2023
Nhà phát minh phiên bản máy fax đầu tiên
Nhà phát minh phiên bản máy fax đầu tiên
Linh mục người Ý Giovanni Caselli (8.6.1815 – 25.4.1891) là nhà phát minh chiếc máy điện báo toàn năng, tiền thân của dòng máy fax ngày nay.
Đam mê môn điện tử và từ trường từ thuở nhỏ, cha Caselli không những tạo ra máy điện báo toàn năng mà còn giới thiệu với thế giới hệ thống máy fax thực tiễn đầu tiên. Ngài nắm giữ nhiều bằng sáng chế và ý tưởng công nghệ của ngài đã được người đời sau phát triển thành truyền hình sử dụng tín hiệu tương tự để truyền tải hình ảnh và âm thanh (TV analog) cũng như máy quay cầm tay.
Yêu thích khoa học từ bé
Cha Caselli chào đời ở thị trấn Siena (Ý) ngày 25.4.1815. Khi còn nhỏ, cậu bé Caselli đã được nhà vật lý Leopoldo Nobili dạy phụ đạo những môn như điện hóa, điện từ và từ trường. Quyết định theo ơn gọi, thầy Caselli được truyền chức linh mục năm 1836 trước khi trở thành sinh viên của Đại học Florence ở các ngành văn chương, lịch sử, khoa học và tôn giáo. Từ năm 1841-1848, vị linh mục chuyển đến sống ở Parma và làm gia sư cho các con trai của Bá tước Sanvitale ở đây.
Năm 1849, sau cuộc binh biến ở Parma, cha quay lại Florence và trở thành giáo sư vật lý tại đại học. Năm 1851, ngài sáng lập chuyên san kỹ thuật La Ricreazione với những bài viết giải thích về các vấn đề vật lý theo ngôn ngữ đời thường. Cha tiếp tục học về điện tử và từ trường. Từ năm 1855 đến 1861, vị linh mục phát minh chiếc máy điện báo toàn năng, tiền thân của máy fax.
Nhờ vào phát minh trên, cha được hoàng đế Napoleon III của Pháp trao Bắc đẩu Bội tinh. Các nhà khoa học và kỹ sư ở Paris bắt đầu thành lập Hiệp hội Điện báo toàn năng nhằm trao đổi ý tưởng về chiếc máy này và lắp đặt hệ thống thiết bị đồng bộ để gởi và nhận thông tin hiệu quả.
Máy điện báo toàn năng
Pantèlègraph là từ ghép của pantograph, thiết bị sao chép những chữ tượng hình và các phác thảo, với telegraph, hệ thống điện tử gởi thông điệp từ nơi này đến nơi khác. Trong thời gian làm giáo sư của Đại học Florence, cha Caselli dành hầu hết thời gian nghiên cứu công nghệ truyền điện báo những nét phác thảo và chữ viết tay. Nhà phát minh Alexander Bain (Scotland) và nhà vật lý học Frederick Bakewell (Anh) cũng đồng thời nghiên cứu kỹ thuật này.
Trở ngại lớn vào thời đó chính là phải đạt được sự đồng bộ hoàn hảo giữa giai đoạn truyền và tiếp nhận. Cha Caselli đã phát triển dạng công nghệ điện hóa với cơ chế đồng bộ dựa trên đồng hồ, cho phép việc truyền và nhận dữ liệu hơn hẳn bất kỳ công nghệ nào mà hai chuyên gia Bain lẫn Bakewell từng thực hiện được.
Linh mục Caselli đã chế tạo nguyên mẫu đầu tiên của hệ thống vào năm 1856 và biểu diễn phát minh đột phá cho Leopold II, Đại Công tước xứ Tuscany. Vị công tước vô cùng ấn tượng với thiết bị của cha và quyết định tài trợ cho các cuộc thử nghiệm của ngài. Khi Leopold II không còn hào hứng tài trợ cho nỗ lực nghiên cứu, vị linh mục chuyển đến Paris để giới thiệu phát minh cho Hoàng đế Napoleon III. Vị hoàng đế lập tức trở thành người ủng hộ nhiệt thành cho dự án của cha Caselli. Từ năm 1857 đến năm 1861, nhờ vào sự dẫn dắt của nhà phát minh kiêm kỹ sư người Pháp Paul-Gustave Froment, cha Caselli hoàn thiện cỗ máy điện báo toàn năng và thiết bị đã có thể hoạt động được.
