2026
ĐỨC THÁNH CHA: “TÔI KHÔNG PHẢI LÀ CHÍNH TRỊ GIA, TÔI NÓI VỀ PHÚC ÂM. TÔI NÓI VỚI CÁC NHÀ LÃNH ĐẠO THẾ GIỚI: CHẤM DỨT CHIẾN TRANH”
ĐỨC THÁNH CHA: “TÔI KHÔNG PHẢI LÀ CHÍNH TRỊ GIA, TÔI NÓI VỀ PHÚC ÂM. TÔI NÓI VỚI CÁC NHÀ LÃNH ĐẠO THẾ GIỚI: CHẤM DỨT CHIẾN TRANH”
Thông điệp mà Đức Thánh Cha muốn nhắc lại “luôn luôn giống nhau, đó là hòa bình”. Ngài nói: “Tôi nói điều này cho tất cả các nhà lãnh đạo thế giới, không chỉ riêng ông ấy: chúng ta hãy cố gắng chấm dứt chiến tranh và thúc đẩy hòa bình và hòa giải”.
Trả lời một nhà báo người Mỹ đã hỏi cùng một câu hỏi, Đức Thánh Cha tái khẳng định: “Tôi không sợ chính quyền Trump. Tôi sẽ tiếp tục lên tiếng về thông điệp Phúc Âm, thông điệp mà Giáo hội đang truyền bá”. Ngài lặp lại: “Chúng tôi không phải là chính trị gia, chúng tôi không nhìn nhận chính sách đối ngoại theo cùng một quan điểm. Nhưng chúng tôi tin vào thông điệp của Phúc Âm với tư cách là những người xây dựng hòa bình”.
Và xây dựng hòa bình chính là mục tiêu căn bản của chuyến viếng thăm của Đức Thánh Cha tại châu Phi.
Nguồn: vaticannews.va/vi
2026
[TÔNG DU ALGERIA] ĐỨC THÁNH CHA GẶP GỠ CHÍNH QUYỀN, XÃ HỘI DÂN SỰ VÀ NGOẠI GIAO ĐOÀN
[TÔNG DU ALGERIA] ĐỨC THÁNH CHA GẶP GỠ CHÍNH QUYỀN, XÃ HỘI DÂN SỰ VÀ NGOẠI GIAO ĐOÀN
Tại Dinh El Mouradia, Đức Thánh Cha đã thăm hữu nghị Tổng thống Abdelmadjid Tebboune – người vừa tái đắc cử nhiệm kỳ thứ hai vào năm 2024. Cuộc gặp gỡ này đánh dấu một bước tiến mới trong mối quan hệ giữa Tòa Thánh và Algeria, sau lần Tổng thống Tebboune được Đức Thánh Cha tiếp kiến tại Vatican vào tháng 7 năm ngoái.
Sau đó, Đức Thánh Cha đến Trung tâm Hội nghị Djamaa el Djazair để gặp gỡ khoảng 1.400 đại diện giới chức chính quyền, xã hội dân sự và ngoại giao đoàn. Trong diễn văn đáp từ sau lời chào mừng của Tổng thống Tebboune, Đức Thánh Cha đã nhấn mạnh đến tinh thần đối thoại và khát vọng hòa hợp giữa các dân tộc. Ngài nói:
Thưa Ngài Tổng thống,
Quý Quan chức, các Thành viên Ngoại giao đoàn, cùng tất cả Quý vị,
Tôi hết lòng cảm ơn lời mời đến thăm Algeria, một lời mời đã đến ngay từ khi tôi vừa bắt đầu Sứ vụ Phêrô, và tôi cảm ơn quý vị vì sự đón tiếp nồng hậu này! Quý vị biết rằng, với tư cách là một người con tinh thần của Thánh Augustinô, tôi đã từng hai lần đến thăm Annaba: vào năm 2001 và 2013. Tôi tạ ơn kế hoạch mầu nhiệm mà Thiên Chúa quan phòng đã sắp đặt cho tôi được trở lại nơi đây với tư cách là Đấng Kế vị Thánh Phêrô. Tôi hiện diện giữa quý vị như một người hành hương của hòa bình, khao khát được gặp gỡ người dân Algeria cao quý. Chúng ta là anh chị em với nhau, vì chúng ta có cùng một Cha trên trời. Cảm thức tôn giáo sâu sắc của người dân Algeria nuôi dưỡng một nền văn hóa gặp gỡ và hòa giải, mà chuyến thăm của tôi cũng mong muốn trở thành một dấu chỉ cho điều đó. Trong một thế giới đầy rẫy những xung đột và hiểu lầm, chúng ta hãy gặp gỡ và nỗ lực để hiểu biết lẫn nhau, nhìn nhận rằng chúng ta là một gia đình! Ngày nay, sự giản đơn của nhận thức này chính là chìa khóa để mở ra nhiều cánh cửa đang đóng kín.
