2021
Tưởng nhớ cha Jean-Baptiste Etcharren: “Đẹp thay bước chân những sứ giả loan báo tin mừng” (Rm 10, 15)
Linh mục Phêrô Võ Xuân Tiến,
Tổng Giáo phận Huế
“Đại Ân nhân” là từ ngữ được thốt lên trên môi miệng của nhiều Kitô hữu Việt Nam nói chung và của Giáo phận Huế nói riêng, trước sự ra đi của Cha Jean-Baptiste ETCHARREN, một “vị thừa sai kiệt xuất”, một “nhà truyền giáo đích thực”, một “thành viên đáng kính và gương mẫu”, một “món quà vô giá” được ban cho Giáo hội Công giáo Việt Nam.
Cha J.B. ETCHARREN, thuộc Hội Thừa Sai Paris (MEP) và là Linh mục của Tổng Giáo phận Huế, đã trút hơi thở cuối cùng lúc 9g15, ngày lễ thánh Matthêu Tông đồ (21/9), tại Đại Chủng viện Huế, trước sự hiện diện của nhiều người đang quây quần bên ngài. Một sự chết lành, bình an, thanh thản và thánh thiện. Tôi hiện diện cạnh vị ân nhân và là người Cha đáng kính của tôi trong những giây phút cuối đời của ngài, dù ngài đang hôn mê. Khi vị bác sĩ bấm các huyệt để xem nhịp đập trái tim và hơi thở của ngài, và rồi rút ống oxy ra, thì tôi hiểu ngài đã qua đời. Tôi vội nói với cha Giuse Lê Văn Hồng, quản lý giáo phận Huế, “hỏi bác sĩ có phải ngài qua đời rồi không ?”, thì bác sĩ gật đầu xác nhận với với cha Quản lý như vậy. Xung quanh ngài lúc đó có các linh mục trẻ khác, các nữ tu dòng Mến Thánh Giá Huế, dòng Con Đức Mẹ Vô Nhiễm, dòng Thánh Phaolô thành Chartres, một số người thân của Cha cũng như một số nhân viên của Chủng viện. Mọi người bắt đầu đọc kinh cầu hồn cho ngài, và công việc chuẩn bị tang lễ bắt đầu và đã kết thúc lúc tiễn đưa linh cữu ngài đến nơi an nghỉ cuối cùng tại nghĩa trang giáo sĩ ở Đại Chủng viện Huế, bên cạnh người bạn thân của ngài là cha Pierre Poncet. Đức Tổng Giuse, Cha Tổng Đại Diện Antôn, Cha Giám đốc ĐCV Huế…, cũng nhanh chóng có mặt để tiễn biệt ngài.
“Đẹp thay bước chân những sứ giả loan báo Tin Mừng !”
Trút hơi thở cuối cùng và thánh lễ an táng tại ĐCV Huế, có lẽ là điều ngài đã không nghĩ đến khi còn sống, nhưng thánh ý Chúa nhiệm mầu để ngài cảm nhận cách thiêng liêng và hài lòng, ở thế giới bên kia, về tình cảm nồng ấm của Tổng Giáo phận và gia đình Đại Chủng viện Huế. Không có sự hiện diện của người thân huyết tộc bên cạnh, nhưng sự hiện diện của gia đình thiêng liêng này còn đông đảo hơn nữa trong những ngày tang lễ của ngài. Các thánh lễ cầu hồn cho ngài liên tiếp nhau, những giờ kính viếng của biết bao người thụ ân ngài và cả những giờ canh thức thâu đêm của quý Thầy Đại Chủng viện và một số người thân của ngài, như muốn cho thấy ngài không cô đơn và đang ở trong trái tim của Giáo hội Việt Nam, của Tổng Giáo phận Huế, cũng nhiều như Giáo hội Việt Nam và Tổng Giáo phận Huế đã ở trong trái tim của ngài vậy. Thánh lễ an táng đã diễn ra thật sâu lắng, bùi ngùi và đầy thương tiếc về sự ra đi của một con người đã sống chết cho đất nước và dân tộc Việt Nam. Đây là lần đầu tiên, trong một Thánh lễ an táng, tôi được chứng kiến cử chỉ niệm hương trong tâm tình kính cẩn tri ân và kính trọng của các đại diện mọi thành phần dân Chúa của Giáo hội Việt Nam trước sự ra đi của một Linh mục thừa sai như thế ! Tất cả đó như là “phần thưởng” hữu hình nhỏ bé mà Chúa muốn dành cho “người tôi tớ trung tín” của Ngài, một người mà suốt 63 năm Linh mục của mình đã “ở giữa anh em như một người phục vụ” (Lc 22, 27). Và chắc chắn phần thưởng sẽ còn lớn lao hơn nhiều, hơn cả huân chương Bắc Đẩu Bội Tinh mà nước Pháp tặng cho ngài, đó là phần thưởng dành cho ngài ở trên trời, trong vòng tay của Chúa Giêsu, Mục Tử Nhân Lành, Đấng mà ngài luôn tín thác và làm chứng cho tình yêu của Người “ad gentes”. Quả là một kết thúc “đẹp thay bước chân những sứ giả loan báo Tin Mừng !» (Rm 10, 15).
