáo hội cũng “phơi nhiễm” trước những biến động lịch sử, rằng các yếu tố hữu hình của Giáo hội có thể bị tác động và phải thay đổi tuỳ vào hoàn cảnh lịch sử, để đáp ứng nhu cầu con người, vốn luôn biến đổi theo thời gian. Các dân tộc Á Châu, vốn đặt nặng lối sống cộng đồng, đã bị ảnh hưởng rất nhiều từ đại dịch khi mà các sinh hoạt cộng đồng xã hội bị ngưng trệ.
Giáo hội tại Châu Á cũng ý thức rằng, trong cung lòng mình hay liên hệ với mình, người nghèo của Thiên Chúa là những người bị ảnh hưởng nhiều nhất bởi đại dịch. Chính họ, những người nghèo đau khổ là thân thể đích thực của Đức Kitô (x. Mt 25) và là đại diện chân thực nhất của Giáo hội, vì họ thuộc về cốt lõi của căn tính và hiện hữu của Giáo hội. Hiện diện ở Châu Á, lục địa có nhiều người nghèo nhất, Giáo hội cảm nhận nỗi đau của người nghèo như nỗi đau của chính mình và ý thức rõ nét hơn mình là Giáo hội của những người nghèo thế nào.
Giáo hội cũng ý thức rằng tội lỗi của con cái mình góp phần làm cho đại dịch trở nên trầm trọng hơn. Đại dịch đã không chỉ biến chúng ta thành nạn nhân mà còn phơi bày tội lỗi xấu xa của chúng ta, trong tư cách cá nhân và tập thể. Hiện diện ở Châu Á, với nhiều quốc gia mang tiếng vì nạn tham nhũng và bóc lột người nghèo, ngay cả khi đại dịch đang diễn ra, thành viên Giáo hội cần tự nhắc nhở rằng mình là tội nhân cần được tha thứ, sám hối và hoán cải. Với tư cách là thừa tác viên của Giáo hội, chính chúng ta đã không chỉ ngăn cản mà còn đẩy anh chị em chúng ta xa khỏi vòng tay yêu thương tha thứ của Mẹ Giáo hội. Trong tâm trí chúng ta, trong những quy chuẩn và cấu trúc xã hội chúng ta luôn tồn tại một loại “virus” của ích kỷ, dửng dưng và bóc lột, mà Covid-19 chỉ là chất xúc tác làm cho nó mạnh hơn[4]. Vì thế, Giáo hội tại Châu Á hậu đại dịch, dựa vào lòng thương xót vô biên của Thiên Chúa không chỉ sám hối mà còn hoán cải bằng cách thực hiện những phương cách ngăn chặn để những “đại dịch” về đạo đức như thế không xảy ra nữa.
Tóm lại, Giáo hội tại Châu Á hậu đại dịch sống mầu nhiệm Làm Người bằng cách ý thức và thừa nhận thân thể tính của mình, vốn mỏng giòn trước đau khổ và các biến động lịch sử. Sống thân thể tính này và cùng đau khổ với nhân loại, Giáo hội sống căn tính đích thực của mình không chỉ như là thực tại đến từ Thiên Chúa mà còn là Giáo hội hiện hữu trong thế giới và cho thế giới (x. Gaudium et Spes, 1).
- Vượt qua từ đau khổ tới chữa lành – một Giáo hội của mầu nhiệm Vượt Qua
Công cuộc Làm Người của Đức Kitô liên hệ chặt chẽ và hướng về mầu nhiệm Vượt Qua như là đỉnh điểm và sự hoàn thành của mình[5]. Tương tự, thân thể tính mỏng giòn của Giáo hội Á Châu chỉ có ý nghĩa và giá trị đích thực khi được nhìn trong ánh sáng mầu nhiệm Thập Giá và sự Phục Sinh của Đức Kitô (x. Giáo Lý Hội Thánh Công Giáo, 618). Giáo hội trải qua đại dịch không chỉ như một trong số những tai hoạ của lịch sử mà còn như một trải nghiệm cụ thể của mầu nhiệm Vượt Qua.