Năm 1860, hoàng đế Napoleon quyết định đưa thiết bị điện báo toàn năng của cha Caselli vào sử dụng trên thực tế. Cha không những tiếp cận được hệ thống điện báo của nước Pháp mà còn nhận được sự tài trợ từ hoàng đế nước này. Khi chạy thử, máy đã truyền tải thành công hình ảnh chữ ký của nhà soạn nhạc Gioacchino Rossini từ Paris đến Amiens ở cách đó 140km. Năm 1863, cha Caselli tiếp tục thử nghiệm công nghệ mới, lần này thông qua khoảng cách 800km từ Paris đến Marseille, và cũng thành công.
Năm 1864, Pháp ban hành luật cho phép sử dụng máy điện báo toàn năng trong hệ thống điện báo của nước này. Một năm sau, tuyến Paris-Lyon được khai trương, trước khi mở rộng đến Marseille năm 1867. Cha Caselli đã phát minh hệ thống fax thương mại đầu tiên và khai sinh cái gọi là “tờ bìa fax”. Vị linh mục người Ý đã được cấp bằng sáng chế của châu Âu nhờ vào thiết bị này.
Anh quốc cũng mở tuyến thử nghiệm giữa London và Liverpool trong 4 tháng của năm 1863. Năm 1867, Hoàng đế Napoleon chỉ đạo mua thiết bị của cha Caselli để sử dụng truyền thông tin từ Paris đến Marseille. Sa hoàng Nga Alexander II cũng cho chạy thử dịch vụ này từ cung điện ở Saint Petersburg đến Moscow từ năm 1861-1865.
Tuy nhiên, bất chấp những thành công, thiết bị không được kịp thời cải tiến nên hoạt động chậm chạp, dẫn đến không hiệu quả theo thời gian. Cuối cùng, vị linh mục từ bỏ phát minh của mình và quay về Florence, nơi ngài qua đời năm 1891. Phải nhiều thập niên sau, ý tưởng của cha Caselli một lần nữa được phổ biến và tạo tiền đề cho chiếc máy fax thời hiện đại. Cũng xuất phát từ công nghệ trên, máy quay dùng trong phòng quay ra đời và kế đến là máy quay cầm tay.
BẠCH LINH
2023
Lễ tuyên chân phước nữ tu Eliza Martinez
Lễ tuyên chân phước nữ tu Eliza Martinez
Nữ tu Elisa Martinez, người sáng lập dòng Nữ tử Đức Mẹ Leuca, đã được tuyên chân phước ngày 25.6.2023. Đức Hồng y Marcello Semeraro, Tổng trưởng Bộ Phong thánh, đại diện Đức Thánh Cha Phanxicô, đã chủ sự thánh lễ tôn phong tại quảng trường đền thánh Đức Mẹ Leuca, cùng với đông đảo các giám mục thuộc miền Puglia (Ý), linh mục, tu sĩ và giáo dân. Chân phước Elisa Martinez sinh ngày 25.3.1905 tại Galatina, tỉnh Lecce, miền nam Ý. Ngày 25.3.1938, với sự giúp đỡ của linh mục Luigi giáo xứ Mizzano và Đức cha Giuseppe Ruotolo, Giám mục giáo phận Ugento, chị đã thành lập một tổ chức tôn giáo của phụ nữ. Hội này được Đức Giám mục công nhận là dòng giáo phận với danh xưng Nữ tử Đức Mẹ Maria Leuca. Năm 1943, dòng được Tòa Thánh công nhận và bắt đầu phát triển các nơi, dấn thân nâng đỡ các anh chị em nghèo khổ về vật chất cũng như tinh thần. Dòng hiện có 630 Nữ tử Đức Mẹ Leuca đang hoạt động tại 65 cộng đoàn ở 11 quốc gia. Nữ tu Elisa Martinez qua đời ngày 8.2.1991 tại Rome, hưởng thọ 86 tuổi.