“Hạt giống tốt”
“Giáo hội Việt Nam đã có thể thực hiện những tiến bộ to lớn này là nhờ những nỗ lực được Hội Thừa Sai Paris thực hiện trong việc gieo những hạt giống tốt trên các vùng đất loan báo Tin Mừng ở Việt Nam” (“L’Église vietnamienne a pu réaliser ces formidables progrès grâce aux efforts menés par les MEP pour semer de bonnes graines sur les terres d’évangélisation au Vietnam”)[1]. Đó là lời phát biểu của Đức cha Giuse Nguyễn Chí Linh, Tổng Giám mục Giáo phận Huế, trong cuộc hội ngộ “Un moment MEP” được Giáo hội Việt Nam tổ chức để tri ân Hội Thừa Sai Paris, ngày 18/4/2018. Và một trong những “hạt giống tốt” mà không ai có thể phủ nhận này là cha J.B. Etcharren, người cũng đã từng phát biểu, trong sự kiện này và cũng là dịp kỷ niệm 60 năm linh mục của ngài, rằng: ”Tôi yêu đất nước Việt Nam và tôi coi đất nước này như quê hương của chính tôi” (“J’aime le Vietnam et je le vois comme ma propre patrie”). Hay một nơi khác, như lời Cha Tổng Đại diện Antôn nhắc lại trong bài tiễn biệt cuối cùng tại phần mộ của ngài, ngài nói: “Tôi đến Việt Nam để chiêm ngưỡng con người và văn hóa nước Việt”. Còn hơn cả chiêm ngưỡng, ngài đã đến “cư ngụ giữa chúng ta” (Ga 1, 14), đã trở thành người Việt Nam đối với người Việt Nam, đã “nghiện” Việt Nam, như lời Đức Tổng Giuse trong lời phân ưu với Hội Thừa Sai Paris và gia đình của ngài, và đã biến Việt Nam (con người, lối sống, văn hóa, ngôn ngữ…) thành “máu huyết” của mình. Nếu Đức Thánh Cha Phanxicô luôn muốn “thúc đẩy một cuộc loan báo Tin Mừng trung thành với “phong cách” của Thiên Chúa và gần gũi với con người” (sứ điệp gởi cho Hội nghị thần học quốc tế ngày 21/9/2021), cũng như kêu gọi “hội nhập văn hóa” bằng việc “hãy đi vào đời sống của đoàn dân tín hữu, trong sự tôn trọng các phong tục, truyền thống của họ…” (sứ điệp cho Hội nghị về đời sống tu trì ở Châu Mỹ Latinh và Caribê, ngày 13/8/2021), thì Cha J.B. Etcharren đã cụ thể hóa những điều đó cách rõ nét nhất trong cuộc đời và ơn gọi thừa sai của mình.
“Ơn gọi truyền giáo”
Để hiểu tại sao một linh mục trẻ, chưa đầy ba tháng sau khi chịu chức, đã hăng hái lên đường đi truyền giáo tại Việt Nam lúc mới 26 tuổi (ngày 22/4/1958), dù biết rằng cái chết đang chờ đợi mình ở đó, chúng ta cùng lắng nghe bài phỏng vấn ngài do Hội Thừa Sai Paris thực hiện[2], qua đó Cha cho thấy cái nhìn của mình về “ơn gọi truyền giáo” này: “Những gì ưu tiên, đó là một ơn gọi nảy sinh trong tâm hồn của một người trẻ và làm cho đạt kết quả, làm cho thực hiện. Tại sao ? Bởi vì chiều kích ra đi đến với một dân tộc, đến với một Giáo hội ở nơi khác này, là điều thiết yếu đối với đức tin Kitô giáo, không chỉ theo quan điểm cá nhân, nhưng đối với chính Giáo hội. Sống chiều kích này của đức tin Kitô giáo là hoàn toàn thiết yếu, bất kể tình trạng nghèo nàn ngày nay của các Giáo hội tây phương, cách riêng của Pháp”.