Đức Kitô, với “thân thể” của mình, đã có thể mang lấy tội lỗi, bệnh tật của nhân loại và chữa lành họ (x. 1Pr 2,24). Cũng thế, thân thể tính mỏng giòn là cơ hội và phương thế để Giáo hội sống mầu nhiệm Vượt Qua của Đầu của mình. Quả thế, các trải nghiệm chúng ta có trong đại dịch mang đầy đủ những nét của kinh nghiệm Thập Giá và Phục Sinh của Đức Kitô. Thực tế, rất nhiều người, đặc biệt là những người nghèo khổ, đã sống mầu nhiệm ấy cách anh hùng trong suốt đại dịch[6]. Giáo hội hậu đại dịch vẫn mang và cần duy trì dấu ấn không phai nhòa của Mầu nhiệm Vượt Qua ấy.
Như người tôi tớ đau khổ, âm thầm mang lấy tội của người khác mà không mở lời than trách (x. Is 52,13–53,12), nhiều người, ngay cả những tội nhân như chúng ta, đã chịu đau khổ cách vô cớ mà không lên tiếng than trách bất kỳ ai khác. Đây vẫn còn là hoàn cảnh hiện tại khi mà cuộc chiến vô cớ ở Ukraina đang diễn ra. Bao người dân vô tội trên toàn thế giới vẫn đang âm thầm chịu đựng những khó khăn và đau khổ do cuộc chiến gây ra, chỉ vì tham vọng ích kỷ của một số ít người. Những đau khổ bất công vô cớ này sẽ vô nghĩa và vô ích nếu không được trải nghiệm dưới ánh sáng của Thập giá Đức Kitô. Chính ở đây chúng ta thấy vai trò của Giáo hội đối với thế giới: Giáo hội hiện hữu để cùng trải qua những thăng trầm, cùng đau khổ với thế giới, nhưng cũng để chiếu ánh sáng ý nghĩa vào những trải nghiệm đen tối của thế giới đau khổ. Giáo hội là và nên là Giáo hội của mầu nhiệm Vượt Qua. Chỉ Đức Kitô, Đấng âm thầm chịu những đau khổ vô cớ và bất công, nhưng với tình yêu dành cho Chúa Cha và toàn nhân loại, chỉ Ngài mới có thể mang lại cho chúng ta ánh sáng của ý nghĩa, của hy vọng và của sự sống. Nhìn lên Đức Kitô trên Thập giá, Giáo hội hậu đại dịch không chỉ ý thức những đau khổ và tội lỗi của con cái mình, nhưng còn đảm nhận thân thể tính mỏng giòn của mình cách vâng phục và với tình yêu. Cái “nhìn” này, vốn là thái độ đức tin nội tâm, là bước đầu tiên quan trọng hướng tới chữa lành và cứu độ (x. Ga 3,14-15; Ds 21,8-9), trước khi chúng ta bàn về các phân tích và kế hoạch mang tính khoa học, xã hội hay mục vụ. Việc nhấn mạnh mầu nhiệm Vượt Qua rất phù hợp với người dân Châu Á, nhiều người trong số họ rất sùng kính các cử hành Tuần Thánh và linh đạo Thập Giá[7]. Hơn nữa, nhiều người, nếu không muốn nói là đa số người dân Châu Á đang sống mầu nhiệm Vượt Qua trong suốt lịch sử bị bách hại hay đàn áp của họ, trong quá khứ cũng như hiện tại. Tinh thần của mầu nhiệm Vượt Qua đã ở trong xương máu họ.