2023
ĐGM tại Tigray kêu gọi tái lập cứu trợ lương thực
ĐGM tại Tigray kêu gọi tái lập cứu trợ lương thực
Đức cha Tesfasellassie Medhin, Giám mục Giáo phận Adigrat thuộc miền Tigray bên Ethiopia, khẩn cấp kêu gọi các tổ chức quốc tế mở lại chương trình trợ giúp lương thực cho miền Tigray, đang bị nạn đói đe dọa trầm trọng.
Trong thư gởi tới Chương trình Lương thực của Liên Hiệp Quốc và cơ quan cứu trợ USAID của Mỹ, hồi cuối tuần qua, Đức cha viết: “Nhân danh tình nhân đạo, các vị hữu trách đừng lên án tử cho những người đang cố gắng sống còn sau cuộc xung đột võ trang kinh khủng và nay đang chết đói”.
Từ tháng Tư năm nay, các tổ chức quốc tế đã ngưng chương trình cứu trợ lương thực vì có những phúc trình nói về những vụ ăn trộm đồ cứu trợ. Liên Hiệp Quốc thông cáo những biện pháp an ninh chặt chẽ hơn để giúp các đồ cứu trợ thực sự được đưa tới những người đang cần được giúp đỡ.
Đức cha Medhin mạnh mẽ lên án những vụ ăn trộm viện trợ và nói rằng “hình như một số người không cầm hãm nổi lòng tham lam đến độ ăn cắp lương thực của những người tản cư và tuyệt vọng. Đây là điều hoàn toàn không thể chấp nhận được và vô nhân đạo.”
Trong thư, Đức cha Medhin nhắc lại cuộc nội chiến tại miền Tigray tàn phá tại đây cho đến cuối năm ngoái, giữa quân đội chính phủ và các dân quân tại địa phương. Nhà cửa và đồng ruộng của dân chúng bị phá hủy và lương thực bị cướp bóc. Ngài kêu gọi mở lại chương trình cứu đói và nhấn mạnh đến nhân quyền được có đủ lương thực. Ngài viết: “Nhân danh tình nhân loại chung của chúng ta, chúng ta không bao giờ được để cho lương thực bị tước đoạt khỏi những người không có lương thực và đang cần nó để sống còn”. Điều này phải được áp dụng cho những người phạm pháp và đầu cơ lương thực cũng như những người giàu có và ảnh hương có thể quyết định về việc phân phối lương thực.
Chính phủ Ethiopia và mặt trật giải phóng nhân dân Tigray đã ký hiệp định hòa bình hồi tháng Mười Một năm ngoái. Hơn 100.000 người đã bị thiệt mạng trong hai năm nội chiến và hòa bình tại miền này vẫn còn bị coi là mong manh.
(Sir, KAP 26-6-2023)
Trần Đức Anh, O.P. | RVA
2023
Những “tiêu chí” để phân định những cuộc hiện ra của Đức Mẹ là thật hay giả
Những “tiêu chí” để phân định những cuộc hiện ra của Đức Mẹ là thật hay giả
Hồng Thuỷ – Vatican News
Ngày nay, trên thế giới vẫn có rất nhiều sự việc được loan truyền là Đức Mẹ hiện ra và trong đó có những nơi có thể gieo rắc những sứ điệp tiêu cực, trái ngược với sứ điệp của Phúc Âm. Mẹ Maria là người đem lại hòa bình, Mẹ đến để hướng dẫn chúng ta gặp gỡ Thiên Chúa, Mẹ hiến dâng con Mẹ để cứu độ người tội lỗi. Theo cha Stefano Cecchin, chủ tịch của Học viện Giáo hoàng về Thánh Mẫu học, có những tiêu chí để thiết lập tính trung thực của những lần Đức Mẹ hiện ra và tính xác thực của chúng.