Quả thế, có một phản đối hiện nay ở Pháp là tại sao giờ đây thiếu linh mục, nhưng vẫn có nhiều bạn trẻ muốn dấn thân đến những nơi xa xôi rao giảng Chúa Kitô, Cha Jean-Baptiste, lúc còn là Bề trên tổng quyền của MEP, đã trả lời cách xác tín: “Hoàn toàn không phải về số lượng linh mục mà cần phải nói đến, khi chúng ta nói về ơn gọi. Cũng tương tự đối với một người đi tu dòng chiêm niệm và dâng hiến trọn đời mình trong công việc cầu nguyện cho Giáo hội, cho thế giới. Đó là một ơn gọi đặc biệt”. Thật vậy, đối với MEP, ơn gọi truyền giáo này là một “ơn gọi đặc biệt”, “bổ sung” cho ơn gọi chiêm niệm và ơn gọi linh mục giáo phận, và không kém phần cần thiết hơn. Vị Đại Ân nhân của Giáo hội Việt Nam nói tiếp: “Nếu chúng ta nhìn vào toàn bộ Châu Á, lục địa bao la mà dân số biểu hiện, thì chỉ có hai phần trăm số người đã thực sự muốn đón nhận sứ điệp Kitô giáo này. Đối với chúng ta, vấn đề không phải là cạnh tranh bằng mọi giá để gia tăng con số Kitô hữu, làm lớn mạnh thể chế Giáo hội, nhưng đó là một quyền của mỗi người được đón nhận sứ điệp về Thiên Chúa cách hoàn toàn tự do và cả trong sự tôn trọng những lộ trình thiêng liêng của họ từ bao thế kỷ. Vai trò của chúng ta, đó là làm chứng cho niềm tin vào Chúa Giêsu Kitô, về việc chúng ta được nhận làm nghĩa tử trong Chúa Giêsu Kitô và về hạnh phúc biết mình được Thiên Chúa yêu thương này và có thể nói và biểu lộ điều đó bằng cách này hay cách khác”.
Tất cả những tâm tình sâu xa trên đây cho thấy rõ chính “Tình yêu Chúa Kitô thúc bách chúng tôi” (2Cr 5, 14) đã thúc đẩy ngài từ bỏ một cuộc sống yên bình nơi chính quê hương mình để mạo hiểm trên hành trình truyền giáo, trong sự khát khao dâng hiến và khiêm tốn phục vụ Chúa và con người, để rồi biến cuộc đời mình thành quà tặng cho tha nhân đến độ muốn gởi gắm thân xác ngài nơi lòng đất mẹ Việt Nam, một quà tặng mà Đức Tổng Giuse gọi là “vô giá” Chúa đã ban cho đất nước Việt Nam.
“Hai điều nuối tiếc”
Sự ra đi của ngài quả là một mất mát lớn cho Giáo hội Việt Nam. Trước tin buồn to lớn này, không biết bao nhiêu lời thương tiếc, bao nhiêu lời ngợi khen, bao nhiêu lời chúc tụng…đã ngập tràn trên các phương tiện truyền thông. Ngay cả người viết bài này cũng đã dành “biết bao lời có cánh” cho vị Linh mục không còn là “ngoại quốc” nữa, nhưng là “quốc nội” này, một vị Linh mục khả ái và rất đáng kính, âm thầm và khiêm tốn, đơn sơ và giản dị, gần gũi và dịu dàng, nhân ái và rộng lượng, luôn với nụ cười hiền hòa và đầy nhiệt huyết loan báo Tin Mừng “ad gentes”. Nhưng có lẽ những lời ca ngợi, tung hô, chúc tụng “có cánh” này là những điều mà, với tính cách của ngài, ngài không ưa thích chút nào. Xin Cha tha thứ cho chúng con về những điều này, bởi vì chúng con có thể nói gì hơn được khi mà sự khôn ngoan ngàn đời đã dạy chúng con rằng “De mortuis nihil nisi bonum dicendum est” (“Về người đã khuất, không có gì ngoài điều tốt được nói ra”). Xin Cha đừng xem đó là những lời chúc tụng, nhưng như là những điều tốt lành của một “hạt giống tốt” mà Chúa đã gieo vào mảnh đất Việt Nam và chấp nhận “mục nát” đi (x. Ga 12, 24) “để cho thế gian được sống và sống dồi dào” (Ga 6, 51 ; 10, 10) . Vậy, Cha không có “điều xấu” nào ? Thưa có, con xin mượn “hai điều nuối tiếc” mà Cha đã nói về bản thân mình, để coi đó như là «hai điều xấu” mà chúng con phải tránh hôm nay: a) làm việc vì vinh danh bản thân mà không vì vinh danh Chúa ; b) chỉ chiêm ngưỡng công trình do tay mình làm, mà không biết nhận ra và tôn trọng công trình mà Thiên Chúa thực hiện qua thiên nhiên và nơi tha nhân.