Tuy nhiên, đại dịch không chỉ gợi lên đau khổ và tội lỗi, mà còn là khoảnh khắc của ân sủng; nó đưa ra những cơ hội chứ không chỉ thách đố; nó đã gây tổn thương cho chúng ta nhưng cũng làm chúng ta mạnh mẽ hơn cả về mặt thể lý, xã hội, luân lý và đức tin. Thực tại Phục Sinh đã được thể hiện trong suốt đại dịch và sau đó. Đức Kitô Phục Sinh và Thần Khí của Ngài hoạt động mạnh mẽ nơi những người hy sinh ích lợi cá nhân để phục vụ người khác, nơi những sáng tạo, liên đới và biến đổi trong nhiều khía cạnh của đời sống cá nhân và xã hội[8]. Giáo hội hậu đại dịch đã vượt qua đại dịch dưới cờ của Đấng Phục Sinh và vẫn cần giữ Tinh Thần Phục Sinh của Ngài sống động trong đời sống và hoạt động của mình. Một cách thực tiễn, điều này có nghĩa canh tân phụng vụ, hoạt động mục vụ, tổ chức và các yếu tố hữu hình khác của Giáo hội, sao cho Giáo hội luôn có thể đáp ứng các nhu cầu luôn thay đổi của con người. Sống tinh thần Phục Sinh cũng có nghĩa quan tâm hơn tới người nghèo, không chỉ loan báo Tin Mừng cho họ bằng lời nói mà còn hỗ trợ thực tế để họ có đời sống tốt đẹp hơn. Cuối cùng, sống tinh thần Phục Sinh còn có nghĩa bức gốc tội lỗi nơi con cái của Giáo hội, bằng cách thay đổi lòng (meta-noia) và thay đổi lối sống, chống lại tinh thần và lối sống thế gian.
Đức Kitô Phục Sinh, khi hiện ra với các môn đệ, dù vẫn mang những vết thương của Thập giá, mang đến cho họ bình an, hiệp nhất, tha thứ, chữa lành ,v.v… (x. Ga 20,24-29). Ngài mang đến ơn cứu độ dưới nhiều dạng thức khác nhau, tương ứng với nhu cầu đa dạng của những con người khác nhau. Tương tự, Giáo hội hậu đại dịch, dù vẫn mang nơi mình những hậu quả của đại dịch, luôn khao khát mang đến cho con người sự chữa lành toàn diện phát xuất từ Thiên Chúa nơi Đức Kitô và Thần Khí của Ngài. Sự chữa lành toàn diện này bao gồm mọi chiều kích thiêng liêng, luân lý, xã hội, thể lý và vũ trụ.
Tóm lại, sống trong đại dịch, Giáo hội tại Châu Á sống mầu nhiệm Thập Giá của Đức Kitô; vượt qua đại dịch, cả theo nghĩa đen và nghĩa thiêng liêng, Giáo hội được chữa lành và trở nên sống động hơn nhờ Thần Khí của Đấng Phục Sinh. Giáo hội tại Châu Á hậu đại dịch có thể tiếp tục sống mầu nhiệm Vượt Qua bằng cái nhìn đức tin hướng lên Thập Giá, đảm nhận những đau khổ bằng Tinh Thần vâng phục và yêu thương mà Đức Kitô dành cho Thiên Chúa và nhân loại. Giáo hội tiếp tục để Tinh Thần này làm cho mình sống động bằng nỗ lực liên tục canh tân chính mình nhằm mang lại sự chữa lành toàn diện cho nhân loại.
- Hiệp hành – một Giáo hội của mầu nhiệm Hiện Xuống
Đại dịch cho thấy chúng ta liên hệ với nhau thế nào, cả về thể lý, tâm lý lẫn xã hội và lịch sử, rằng không ai có thể được cứu đến khi tất cả được cứu. Từ đại dịch, nhân loại đã học bài học liên đới và đã có nhiều nghĩa cử cao đẹp ở mọi cấp độ cá nhân, cộng đoàn, quốc gia và quốc tế[9]. Giáo hội hậu đại dịch có thể tham gia và đồng hành với nhiều người thiện chí trong nỗ lực liên đới này, và hiệp hành là phương thế thức thời để làm việc này.