Ngày 15/4/2023, Học viện Giáo hoàng về Thánh Mẫu học ở Roma đã chính thức thành lập một uỷ ban để nghiên cứu và theo dõi các trường hợp được cho là Đức Mẹ hiện ra và các hiện tượng thần bí khác nhưng chưa được Giáo hội công nhận tính xác thực.” (Vatican News 21/04/2023)
Giáo hội xác nhận tính xác thực của các lần Đức Mẹ hiện ra
Thật ra, các sự việc được cho là Đức Mẹ hiện ra đã có từ những thế kỷ đầu trong lịch sử Giáo hội. Tin tức đầu tiên được lịch sử xác nhận về một cuộc hiện ra của Đức Mẹ bắt nguồn từ Thánh Gregorio thành Nissa (335 392); ngài đã kể về thị kiến của một giám mục Hy Lạp, Đức cha Gregorio thành Taumaturgô, nhìn thấy Đức Mẹ vào năm 231. Một trong những chuyên gia về các sự kiện Đức Mẹ hiện ra là viện phụ René Laurentin, trong tác phẩm “Tự điển về các lần hiện ra của Đức Trinh nữ Maria”, được xuất bản tại Ý vào năm 2010, đã thu thập hơn 2.000 sự kiện lạ thường về Đức Mẹ từ thời đầu Kitô giáo cho đến ngày nay. Trong số này, chỉ có khoảng 15 sự kiện được Giáo hội chính thức nhìn nhận là những lần Đức Mẹ hiện ra, nghĩa là Giáo hội đã ban các sắc lệnh nhìn nhận các sự kiện này. Điều này không có nghĩa là tất cả những trường hợp khác đều bị Giáo hội phủ nhận tính xác thực.
Quy tắc do Bộ Giáo lý Đức tin ban hành năm 1978
Nhà nghiên cứu về thánh mẫu học Antonino Grasso, giáo sư tại Viện Khoa học Tôn giáo Cao cấp ở Catania, tác giả của cuốn sách “Tại sao Đức Mẹ hiện ra? Để hiểu các cuộc hiện ra của Đức Mẹ,” được xuất bản năm 2012, giải thích: “Theo các quy tắc do Bộ Giáo lý Đức tin ban hành năm 1978, Giáo hội ủy quyền cho Giám mục kiểm tra các sự kiện, với một phân tích chính xác được giao cho một ủy ban gồm các chuyên gia, sau đó, Đấng bản quyền giáo phận là người tuyên bố. Tùy thuộc vào tính chất đặc biệt của cuộc hiện ra và ‘ảnh hưởng’ của nó, một Hội đồng Giám mục hoặc Tòa Thánh cũng có thể trực tiếp giải quyết sự việc”. Sau khi kiểm tra phân tích, có thể có ba phán đoán được đưa ra: không được công nhận, ‘chờ xem’ và chấp nhận.