“Hai điều nuối tiếc”, mà Cha Jean-Baptiste đã để lại cho hậu thế như một “di chúc tinh thần”, một cách nào đó là lời sám hối chân thành từ sâu thẳm bản thân ngài, và cũng là lời mời gọi những người còn sống đi vào tâm tình “hoán cải mục vụ” đó, để cuối cùng nhận ra rằng “chúng ta phải học tất cả nơi Chúa Giêsu”, là “để Nước Chúa trị đến”, để tất cả các con đường phục vụ phải “dẫn lối về với Chúa Kitô”. Chúng con thành kính cảm ơn Cha.
“Reverentissime Pater, requiescat in pace Domini” !
Nguồn: xuanbichvietnam.net (24.9.2021)
[1] Xem bản tin “À Hué, l’Église locale salue l’engagement des MEP au Vietnam” (https://missionsetrangeres.com/eglises-asie/2018-04-25-a-hue-leglise-locale-salue-lengagement-des-mep-au-vietnam/)
[2] Xem video link phỏng vấn ở đây (https://www.youtube.com/watch?v=Q3xAu1FqXso).
2021
Năm điều một cố vấn linh hướng muốn nơi các bác sĩ Công giáo
Ngày nay, có những thách thức cũng như lợi thế riêng khi người Công giáo làm trong lãnh vực chăm sóc sức khỏe.
Bác sĩ y khoa Công giáo trong xã hội hiện nay có những thách thức và lợi thế riêng. Có thể khó nhận ra sự khác biệt khi đặt hai bác sĩ là Công giáo và không tín ngưỡng bên cạnh nhau. Tuy nhiên, các bác sĩ Công giáo hoàn toàn nhận thức rằng mình chỉ là khí cụ trong tay Thiên Chúa và Đức Kitô mới là tác nhân chính yếu trong việc chữa trị thánh thiêng.
Đức ông Dino Lorenzetti đã làm việc với các bác sĩ y khoa Công giáo trên nhiều cương vị trong hầu hết 70 năm sứ vụ của mình – bao gồm cố vấn linh hướng cho Hiệp hội Y khoa Công giáo và Phụ tá trong lãnh vực giáo hội cho Liên đoàn Quốc tế các Hiệp hội Y khoa Công giáo thời Giáo hoàng Phaolô VI và Gioan Phaolô II. Ngài đã tổng kết năm phạm vi giúp phân biệt các bác sĩ y khoa Công giáo với các bác sĩ thế tục. Đây là điều ngài muốn các bác sĩ y khoa Công giáo ý thức khi làm việc.
- BẠN LÀ ĐÔI TAY VÀ ĐÔI MẮT CỦA ĐỨC KITÔ VÀ CÔNG VIỆC CỦA BẠN LÀ LINH THÁNH
Sức mạnh của ân sủng Thiên Chúa thắp sáng và củng cố mọi việc bạn làm. Qua phép rửa, các bác sĩ y khoa Công giáo được trao ban một nhiệm vụ đặc biệt mang ánh sáng chữa lành của Đức Kitô đến cho các bệnh nhân. Bạn kết hợp với Đức Kitô nhờ Bí tích Thánh Thể khi bạn bước đi và làm việc với vị Thầy thuốc của Thiên Chúa, Đấng Chữa Lành. Đôi tay và đôi mắt của bạn là của Đức Kitô và công việc của bạn thật linh thánh khi bạn sống và phục vụ Nhiệm Thể của Ngài.
- LẤY KINH THÁNH LÀM MẪU GƯƠNG
Kinh thánh là nguồn cảm hứng và câu chuyện phong phú cho các thầy thuốc Công giáo. Bạn là chủ nhà trọ khi đón tiếp hay chối từ những người dễ bị tổn thương, ốm đau và thương tích vào phòng làm việc của mình. Bạn là tá điền trong vườn nho vì sức khỏe của dân Chúa được trao phó cho bạn. Khi làm với tình yêu thì không có hành động hay sự chữa lành nào là nhỏ bé, như bà Veronica, ông Simon người Cyrene, hay Dismas người trộm lành cùng bị đóng đinh với Chúa đã minh chứng khi họ bước đi với Đức Kitô trong cuộc khổ nạn của Ngài. Bạn là một mục tử tốt lành hướng dẫn bệnh nhân vượt qua thung lũng tăm tối của bệnh tật hay rối loạn sức khỏe.