Với “thân thể” mình, Đức Kitô hiện diện giữa chúng ta, nhưng sự hiện diện thể lý của Ngài dẫn đưa chúng ta đến một thể thức hiện diện khác của Ngài, mang tính thiêng liêng, vốn đạt đỉnh cao nơi sự Phục Sinh và việc trao ban Thần Khí của Đấng Phục Sinh. Điều này diễn ra rõ nét trong ngày Lễ Ngũ Tuần, khi Thần Khí hiện xuống trên các môn đệ Đức Kitô. Đây cũng là kinh nghiệm của chúng ta ngày nay về sự hiện diện của Ngài. Chúng ta có thể xem xét ba đặc tính của mầu nhiệm Hiện Xuống, có thể áp dụng cho tiến trình hiệp hành mà Giáo hội đang tiến hành: hiện diện, hướng tha và thúc bách.
Trước hết, đặc tính hiện diện: Khi đón nhận Thần Khí của Đấng Phục Sinh vào ngày Lễ Ngũ Tuần, các tông đồ không còn giam hãm mình trong sợ hãi nữa. Cảm nhận thế giới là nhà, họ lao ra khỏi phòng kín và lao vào thế giới để gặp gỡ con người thuộc các văn hóa khác nhau, nói với họ về Tin Mừng theo cách mà họ hiểu được (x. Cv 2,1-11). Hiệp hành không chỉ là lên kế hoạch và làm việc chung với nhau, không chỉ là chia sẻ cái “có” và cái “làm” của nhau, mà trước hết là tham dự vào cái “là” của nhau. Hiệp hành trước hết đến từ việc thưởng ngoạn sự hiện diện của nhau cách tự nhiên, với niềm vui và tình yêu, từ việc lắng nghe nhau cách sâu xa và thấu cảm, từ việc đồng hành với nhau trong niềm vui nỗi buồn của cuộc sống, v.v… Như thế, hiệp hành chỉ về cái “là” của mầu nhiệm Giáo hội, chứ không chỉ nói lên điều Giáo hội phải “làm”; hiệp hành thuộc về chính bản chất của Giáo hội chứ không chỉ là đặc nét trong cách Giáo hội quản trị và thi hành sứ vụ. Các trải nghiệm trong đại dịch đã dạy và chuẩn bị chúng ta cho một sự hiệp hành chặt chẽ hơn với toàn nhân loại, Giáo hội hậu đại dịch được mời gọi tiếp tục tinh thần đó.
Thứ hai, đặc tính hướng tha: Có thể nói rằng, các môn đệ Đức Kitô đón nhận Thần Khí không chỉ khi đang tụ họp trong nhà (x. Cv 2,2-4), mà còn trong khi họ gặp gỡ con người và rao giảng Tin Mừng cho họ (x. Cv 2,5tt). Tương tự, tinh thần hiệp hành mời gọi chúng ta hướng về người khác, hiện diện, đồng hành và rao giảng Tin Mừng cho họ. Khi nói về “người khác”, ba “đối tác” có thể được nhấn mạnh trong tiến trình hiệp hành của Giáo hội tại Châu Á. Trước tiên, hiệp hành cần được tiến hành từ cấp độ căn bản nhất là gia đình, vốn có thể được gọi là “Giáo hội tại gia” (LG 11); nói cách khác, Giáo hội cần hiệp hành ngay ở cấp độ tại gia của mình. Các gia đình đã trải qua đại dịch với những mất mát và hồi sinh riêng của mình[10]. Một trong những nét thiết yếu của Giáo hội tại gia là khả năng hình thành một mái ấm, một cộng đoàn những ngôi vị yêu thương, đối thoại với nhau (x. Familiaris Consortio, 18), chứ không chỉ là nơi trú ngụ của những cá nhân. Tiến trình hiệp hành mời gọi Giáo hội hậu đại dịch đặc biệt chú trọng mục vụ chăm sóc gia đình. Cùng với đó là mục vụ giới trẻ, những người mà tương lai của họ là một tình trạng “bình thường mới” vốn không thể bình thường lại như xưa. Xét rằng Châu Á là lục địa đông người trẻ và rằng tinh thần đặt nặng các giá trị gia đình của người Châu Á đang bị thách đố mạnh mẽ bởi chủ nghĩa toàn cầu hoá, hiệp hành ở cấp độ gia đình và người trẻ có thể là một trong những điểm nhấn của Giáo hội tại Châu Á hậu đại dịch.