Thưa anh chị em thân mến, tôi cũng hiện diện nơi đây giữa quý vị như một chứng nhân cho hòa bình và hy vọng mà thế giới đang khao khát mãnh liệt, và là điều mà nhân dân quý vị luôn tìm kiếm. Thật vậy, dân tộc quý vị chưa bao giờ bị khuất phục trước những thử thách vì họ thấm đẫm tinh thần đoàn kết, lòng hiếu khách và tính cộng đồng vốn được dệt nên trong đời sống hàng ngày của hàng triệu tâm hồn khiêm nhường và chính trực. Họ là những người thực sự mạnh mẽ, những người mà tương lai thuộc về họ: đó là những người không để mình bị mù quáng bởi quyền lực hay giàu sang, và những người từ chối hy sinh phẩm giá của đồng bào mình vì lợi ích cá nhân hay tập thể. Về khía cạnh này, tôi đã được nghe nhiều người kể về việc người dân Algeria thể hiện sự hào phóng to lớn đối với cả đồng bào lẫn người nước ngoài. Tinh thần này phản ánh lòng hiếu khách bén rễ sâu xa trong các cộng đồng người Ả Rập và Berber, một nghĩa vụ thiêng liêng mà chúng ta hy vọng sẽ tìm thấy ở mọi nơi như một giá trị xã hội nền tảng. Tương tự như vậy, việc bố thí (sadaka) là một thực hành phổ biến và tự nhiên giữa quý vị, ngay cả đối với những người có phương tiện hạn chế. Từ sadaka cũng có thể mang nghĩa là công lý, theo nghĩa là chúng ta không giữ mọi thứ cho riêng mình, nhưng chia sẻ những gì mình có như một vấn đề của công lý. Kẻ tích trữ của cải và dửng dưng với người khác là kẻ bất công. Cách nhìn này về công lý vừa đơn sơ vừa triệt để vì nó nhận ra hình ảnh của Thiên Chúa nơi người khác. Thật vậy, một tôn giáo thiếu lòng thương xót và một xã hội thiếu sự liên đới là một sự xúc phạm trước mắt Thiên Chúa. Vậy mà nhiều xã hội tự coi mình là tiên tiến lại đang lún sâu hơn bao giờ hết vào sự bất bình đẳng và loại trừ. Châu Phi biết quá rõ rằng những con người và tổ chức thống trị kẻ khác sẽ phá hủy thế giới này, thế giới mà Đấng Tối Cao đã tạo ra để chúng ta có thể chung sống cùng nhau.
Những trải nghiệm gian khó mà quý vị đã đối mặt trong suốt lịch sử đã mang lại cho đất nước quý vị một tầm nhìn đặc biệt quan trọng về sự cân bằng quyền lực toàn cầu. Nếu quý vị có thể tham gia vào cuộc đối thoại liên quan đến những mối bận tâm của tất cả mọi người và thể hiện sự liên đới với nỗi đau khổ của biết bao quốc gia gần xa, thì quý vị sẽ có thể góp phần vào việc hình dung và mang lại sự công bằng lớn hơn giữa các dân tộc. Bằng cách tôn trọng phẩm giá của mọi người và để mình được rung cảm trước nỗi đau của người khác, thay vì làm gia tăng những hiểu lầm và xung đột, quý vị chắc chắn có thể trở thành những nhân vật chính của một chương mới trong lịch sử. Ngày nay, trước bối cảnh của những vi phạm luật pháp quốc tế liên tục và các khuynh hướng thực dân mới, điều này càng trở nên khẩn thiết hơn bao giờ hết.