- THÁNH THỂ, CHAY TỊNH VÀ CẦU NGUYỆN QUAN TRỌNG ĐỐI VỚI VIỆC CHỮA LÀNH
Các bác sĩ y khoa, thầy thuốc Công giáo có những công cụ trong kho khí giới y tế của họ mà xã hội thế tục hóa của chúng ta thường bỏ qua. Những ân huệ thiêng liêng của việc chay tịnh, cầu nguyện và rước lễ trước khi đảm nhận công tác hay ca chữa trị nghiêm trọng, đều có sẵn cho bạn. Sự hy sinh của bạn thật linh thánh – vì hạn từ “hy sinh” (sacrifice) có nguồn gốc từ tiếng Latin “sacer” và “facere”, có nghĩa là “làm cho linh thánh”. Như thế, bạn kết hiệp với Đức Kitô khi bạn mang sự chữa lành đến cho một thế giới bị tổn thương. Các thầy thuốc Công giáo lắng nghe những lời khôn ngoan từ sách Huấn ca khi tác giả khuyên rằng: “Hãy cầu xin Đức Chúa ban cho [bạn] tìm ra phương dược giúp giảm đau, chữa lành nhằm cứu sống người ta” (x. Hc 38,14).
- ĐAU KHỔ KHÔNG PHẢI LÀ VÔ ÍCH
Mầu nhiệm đau khổ và chịu đựng vượt quá mọi lời giải thích trên trần gian này. Tuy nhiên, các thầy thuốc Công giáo biết là đau khổ mang tính cứu chuộc, khi đó chúng ta kết hiệp với đau khổ của Đức Kitô vốn dĩ có một giá trị vượt bật. Trong khi có thể mang đến cho bệnh nhân mọi sự an ủi và chữa lành các bác sĩ cũng có thể đem lại hy vọng rằng cơn đau có lẽ có một ý nghĩa nào đó, giúp mang bệnh nhân đến gần với Chúa Giêsu. Đau đớn xảy ra không phải là vô ích. Đau đớn có thể không chỉ về mặt thể lý; các bác sĩ Công giáo còn đối diện với những người cô đơn, bị bỏ rơi, trầm cảm và vô gia cư. Không chỉ có kiếnthức y khoa, bạn có thể làm chứng cho Tin mừng; và những lời động viên, khẳng định và khuyên nhủ của bạn trở thành một loại dầu chữa lành.
- BÁC SĨ CÔNG GIÁO PHẢI CAN ĐẢM
Ngày nay hành nghề y khoa cần sự can đảm. Nếu bác sĩ Công giáo lên tiếng chống lại điều luật pháp định, những nhóm vận động đầy quyền lực của các công ty bảo hiểm, hay những nhóm lợi ích đặc biệt; thì họ không thể tránh khỏi việc bị chế nhạo hoặc thậm chí trả đũa. Tuy nhiên, tuyên bố sự sống ở mọi giai đoạn đều thánh thiêng và không đồng ý với chính phủ hoặc các nhóm phổ biến và có thế lực, về giáo lý sự thật, đặt các bạn vào hàng ngũ các vị thánh. Các bác sĩ như thế nhìn thấy mỗi bệnh nhân là anh chị em trong Đức Kitô và mọi người đều được tạo dựng theo hình ảnh Thiên Chúa. Sứ mạng của Chúa Giêsu được tiếp tục trong việc mang lại sự sống. Các bác sĩ Công giáo luôn luôn tâm niệm lời dạy của Chúa: “Ta là đường, là sự thật và là sự sống”. Tác giả: Barbara Stoyell-Mulholland
Chuyển ngữ: ĐCV Sao Biển
Từ: aleteia.org (15.9.2021)
2021
Các Giáo hội cử hành Ngày Quốc tế Di cư và Tị nạn
Chúa nhật 26/9/2021, Ngày Quốc tế Di cư và Tị nạn lần thứ 107, với chủ đề “Hướng đến một ‘chúng ta’ luôn mở rộng hơn”, được gợi hứng từ lời kêu gọi của Đức Thánh Cha trong thông điệp Fratelli tutti: “Cuối cùng không còn ‘những người kia’, mà chỉ có một ‘chúng ta’” (Fratelli tutti, 35).
Chiến dịch của Bộ Phục vụ Phát triển Con người Toàn diện
Trong tinh thần này, trong nhiều tháng qua, Bộ Phục vụ Phát triển Con người Toàn diện đã phát động một chiến dịch truyền thông tập trung vào chủ đề đã được Đức Thánh Cha Phanxicô chọn. Trong video của chiến dịch, Đức Thánh Cha nói: “Chúng ta được kêu gọi để cùng nhau ước mơ, đừng ngại mơ ước, cùng nhau ước mơ như một nhân loại duy nhất, những người bạn đồng hành trên cùng hành trình, là những người con của chính mảnh đất này, là ngôi nhà chung của chúng ta, tất cả là anh chị em”.