Thứ đến, Giáo hội cũng có thể sống tinh thần hiệp hành với những người ngoài biên giới hữu hình của mình, những người thuộc tôn giáo khác, những người thiện chí, v.v… Với “thân thể” mình, Đức Kitô đã tham dự vào lịch sử và các điều kiện nhân sinh khác của chúng ta. Theo nhiều nghĩa, Ngài dựa vào chúng ta và lịch sử chúng ta để hoàn thành hiện hữu và sứ mạng mình. Mang lấy hiện hữu nhân sinh, Đức Kitô suy nghĩ và làm việc theo cách chúng ta suy nghĩ và làm việc; Ngài học cách vâng phục Cha, tức là thực hiện cái “là” của mình như là Con Thiên Chúa, bằng cách chịu đau khổ nơi “thân thể” Ngài (x. Hr 5,8). Tương tự, Giáo hội tại Châu Á có thể trở nên chính mình bằng cách học vâng phục trong những biến động của lịch sử nhân loại. Như Đức Kitô, Giáo hội dựa vào con người để hoàn thành hiện hữu và sứ mạng mình. Xét rằng người Công giáo chỉ là thiểu số nhỏ ở Châu Á, dạng thức hiệp hành này càng trở nên cấp bách và cần thiết hơn lúc nào hết đối với Giáo hội hậu đại dịch.
Cuối cùng, hiệp hành cũng có thể áp dụng cho mối tương quan của chúng ta với vũ trụ và thiên nhiên. Dù tác động trên mọi khía cạnh đời sống con người, đại dịch Covid-19 được cảm nhận trước hết như là cuộc tấn công vào thân xác chúng ta, vốn là một phần của “một toàn thể, mà toàn thể đó cấu thành sự hiệp nhất của toàn bộ vũ trụ vật chất”[11]. Nói cách khác, thân xác là cách thức chúng ta sống mối tương quan thuộc về vũ trụ và thiên nhiên. Tấn công vào thân xác chúng ta, đại dịch cho thấy sự xung khắc giữa chúng ta và thiên nhiên; nó dạy chúng ta bài học cay đắng rằng phá hủy thiên nhiên là phá hủy chính mình. Hiện diện với thiên nhiên, thưởng ngoạn sự hiện hữu của nó, lắng nghe “tiếng rên xiết và quằn quại” của nó (x. Rm 8,22), đồng hành với nó trong những thay đổi và tiến hóa của nó, v.v… đó chỉ là một vài trong nhiều cách thức chúng ta có thể làm để hiện thực hóa hiệp hành với thiên nhiên. Đã từ lâu chúng ta được mời gọi quan niệm việc “làm chủ thiên nhiên” (x. St 1,26.28) không như mối tương quan một chiều, sử dụng thiên nhiên nữa, mà như cùng “nhảy múa” với thiên nhiên theo nhịp điệu của Ba Ngôi[12]. Xét rằng người dân Châu Á có mối tương quan rất đặc thù với thiên nhiên – vừa chìm đắm trong thiên nhiên vừa phá hoại thiên nhiên tàn bạo – Giáo hội tại Châu Á hậu đại dịch được mời gọi chú trọng cấp độ này của tiến trình hiệp hành.