Các vị tiền nhiệm của tôi đã nhận thức rõ ràng ý nghĩa mang tính thời đại của thách thức này. Đức Giáo hoàng Bênêđictô XVI đã nhận thấy rằng: “Các tiến trình toàn cầu hóa, nếu được hiểu và định hướng một cách phù hợp, sẽ mở ra khả năng chưa từng có cho việc tái phân phối của cải ở quy mô toàn thế giới; tuy nhiên, nếu bị định hướng sai lạc, chúng có thể dẫn đến sự gia tăng nghèo đói và bất bình đẳng, thậm chí có thể kích hoạt một cuộc khủng hoảng toàn cầu” (Thông điệp Caritas in Veritate, số 42). Đức Giáo hoàng Phanxicô, với những kinh nghiệm sâu rộng của Ngài về những căng thẳng hiện diện ở các nước Nam Bán cầu, đã nhấn mạnh tầm quan trọng của những gì chỉ có thể thấu hiểu được từ các vùng ngoại vi của các trung tâm quyền lực và quyết sách lớn. Ngài đã viết: “Điều cần thiết là một mô hình tham gia về xã hội, chính trị và kinh tế ‘có thể bao hàm các phong trào quần chúng và tiếp thêm sinh lực cho các cấu trúc quản trị địa phương, quốc gia và quốc tế bằng dòng thác năng lượng đạo đức nảy sinh từ việc đưa những người bị loại trừ vào công cuộc xây dựng một định mệnh chung’” (Thông điệp Fratelli Tutti, số 169).
Vì vậy, tôi mời gọi quý vị – những người đang nắm giữ các vị trí thẩm quyền của quốc gia đừng lo sợ viễn cảnh này, nhưng hãy thúc đẩy một xã hội dân sự năng động, tràn đầy sức sống và tự do, nơi mà cách riêng những người trẻ được ghi nhận là có khả năng giúp mở rộng chân trời hy vọng cho tất cả mọi người. Sức mạnh thực sự của một quốc gia nằm ở sự hợp tác của mọi người trong việc theo đuổi công ích. Các cấp chính quyền được kêu gọi không phải để thống trị, mà là để phục vụ nhân dân và thúc đẩy sự phát triển của họ. Do đó, hoạt động chính trị tìm thấy tiêu chí định hướng nơi công lý – mà nếu thiếu nó thì không thể có hòa bình đích thực – và được thể hiện qua việc thúc đẩy các điều kiện công bằng và xứng đáng cho tất cả mọi người. Giáo hội Công giáo, thông qua các cộng đồng và các sáng kiến của mình, cũng mong muốn đóng góp vào lợi ích chung của Algeria, củng cố bản sắc đặc thù của quốc gia này như một nhịp cầu giữa phương Bắc và phương Nam, giữa phương Đông và phương Tây.
Địa Trung Hải một bên, và sa mạc Sahara bên kia, đại diện cho những giao thoa địa lý và tâm linh có ý nghĩa to lớn. Nếu chúng ta đi sâu vào lịch sử của chúng, tách biệt khỏi những sự giản lược hóa hay hệ tư tưởng, chúng ta sẽ khám phá ra những kho tàng nhân văn bao la ẩn giấu nơi đó. Bởi biển cả và sa mạc đã là những nơi mà các dân tộc và các nền văn hóa làm giàu lẫn nhau qua hàng thiên niên kỷ. Khốn cho chúng ta nếu biến chúng thành những nghĩa trang nơi hy vọng cũng lụi tàn! Chúng ta hãy giải phóng những kho dự trữ khổng lồ của lịch sử và tương lai này khỏi cái ác! Chúng ta hãy nhân thêm nhiều những ốc đảo hòa bình; tố cáo và loại bỏ những nguyên nhân gây ra sự tuyệt vọng; và chống lại những kẻ trục lợi từ nỗi bất hạnh của người khác! Vì những lợi nhuận của những kẻ bóc lột sự sống con người – vốn có phẩm giá bất khả xâm phạm – là bất chính. Vậy, chúng ta hãy hiệp nhất sức mạnh, năng lượng tinh thần, trí tuệ và nguồn lực của mình, để đất và biển có thể trở thành những nơi của sự sống, của gặp gỡ và của sự kỳ diệu. Ước gì vẻ đẹp hùng vĩ của chúng chạm đến trái tim chúng ta; ước gì sự bao la vô tận của chúng thúc đẩy chúng ta suy ngẫm về sự siêu việt. Địa Trung Hải, sa mạc Sahara và bầu trời rộng lớn phía trên chúng đang thầm thì với chúng ta rằng thực tại vượt xa chúng ta về mọi phương diện, rằng Thiên Chúa thực sự vĩ đại, và mọi sự đều sống trong sự hiện diện mầu nhiệm của Người.