Ngoài ra, trong video này, còn có những lời chứng của hai thiếu nữ người Venezuela đến Colombia với hành trang đầy bất an nhưng cũng không thiếu những ước mơ. Hiện nay, cả hai đang tham gia một khóa học cắt may, đã giúp họ có đủ can đảm và bắt đầu lại.
Một trong hai thiếu nữ nói: “Chúng tôi, những người di cư luôn lo sợ trước điều mới lạ, những thứ chúng tôi chưa bao giờ biết đến và chúng tôi không biết mình sẽ làm như thế nào. Nhưng giờ đây, tôi thực sự tin rằng, chúng ta không nên sợ những gì chúng ta chưa biết. Tôi muốn nói rằng, chúng ta đừng ngại ước mơ”.
Một thiếu nữ khác nói: “Cùng nhau, tất cả chúng ta đều có thể có một tương lai, bởi vì chúng ta đều là anh chị em. Tôi tin rằng, con đường mà chúng ta đang đi đều giống nhau, bởi vì Chúa có một mục đích riêng cho mỗi người. Tôi thấy chúng ta có thể sống trong một ngôi nhà chung, như anh em, chia sẻ trong bình an và hạnh phúc, hòa thuận với nhau”.
Video
Giáo hội Peru yêu cầu chính phủ thực hiện chính sách và đảm bảo nhân quyền cho người di cư
Đối với các Giáo hội địa phương, hưởng ứng Ngày Quốc tế Di cư và Tị nạn, một số Hội đồng Giám mục đã có những chương trình, những dự án hoặc kêu gọi chính phủ quan tâm hơn đối với người di cư.
Trong một tuyên bố, Hội đồng Giám mục Peru viết: “Chúng tôi yêu cầu các nhà chức trách thực hiện các chính sách di cư hoàn chỉnh và công bằng, đảm bảo nhân quyền cho người di cư. Do đại dịch, thế giới tiếp tục gia tăng mức chênh lệch kinh tế và xã hội. Ở Peru, đại dịch đặc biệt ảnh hưởng đến người di cư, người tị nạn và người xin tị nạn, những người có chất lượng cuộc sống và khả năng tiếp cận các quyền như sức khỏe, lương thực và công việc bấp bênh. Trẻ em và người già là thành phần phải trả giá nhiều nhất cho tình trạng này”.
Sau đó, các Giám mục Peru nhắc lại một số dữ liệu: đại dịch đã tác động mạnh đến 280 triệu người di cư và 82,4 triệu người phải di dời trên thế giới, và còn hàng ngàn người phải di dời trong nước. Tất cả những người này cần được nâng đỡ để họ có thể “giữ niềm tin, hòa nhập, tôn trọng và làm giàu cho các cộng đồng quảng đại tiếp nhận họ”.
Các Giám mục khẳng định: “Chúng tôi liên đới với hàng ngàn người di cư thuộc nhiều quốc tịch đang có mặt tại đất nước chúng ta, đặc biệt hàng trăm ngàn người di cư Venezuela. Chúng tôi yêu cầu các nhà chức trách thực hiện các chính sách di cư hoàn chỉnh và công bằng để đảm bảo nhân quyền cho những người phải di cư”.
Nhắc lại những lời của Đức Thánh Cha, Giáo hội Công giáo Peru kêu gọi xã hội “nỗ lực hết sức để phá bỏ những bức tường ngăn cách chúng ta và xây dựng những nhịp cầu ủng hộ văn hóa gặp gỡ”, nhằm “vượt qua nỗi sợ hãi và nhờ đó chúng ta được phong phú bởi sự đa dạng”.
Các Giám mục kết thúc bằng lời cầu nguyện hướng đến Thánh Gia Nazareth, “gia đình di cư và tị nạn ở Ai Cập”, để “chúng ta có thể hình thành một chúng ta vĩ đại hơn bao giờ hết”. (CSR_6459_2021)
Người tị nạn
Ngày 25/9 Giáo hội Pháp khánh thành “Nhà Bakhita”, trung tâm đón tiếp người di cư
Tại Pháp, vào thứ Bảy ngày 25/9, Giáo phận Paris khánh thành “Nhà Bakhita”, trung tâm đón tiếp người di cư.
Trung tâm được lấy tên của thánh Giuseppina Bakhita, nữ tu dòng Canossian đến từ Nam Sudan. Bakhita sinh năm 1869, từ bé đã là một nô lệ, nhưng nhờ nỗ lực vươn lên không ngừng đã được trả tự do, trở thành nữ tu, và được phong thánh vào năm 2000.