Những lần Đức Mẹ hiện ra được công nhận dù không có sắc lệnh
Chuyên gia Thánh Mẫu học này cũng nhắc lại khả năng xảy ra một tình huống “trung gian”, trong đó một Giám mục không chính thức tuyên bố về các cuộc hiện ra nhưng công nhận “sự tốt lành” của lòng sùng kính xuất phát từ những sự việc này và cho phép thờ phượng. Cuối cùng, cũng có hai lần hiện ra đã được công nhận trên thực tế. Thứ nhất là cuộc hiện ra ở Guadalupe ở Mexico. Không có sắc lệnh chính thức, nhưng vị giám mục lúc bấy giờ đã xây dựng một nhà nguyện nơi ngài đã cầu xin Đức Trinh Nữ và thị nhân Juan Diego đã được phong thánh. Sau đó là trường hợp của Thánh Catarina Labouré ở Paris: chỉ có một lá thư mục vụ từ giám mục cho phép sử dụng ảnh phép lạ, chứ không phải sắc lệnh của ngài. (Avvenire 31/07/2015)
“Uỷ ban quan sát” về các cuộc hiện ra của Đức Mẹ
Ngày nay, trên thế giới vẫn có rất nhiều sự việc được loan truyền là Đức Mẹ hiện ra và trong đó có những nơi có thể gieo rắc những sứ điệp tiêu cực, trái ngược với sứ điệp của Phúc Âm. Hồi tháng 4 năm nay, trong một thông cáo báo chí về việc thành lập “Uỷ ban quan sát” các sự việc Đức Mẹ hiện ra, cha Stefano Cecchin là chủ tịch của Học viện Giáo hoàng về Thánh Mẫu học, nơi đã thành lập “Uỷ ban quan sát” về các cuộc hiện ra của Đức Mẹ và các hiện tượng thần bí trên thế giới (OISA), nói rằng “Điều quan trọng là phải cung cấp sự rõ ràng, vì các thông điệp thường tạo ra sự nhầm lẫn, lan truyền các viễn cảnh về ngày tận thế gây lo lắng hoặc thậm chí là các cáo buộc chống lại Đức Giáo hoàng và Giáo hội.”
Cha đặt câu hỏi: “Làm sao Đức Maria, Mẹ của Giáo hội, mẹ của lòng thương xót và là Nữ Vương hòa bình, lại có thể làm suy yếu sự toàn vẹn của (Giáo hội) hoặc gieo rắc sợ hãi và xung đột?” Do đó, theo cha, mục đích của “Uỷ ban quan sát” là “cung cấp sự hỗ trợ cụ thể cho việc nghiên cứu, xác thực và tiết lộ chính xác những sự kiện như vậy, luôn phù hợp với giáo huấn của Giáo hội, các cơ quan hữu trách và các quy tắc hiện hành của Tòa Thánh.” Uỷ ban sẽ chuyên về các trường hợp như các lần được cho là Đức Mẹ hiện ra, các tượng Đức Mẹ “khóc”, các mặc khải tư và các dấu thánh.
“Uỷ ban quan sát” sẽ bao gồm các chuyên gia thuộc các lĩnh vực khác nhau, bao gồm một luật sư chuyên bảo vệ những người dễ bị tội phạm thao túng, gian lận hoặc lừa dối.
Cha Cecchin cho biết cơ quan này sẽ thành lập các ủy ban ở cấp quốc gia và quốc tế để “đánh giá và nghiên cứu các cuộc hiện ra và các hiện tượng thần bí được báo cáo ở nhiều nơi trên thế giới” và để thúc đẩy các cơ hội giúp mọi người cập nhật và giáo dục về các sự kiện cũng như “ý nghĩa thiêng liêng và văn hóa” của chúng. Các ủy ban địa phương cũng sẽ giúp Giáo hội địa phương và các giám mục trong vai trò cố vấn và cung cấp thông tin chính xác.
Cha Cecchin đề cập đến sự việc xảy ra ở Trevignano Romano ở Ý, nơi Đức Mẹ được cho là hiện ra vào các ngày thứ ba của mỗi tháng cho một người được cho là thị nhân, nghĩa là người được nhìn thấy Đức Mẹ hiện ra. Để nghiên cứu kỹ hiện tượng này, Đức cha Marco Salvi, Giám mục của Civita Castellana, đã thành lập một ủy ban, đồng thời khuyên không nên tham gia các cuộc tụ họp hàng tháng. Và Cha Cecchin giải thích: “Nhưng chúng tôi không liên quan gì đến hiện tượng này. Chúng tôi là một tổ chức liên ngành, nghiên cứu, thu thập tài liệu và cung cấp tài liệu đó cho việc đào tạo những người thuộc các ủy ban địa phương này. Nó giống như những gì xảy ra trong các trường đại học y khoa: phân khoa thì giảng dạy nhưng chính bệnh viện cung cấp các phương pháp điều trị. Chúng tôi là phân khoa, giáo phận là bệnh viện.”