Nhận thức này có những hệ quả to lớn đối với cách chúng ta hiểu về thực tại, tuy vậy, nhiều người ngày nay lại đánh giá thấp tầm quan trọng của nó. Xem xét kỹ hơn, xã hội Algeria cũng quen thuộc với sự căng thẳng giữa tính nhạy cảm tôn giáo và đời sống hiện đại. Tại đây, cũng như trên khắp thế giới, các năng động đối lập giữa chủ nghĩa cực đoan và sự thế tục hóa có xu hướng tự biểu hiện, khiến nhiều người đánh mất cảm thức đích thực về Thiên Chúa và về phẩm giá của các tạo vật của Người. Hệ quả là, các biểu tượng và ngôn từ tôn giáo, một mặt, có thể trở thành ngôn ngữ phạm thượng của bạo lực và áp bức, hoặc mặt khác, trở thành những dấu chỉ sáo rỗng trong thị trường tiêu thụ khổng lồ vốn không làm chúng ta thỏa mãn.
Tuy nhiên, những sự phân cực phi lý này không được làm chúng ta nản lòng. Chúng phải được đối diện bằng trí tuệ. Chúng là dấu hiệu cho thấy chúng ta đang sống trong một thời đại phi thường của sự canh tân lớn lao, trong đó những ai giữ cho trái tim mình tự do và lương tâm tỉnh thức có thể rút ra từ các truyền thống tâm linh và tôn giáo vĩ đại những cách nhìn mới về thế giới và một mục đích sống không thể lay chuyển. Chúng ta phải giáo dục con người về tư duy phản biện và sự tự do, về sự lắng nghe và đối thoại, và về sự tin cậy giúp chúng ta nhìn nhận những người khác biệt là những người bạn đồng hành chứ không phải là những mối đe dọa. Chúng ta phải nỗ lực để chữa lành ký ức và hòa giải với những ai đã từng là đối thủ. Đây chính là món quà tôi mong ước cho quý vị, cho Algeria, và cho toàn thể nhân dân nơi đây, những người mà tôi khẩn cầu muôn vàn phúc lành từ Đấng Tối Cao.
Sau cuộc gặp gỡ với chính quyền, xã hội dân sự và ngoại giao đoàn, Đức Thánh Cha đã trở về Tòa Khâm sứ Tòa Thánh để dùng bữa trưa và nghỉ ngơi.
Nguồn: vaticannews.va/vi
2026
[TÔNG DU ALGERIA] ĐỨC THÁNH CHA GẶP GỠ CỘNG ĐOÀN ALGERIA TẠI VƯƠNG CUNG THÁNH ĐƯỜNG ĐỨC BÀ CHÂU PHI
[TÔNG DU ALGERIA] ĐỨC THÁNH CHA GẶP GỠ CỘNG ĐOÀN ALGERIA TẠI VƯƠNG CUNG THÁNH ĐƯỜNG ĐỨC BÀ CHÂU PHI
Từ Trung tâm đón tiếp và tình bạn của các nữ tu Dòng Truyền giáo Augustinô, Đức Thánh Cha đã di chuyển đến Vương cung Thánh Đường Đức Bà Châu Phi cách đó hơn 1 km để gặp gỡ cộng đoàn Algeria.