Theo thông tin từ Giáo phận Paris, “Nhà Bakhita” muốn đóng góp vào việc trợ giúp người di cư, cung cấp một cuộc sống huynh đệ. Trong ngày khai trương, tại Trung tâm đã diễn ra nhiều cuộc gặp gỡ và hội thảo nhằm giải thích mục đích của Trung tâm; cách thức đồng hành với các giáo xứ trong việc chăm sóc mục vụ cho người di cư; việc đào tạo các tình nguyện viên. Trong ngày này, Trung tâm cũng khai trương một xưởng may để giúp người tị nạn hòa nhập xã hội, các sáng kiến nhằm giảm khoảng cách xã hội của họ thông qua tiếp cận kỹ thuật số và đồng hành hướng tới việc làm. Ngoài ra, còn có một cuộc triển lãm ảnh mang tên “Ngôi nhà chung”, và trình chiếu một bộ phim tài liệu về hiện tượng này do Giáo phận Paris thực hiện.
Dự án “Nhà Bakhita” được khởi động vào năm 2018 để đáp lại lời kêu gọi của Đức Thánh Cha trong việc chào đón, bảo vệ, thúc đẩy và hòa nhập người di cư, vì đây là “nghĩa vụ của công lý, văn minh và liên đới”. Cơ sở được xây dựng với sự tham gia của khoảng 40 trung tâm đối tác, 50 người di cư và khoảng một trăm tình nguyện viên. (CSR_6453_2021)
Người tị nạn
Giáo hội Ailen yêu cầu chính phủ giải quyết nhanh đơn xin tị nạn
Về phần Giáo hội Ailen, trong những ngày vừa qua, Đức cha Denis Nulty, Chủ tịch Ủy ban Chăm sóc Mục vụ người di cư thuộc Hội đồng Giám mục đã đưa ra một tuyên bố, trong đó yêu cầu chính phủ tôn trọng cam kết chào đón người di cư và tị nạn.
Đức cha nhấn mạnh: ngày cử hành này là một cơ hội để suy tư về cách chúng ta, quốc gia của một thế giới phát triển, đối xử với anh chị em, những người đến bờ biển của chúng ta để tìm kiếm sự giúp đỡ và nương náu. Suy tư này, càng đúng hơn khi chúng ta đang bước ra từ đại dịch Covid-19, phải đảm bảo cho những người dễ bị tổn thương không bị bỏ lại phía sau.
Đức cha nhấn mạnh đến sự chậm trễ trong việc xử lý các đơn xin tị nạn và bảo trợ quốc tế. Thực tế, hơn 5 ngàn người đang phải chờ đợi với một thời gian trung bình hơn hai năm. Đức cha hy vọng “một Ailen chào đón”, có khả năng “đón nhận và đối xử với những người di cư và tị nạn” như đã diễn ra gần đây với những người chạy trốn khỏi Afghanistan sau khi Taliban trở lại nắm quyền.
Chủ tịch Ủy ban Chăm sóc Mục vụ người di cư kết luận: “Chính phủ phải đảm bảo mọi thứ có thể được thực hiện để cải thiện cuộc sống của những người đến bờ biển của chúng ta tìm nơi trú ẩn hoặc làm việc. Người tị nạn và người di cư là những người có thể và muốn đóng góp cho Ailen. Tài năng của họ có thể giúp xây dựng một cộng đồng rộng lớn hơn với tất cả những lợi ích của sự đa dạng, trao đổi văn hóa và tiến bộ”.
(CSR_6447_2021)
Người tị nạn
Giáo hội Hoa Kỳ kêu gọi đối xử nhân đạo đối với người di cư Haiti
Ngược đãi, lạm dụng, hạn chế tiếp cận các nhu cầu thiết yếu như ăn uống, ngủ nghỉ: đây là thực tế đáng kinh ngạc của một số lượng lớn người di cư tại biên giới giữa Hoa Kỳ và Mexico. Hầu hết họ là người đến từ Haiti, phải chạy trốn khỏi quê hương do bạo lực lan rộng và bất ổn chính trị sau vụ giết hại nguyên thủ quốc gia, Jovenel Moise, hôm 7/7; trận động đất mạnh tấn công trong ngày 14/8 và 5 ngày sau đó, trận bão đã tàn phá khu vực này. Trong khi đó, Bộ An ninh Nội địa Hoa Kỳ đã đóng biên giới và đẩy nhanh các thủ tục trục xuất người di cư, đồng thời gia tăng các chuyến bay đến Haiti.