Chỉ riêng ở Ý, hiện có khoảng một trăm trường hợp Đức Mẹ tỏ mình và hiện ra đang diễn ra. Cha Cecchin giải thích: “Chúng tôi làm việc để giúp mọi người có nhận thức phê bình về những hiện tượng này, để biết cách tự bảo vệ mình khỏi những kẻ muốn thao túng đức tin của họ.”
Mối nguy lợi dụng thao túng các tín hữu
Theo cha Cecchin, trên thực tế, nguy cơ có những người lợi dụng việc Đức Mẹ hiện ra để thao túng các tín hữu là điều rất cụ thể. “Đặc biệt trong giai đoạn vừa qua, chúng ta phải đối mặt với những hiện tượng thần bí trên thế giới, đề cập đến những chủ đề không liên quan chặt chẽ đến sứ điệp Tin Mừng, là lời loan báo niềm vui, là nhận ra Thiên Chúa yêu thương nhân loại đến nỗi hy sinh con của Người.”
Thật vậy, người ta chờ đợi những cuộc hiện ra của Đức Mẹ sẽ giải quyết những chủ đề “thánh thiêng”. Cha Cecchin nói: “Theo nghĩa này, chúng tôi cố gắng phân tích mọi thứ một cách hợp lý, bắt đầu từ những gì Tin Mừng dạy. Và do đó, chúng tôi nghiên cứu những gì được nói trong những lần hiện ra này, đâu là những trò chơi chính trị hoặc kinh tế có thể ẩn sau những dạng hiện tượng này.”
“Câu hỏi đặt ra là: những hiện tượng này vì lợi ích chung hay vì lợi ích của nhóm hay cá nhân? Và một lần nữa: tại sao ngày nay người ta muốn đặt Đức Giáo hoàng, Giáo hội, các tổ chức dân sự vào cuộc khủng hoảng? Mẹ Maria là người đem lại hòa bình, Mẹ đến để hướng dẫn chúng ta gặp gỡ Thiên Chúa vì Chúa yêu thương chúng ta, Mẹ hiến dâng con Mẹ cho những người tội lỗi, chứ không phải để trừng phạt thế gian.”
Hai tiêu chí để xác định tính trung thực
Về vấn đề này, cha Cecchin cho biết có những tiêu chí để thiết lập tính trung thực của những lần Đức Mẹ hiện ra và tính xác thực của chúng.
Lời Chúa
“Điều đầu tiên, điều nền tảng, là Lời Chúa. Không sứ điệp nào trong những sự việc được gọi là những cuộc hiện ra riêng tư được trái ngược với sự mặc khải chứa đựng trong Kinh Thánh, trong Sách Thánh. Như chúng ta có thể hiểu, quay trở lại công việc của ‘Đài quan sát’, vai trò của học giả Kinh Thánh là cơ bản.”
Sự khiêm tốn của thị nhân
Một yếu tố khác của việc đánh giá liên quan đến người nhận được các sứ điệp. Cha Cecchin giải thích: “Con người của thị nhân phải là một người vô cùng khiêm tốn. Kinh Magnificat đọc: ‘Chúa đã đoái đến phận nữ tỳ khiêm nhường của Người’. Tôi nhận ra rằng có những thị nhân hiện đại cần luật sư như thế nào. Nếu tôi có đức tin, nếu Mẹ Maria thực sự hiện ra với tôi, thì tôi không cần phải có chính quyền dân sự để bảo vệ tôi.”
Và phải nói rằng trong quá khứ chắc chắn không thiếu sự tương phản về số liệu của các thị nhân. “Nhưng trong lịch sử của những cuộc hiện ra và các hiện tượng thần bí, những người đã nhận được những món quà này chưa bao giờ chống lại Giáo hội. Đức Mẹ không đến để tán gẫu hay nói chống lại Đức Giáo Hoàng và Giám mục nhưng để hướng dẫn tôi đi theo Chúa Giêsu: hãy làm những gì Người nói, như Mẹ yêu cầu tại Tiệc Cưới Cana.”