Đặc tính thứ ba của hiệp hành, thúc bách: Trong biến cố Hiện Xuống, chúng ta nhận thấy trong tâm trí các môn đệ Đức Kitô có một cảm thức thúc bách, tương tự như điều thánh Phaolô diễn tả sau này (x. 2Cr 5,14). Sau khi nhận Thần Khí, họ tức khắc bắt đầu nói các thứ tiếng mà Thần Khí làm cho họ có thể nói (x. Cv 2,4); các hoạt động truyền giáo của họ sau này cũng cho thấy cảm thức thúc bách đó. Tương tự, tiến trình hiệp hành không hề là một cuộc tụ họp vui chơi của những người thích tận hưởng những thú vui hời hợt, nhưng hiệp hành gợi lên một cảm thức cấp bách nơi chúng ta. Người ta hay mô tả tình hình hậu đại dịch như là “bình thường mới”, bởi lẽ cuộc sống trong tình huống “khẩn cấp” rất dễ gây căng thẳng và chỉ có thể tiếp diễn trong một tình huống “bình thường”. Âu cũng là lẽ thường tình, chúng ta có khuynh hướng muốn cuộc sống trở lại bình thường. Tuy nhiên, đại dịch cũng cảnh báo chúng ta về tình huống “khẩn cấp” về nhiều mặt của nhân loại, để chúng ta không tự mãn phớt lờ các vấn đề và cho rằng mọi thứ vẫn diễn tiến bình thường. Tin Mừng cũng mời gọi chúng ta tránh lối sống ỷ y, tự mãn hay hưởng thụ như thể thế giới đang trong trạng thái bình thường (x. Lc 12,16-20) mà cần phải sống như trong tình huống cấp bách, vì thế giới này đang qua đi và Đức Kitô sắp đến rồi (x. 1Cr 7,29-31). Tính thúc bách của Tin Mừng mời gọi chúng ta xác quyết sâu xa về căn tính Kitô hữu, sẵn sàng tìm mọi cách dấn thân, sẵn sàng chịu cực khổ để loan truyền chân lý và giá trị Phúc Âm, cũng như sẵn sàng hy sinh thân mình cho Thiên Chúa và cho anh chị em đồng loại, v.v… Châu Á, lục địa đông dân nhưng với tỉ lệ Kitô hữu nhỏ bé, gợi lên trong chúng ta cảm thức cấp bách đó của Tin Mừng; chúng ta không được phép mãn nguyện, ỷ y với những thành quả trong những giáo xứ nhỏ bé của mình; đồng lúa của Chúa vẫn bao la rộng lớn và chín vàng, cần nhiều thợ gặt. Châu Á cũng là vùng đất của nhiều vị tử đạo, trong quá khứ cũng như hiện tại; người dân Châu Á, không chỉ hiền lành và tìm kiếm sự hài hoà, mà còn kiên định, dấn thân và sẵn sàng hy sinh. Phúc Âm đã đến với Châu Á qua các thừa sai ngoại quốc cũng như bản địa, những người sống cảm thức thúc bách của Tin Mừng. Ngày nay, Kitô hữu Á Châu vẫn cần để Tin Mừng thúc bách chúng ta giữ cho ngọn lửa đức tin và loan truyền ơn cứu độ cho chính đồng bào mình và những người khác.
Tóm lại, thân thể tính là cách thế thức thời để Giáo hội sống hiệp hành, vốn là hoa trái của Thần Khí và thuộc về bản chất Giáo hội. Giáo hội tại Châu Á hậu đại dịch được mời gọi đồng hành cách đặc biệt với các gia đình, với người trẻ; Giáo hội cũng cần tiếp tục mở ra với mọi người thuộc mọi văn hóa, tôn giáo khác, và ngay cả với thiên nhiên.
Kết luận, bắt đầu bằng hình ảnh “thân thể” mà Đức Kitô nhận lãnh từ Thiên Chúa khi làm người, chúng ta đã khám phá một hình ảnh về Giáo hội tại Châu Á liên kết chặt chẽ với các mầu nhiệm của Đức Kitô và Thần Khí. Thân thể tính của Giáo hội là phương thế quan trọng để Giáo hội sống mầu nhiệm Làm Người, Vượt Qua và Hiện Xuống, cùng đi với nhân loại trên con đường hướng về Thiên Chúa, Đấng là nguồn và cùng đích mọi sự.