Trong một tuyên bố chung, Ủy ban Di cư thuộc Hội đồng Giám mục, do Đức cha Mario Dorsonville đứng đầu, và Tổ chức Bác ái Công giáo quốc gia, do sơ Donna Markham điều phối nhấn mạnh rằng: “Đây là một sự kiện bi thảm: Trục xuất nhanh chóng, phủ nhận thực tế của việc di cư bắt buộc, không tính đến trách nhiệm được quy định trong luật pháp quốc gia và quốc tế, và làm trầm trọng tính dễ bị tổn thương của những người bị áp dụng luật. Đây không phải là những dấu ấn tốt của một hệ thống nhập cư công bằng, trật tự và nhân đạo. Là một Giáo hội phục vụ toàn thể dân Chúa, chúng tôi đón nhận lời mời gọi của Chúa Kitô trong việc chào đón người mới đến và đồng hành với họ mọi lúc mọi nơi”.
Trong bối cảnh của Ngày Quốc tế Di cư và Tị nạn, tuyên bố viết tiếp: “Thật buồn khi phải chứng kiến sự khinh miệt nhân phẩm như vậy. Xét cho cùng, khi đối diện với người di cư, chúng ta mới thấy khuôn mặt của Chúa Kitô”.
Từ đây, Ủy ban Di cư và Tổ chức Bác ái Công giáo quốc gia kêu gọi chính phủ Hoa Kỳ “đánh giá lại cách đối xử của họ đối với người di cư Haiti và tất cả những người đang ở biên giới Hoa Kỳ – Mexico, những người sẽ đối mặt với tình trạng đe dọa tính mạng nếu bị đuổi về nước và có thể bị phân biệt đối xử nếu bị trục xuất sang các nước thứ ba”.
Tuyên bố kết luận: “Chúng tôi cầu nguyện cho những người di cư này và cho tất cả những người tìm kiếm sự an toàn, để họ được bảo vệ và có cơ hội sống an bình xứng nhân phẩm do Chúa ban cho”. (CSR_6421_2021)
Người tị nạn
Nguồn: vaticannews.va/vi/
2021
ĐTC Phanxicô gởi thư Hiệp thông Giáo hội với Tân Thượng phụ Armeni
Hôm thứ Năm 23/9, trong thư được ký tại Đền thờ thánh Gioan Lateranô, Đức Thánh Cha Phanxicô đã chấp thuận kết quả bầu chọn Đức Tổng Giám mục Raphaël Bedros XXI Minassian trở thành Thượng Phụ Công giáo Armeria trong Công nghị bầu cử tại Roma.
Trong thư chấp thuận Hiệp thông Giáo hội được gởi đến đức Tân Thượng Phụ Raphaël Bedros XXI Minassian, Đức Thánh Cha diễn tả niềm vui với những người con cái nam nữ của Giáo hội này và của Giáo hội hoàn vũ đã cùng đồng hành và cầu nguyện cho cuộc bầu chọn này.
Đức Thánh Cha nhấn mạnh đến hoàn cảnh hiện tại khi Đức Tân Thượng Phụ Raphaël được bầu chọn. Đó là những đau khổ tại Syria và Libano, nơi Giáo hội Armeni hiện diện. Ngài mời gọi tất cả những người thiện chí, đặc biệt các Kitô hữu thể hiện tình huynh đệ và liên đới.
Dân tộc Armeni được biết đến như chuyên gia về đau khổ, vì đã trải qua nhiều thử thách trong hơn 1700 năm lịch sử Kitô giáo, nhưng cũng được biết đến về khả năng sinh hoa trái, nhờ sự thánh thiện và khôn ngoan của các Thánh và các vị Tử Đạo, văn hóa và nghệ thuật.
Giáo hội Armeni bén rễ sâu trong lòng dân tộc Armeni với truyền thống gắn kết sâu xa với Đấng kế vị thánh Phêrô. Đức Thánh Cha giao phó Giáo hội Armeni cho Đức Tân Thượng Phụ, đặc biệt trong việc chăm sóc thế hệ trẻ, cổ võ ơn gọi, sự hòa hợp khôn ngoan giữa các cộng đồng.
Kết thúc thư, Đức Thánh Cha viết rằng: “Với tư cách là Người kế vị thánh Phêrô Tông đồ, được kêu gọi để củng cố anh em trong đức tin, tôi vui lòng chuẩn nhận sự Hiệp thông Giáo hội đã được thỉnh cầu, thể theo Truyền thống và các Quy luật hiện hành. Tôi gởi đến ngài vòng ôm chào bình an và Phép lành Tông tòa.”
Nguồn: vaticannews.va/vi/