Vương cung Thánh Đường Đức Bà Châu Phi tọa lạc trên mũi đất cao 124m nhìn ra biển. Nguồn gốc gắn với tượng Đức Mẹ bằng đồng được tặng cho Đức Cha Antoine-Louis-Adolphe Dupuch, Giám mục đầu tiên của giáo phận Algiers vào năm 1840. Sau tín điều Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội (1854), vương cung thánh đường được xây từ 1858, hoàn tất năm 1872. Công trình bị hư hại nặng do động đất năm 2003 và được trùng tu suốt bảy năm. Bàn thờ chính của nhà thờ có tôn kính tượng Đức Mẹ Đen, được bao quanh bởi hai nhà nguyện: một kính Thánh Augustinô và một kính Thánh Monica và tưởng niệm 19 vị tử đạo Algeria. Nhà thờ là nơi gặp gỡ đối thoại, cả tín hữu Hồi giáo cũng hành hương đến đây.
Vào nhà thờ, trước hết Đức Thánh Cha dừng lại chầu Thánh Thể trong giây lát và sau đó dâng hoa kính Đức Mẹ.
Chào đón Đức Thánh Cha, Đức Hồng y Jean Vasco, Tổng Giám mục của Algiers nhận định rằng từ Vương cung Thánh đường Đức Bà Châu Phi, Tin Mừng được loan báo đến nhiều quốc gia châu Phi. Do đó, việc Đức Thánh Cha bắt đầu chuyến tông du đầu tiên tại châu Phi từ nơi đây mang ý nghĩa đặc biệt.
Đức Hồng y cho biết nhà thờ này là không gian gặp gỡ và tình huynh đệ, nơi mà chín trong số mười người bước qua ngưỡng cửa nhà thờ là người Hồi giáo. Đức Maria, được gọi cách thân thương là “Đức Bà Châu Phi”, được ghi khắc trong di sản và tâm hồn người Algeria. Dòng chữ “xin cầu cho chúng con và cho người Hồi giáo” diễn tả ơn gọi mẫu tử phổ quát của Đức Mẹ và sứ mạng của thánh đường trong việc đón tiếp, đối thoại và tổ chức các sinh hoạt liên tôn.
Ngài nói thêm rằng Giáo hội tại đây được ví như một bức khảm đa dạng, gồm nhiều quốc tịch, vừa thuộc về Algeria vừa mang tính hoàn vũ. Các cộng đoàn sống tinh thần hiệp nhất đại kết với nhiều hệ phái Kitô giáo và duy trì tình huynh đệ với các tôn giáo khác, kể cả Do Thái giáo.
Đức Hồng y cũng nhắc đến những người vắng mặt, đặc biệt là các tù nhân và người di cư, những người tìm kiếm một tương lai tốt đẹp hơn. Họ cần lời cầu nguyện của Đức Thánh Cha, đồng thời chắc chắn cũng cầu nguyện cho ngài.
Tiếp tục cuộc gặp gỡ, Đức Thánh Cha và cộng đoàn đã lắng nghe các chứng từ, của một nữ tu, một nữ sinh viên Tin Lành, một người hướng dẫn các du khách viếng nhà thờ, và cuối cùng là một người Hồi giáo.
Và Đức Thánh Cha ngỏ lời với cộng đoàn:
Nhân danh Cha, và Con, và Thánh Thần.
Bình an ở cùng anh chị em!
Anh em trong hàng Giám mục thân mến,
các linh mục và phó tế, tu sĩ nam nữ
và các con yêu dấu của Giáo Hội tại Algeria,
Với niềm vui sâu xa và tình phụ tử, hôm nay tôi được gặp gỡ anh chị em, những người hiện diện âm thầm nhưng quý giá trên mảnh đất này, một sự hiện diện được ghi dấu bởi một di sản cổ kính và bởi những chứng nhân rạng ngời của đức tin.