Trích Bản tin Hiệp Thông / HĐGMVN, Số 133 (Tháng 1 & 2 năm 2023)
[1] X. Albert Vanhoye, L’ Epistola agli Ebrei – “Un Sacerdote Diverso”, trans. Carlo Valentino (Bologna: Centro Editoriale Dehoniano, EDB, 2010), 25-27, 220-221; Raymond Brown, Josephy Fitzmyer and Roland Murphy, eds., The New Jerome Biblical Commentary (New Jersey: Prentice Hall, 1990), 938.
[2] “Người nghèo” ở đây bao gồm tất cả những ai đã qua đời trong cô đơn vì đại dịch, những ai mất người thân mà không thể nhìn thấy họ lần cuối, những trẻ em mồ côi, những người mất việc, những người đói khổ vì đại dịch, v.v…
[3] Châu Á thiệt hại với gần 200 triệu người phát hiện bị nhiễm và khoảng 1,5 triệu người chết vì Covid-19 (x. https://www.worldometers.info/coronavirus/, truy cập ngày 23.09.2022), cùng với các hậu quả nghiêm trọng khác liên quan đến gia đình, công việc, kinh tế, cuộc sống của người dân. Về phần Giáo hội, các hiện tượng như nhà thờ bị đóng cửa, mọi hoạt động phụng vụ và mục vụ bị ngưng, cộng đoàn bị phân tán vì đại dịch, v.v… đã để lại những hậu quả còn tồn đọng lâu dài, với mức độ khác nhau tuỳ vào nơi chốn và văn hóa (x. FABC- OTC, The Body of Christ in the Pandemic: Theological Reflection from Asian Perspectives, Part 1, B; tài liệu có thể được tải về từ https://fabc.org/document/fabc-papers-168 và https://fabc.org/document/fabc-papers-169/).
[4] X. FABC-OTC, The Body of Christ in the Pandemic, Part 2, A, II, 1; C, II. Chúng ta có thể nghĩ tới gần 2000 chuyến bay mang danh là “giải cứu” nhưng thực chất là bóc lột đồng bào, các hợp đồng mờ ám trong việc mua sắm thiết bị y tế xảy ra ngay trong đại dịch, v.v…
[5] Hans Urs von Balthasar, Mysterium Paschale: The Mystery of Easter, trans. Aidan Nichols, O.P. (Michigan: William B. Eerdmans Publishing Co., 1993), 11-48.
[6] X. FABC-OTC, The Body of Christ in the Pandemic, Part 2, A, II, 2.
[7] Ví dụ, ở Philippines và Việt Nam, không kể những thực hành cực đoan mang tính mê tín, đối với nhiều người qua nhiều thế kỷ, các cử hành trong Tuần Thánh là xương sống của năm phụng vụ. Đời sống thiêng liêng của nhiều người vốn nguội lạnh suốt năm phụng vụ, bỗng trở nên sống động trong Mùa Chay và Tuần Thánh, với những cử hành mang đậm nét văn hóa riêng hoặc đã bắt rễ sâu xa vào văn hóa họ qua nhiều thế kỷ
[8] Điều này được mô tả chi tiết hơn trong tài liệu FABC-OTC, The Body of Christ in the Pandemic.
[9] Những nghĩa cử cao đẹp như chăm sóc người bệnh trong gia đình, làng xóm, phân phát thức ăn, bình oxy, v.v… ở cấp độ địa phương và quyên tặng vaccine, thuốc men, v.v… ở cấp độ quốc gia và quốc tế.
[10] X. FABC-OTC, The Body of Christ in the Pandemic, Part 2, A, II & III.
[11] Karl Rahner, “Death” in Encyclopedia of Theology – The Concise Sacramentum Mundi, ed. K. Rahner (New York: Burns & Oates, 1975), 330: “the totality which constitutes the unity of the material universe”.
[12] Cf. FABC-OTC, The Body of Christ in the Pandemic, Part 3, C.