Chúa Kitô là trung tâm
Nói tóm lại, thật vô nghĩa nếu chỉ chiêm ngắm Đức Mẹ. “Như chúng ta đã nói, Mẹ Maria luôn dẫn chúng ta đến với Chúa Giêsu; nếu tất cả hoàn tất nơi Mẹ, chúng ta đang thờ ngẫu tượng.” “Trong ảnh icona Đức Mẹ Vô nhiễm Nguyên tội của dòng Phanxicô, Mẹ Maria bồng Chúa Hài Nhi trên tay và chân đặt lên con rắn nhưng chính Hài Nhi đã nghiền nát nó bằng ngọn giáo hình chữ thập. Chúa Kitô là trung tâm.”
Các trình bày sứ điệp
Cha Cecchin giải thích thêm: Nếu như trọng tâm của Sứ điệp không thay đổi, thì phong cách mà nó được trình bày sẽ được thích nghi với thời đại. “Trong những lần hiện ra, qua Mẹ Maria, Thiên Chúa nhìn vào nhu cầu của thời đại, não trạng, văn hóa hiện tại. Ví dụ, trong quá khứ, nổi bật là sự sợ hãi Chúa và sự trừng phạt của Người.”
Tuy nhiên, trọng tâm của Tin Mừng không phải là nỗi kinh hoàng của hỏa ngục. “Sứ điệp Tin Mừng trước hết là một lời loan báo niềm vui. Thiên thần nói với Mẹ Maria, ‘hãy vui mừng.’”
Sứ điệp Tin Mừng trước hết là một lời loan báo niềm vui
Vẫn cần phải hiểu tại sao chúng ta cần vui mừng. “Vì Thiên Chúa yêu thương, tha thứ và hiến dâng con mình cho mọi người dù họ là kẻ tội lỗi.” Nói tóm lại, không phải là một hình ảnh sợ hãi. “Vấn đề là ma quỷ muốn chia rẽ Giáo hội. Và để đạt được điều này, nó cũng sử dụng các mặc khải giả tạo.”
Sự hỗ trợ của “Uỷ ban quan sát”
Từ đó, cha Cecchin xác định rằng “Uỷ ban quan sát” được thành lập chính là để nhận ra các cuộc hiện ra thật hay giả. “Chính vì lý do này mà phương pháp tiếp cận này mang tính đa ngành, nó sử dụng các kỹ năng khác nhau và được chấp nhận, và có trình độ với tính khoa học cao.”
“Chúng tôi muốn trở thành một công cụ thông tin và đào tạo, không hề mong muốn thay thế các ủy ban giáo phận, mà ngược lại bằng cách hỗ trợ họ. Lý tưởng là trong mỗi Giáo hội địa phương đều có một nơi, một môi trường mà một nhóm người liên ngành, từ bác sĩ đến bác sĩ tâm thần, luật gia, v.v. có thể là điểm quy chiếu để phân định hồng ân thiêng liêng mà Thiên Chúa ban cho con người. Sau đó, tôi xin nhắc lại, việc thu thập tài liệu về các trường hợp cụ thể sẽ tùy thuộc vào Giám mục và Ủy ban giáo phận cho đến khi công bố tài liệu cuối cùng.”
“Nhiều chuyên ngành cùng nhau ủng hộ một cách tiếp cận hoàn chỉnh và do đó an toàn hơn. ‘Chúng tôi hoạt động để giúp những người đặc biệt mong manh có lương tâm phê bình, biết cách tự bảo vệ mình trước những gian dối, lừa đảo của những kẻ muốn lợi dụng những khó khăn về kinh tế, tinh thần, vật chất để thao túng họ. Đức Thánh Cha Phanxicô muốn một ngôi nhà chung được tạo ra nơi mọi người tự chủ, độc lập, không bị điều kiện hóa.’ Trong việc tìm kiếm sự thật, con đường duy nhất, ngay cả trong lĩnh vực hiện ra, có khả năng giải thoát chúng ta.” (Avvenire 17/06/2023)
Nguồn: vaticannews.va/vi