Lời mời gọi trở nên những dấu chỉ đích thực của hiệp thông, đối thoại và hòa bình
Cộng đoàn của anh chị em thực sự có những cội rễ sâu xa. Anh chị em là những người thừa kế của biết bao chứng nhân đã hiến dâng mạng sống mình, được thúc đẩy bởi tình yêu đối với Thiên Chúa và tha nhân. Tôi đặc biệt nhớ đến mười chín tu sĩ nam nữ đã tử đạo tại Algeria, những người đã chọn ở lại bên cạnh dân tộc này trong niềm vui cũng như nỗi buồn của họ. Máu của các ngài là hạt giống sống động không ngừng sinh hoa kết trái.
Anh chị em cũng là những người thừa kế của một truyền thống còn cổ xưa hơn nữa, bắt nguồn từ những thế kỷ đầu của Kitô giáo. Trên mảnh đất này đã vang lên tiếng nói nhiệt thành của Thánh Augustinô thành Hippo, được đi trước bởi chứng tá của thân mẫu ngài, Thánh Monica, và của nhiều vị thánh khác. Ký ức về các ngài tỏa sáng như một lời mời gọi hôm nay hãy trở nên những dấu chỉ đích thực của hiệp thông, đối thoại và hòa bình.
Với tất cả anh chị em, những người bạn thân mến, và cả những người không thể hiện diện nhưng đang theo dõi cuộc gặp gỡ này từ xa, tôi bày tỏ lòng biết ơn vì sự dấn thân hằng ngày của anh chị em trong việc biểu lộ trái tim hiền mẫu của Giáo Hội. Tôi cảm ơn Đức Hồng y vì những lời chia sẻ của ngài, cũng như Rakel, Ali, Monia và Sơ Bernadette vì những gì họ đã chia sẻ. Dựa trên những gì chúng ta đã nghe, tôi muốn cùng anh chị em dừng lại và suy tư về ba khía cạnh của đời sống Kitô hữu mà tôi cho là thiết yếu, đặc biệt trong bối cảnh sự hiện diện của anh chị em nơi đây: cầu nguyện, bác ái và hiệp nhất.
“Con người không thể sống mà không cầu nguyện”
Trước hết là cầu nguyện. Tất cả chúng ta đều cần cầu nguyện. Thánh Gioan Phaolô II đã nhấn mạnh điều này khi nói với các bạn trẻ: “Con người không thể sống mà không cầu nguyện, cũng như không thể sống mà không thở” (Cuộc gặp gỡ với các bạn trẻ Hồi giáo tại Casablanca, 19 tháng 8 năm 1985, số 4). Ngài trình bày cuộc đối thoại với Thiên Chúa như điều không thể thiếu, không chỉ cho đời sống của Giáo Hội mà còn cho mỗi cá nhân. Thánh Charles de Foucauld cũng nhận ra điều này và đã sống ơn gọi của mình như một sự hiện diện cầu nguyện. Ngài viết: “Tôi hạnh phúc, hạnh phúc được ở trước Thánh Thể mọi lúc” (Thư gửi Raymond de Blic, 9 tháng 12 năm 1907) và khuyến khích người khác: “Hãy cầu nguyện nhiều cho tha nhân. Hãy tận hiến mình cho phần rỗi của tha nhân bằng mọi phương thế trong khả năng của bạn: bằng cầu nguyện, bằng lòng tốt, bằng gương sáng” (Thư gửi Louis Massignon, 1 tháng 8 năm 1916).
Nói về nhu cầu cầu nguyện, Ali đã chia sẻ kinh nghiệm phục vụ tại nhà thờ Đức Bà Châu Phi, nơi nhiều người đến để đi vào thinh lặng, để bày tỏ những ưu tư của mình, để cầu nguyện cho những người thân yêu, và để gặp một người sẵn sàng lắng nghe họ hầu họ có thể chia sẻ những gánh nặng trong lòng. Anh nhận thấy rằng nhiều người tìm được bình an nơi đây và vui mừng vì đã đến. Cầu nguyện hiệp nhất, nhân bản hóa, củng cố và thanh luyện tâm hồn. Qua cầu nguyện, Giáo Hội tại Algeria gieo vãi lòng nhân đạo, sự hiệp nhất, sức mạnh và sự tinh tuyền, vươn tới những nơi chỉ một mình Thiên Chúa biết.
Hành động bác ái là cơ hội của ân sủng
Khía cạnh thứ hai của đời sống Giáo Hội mà tôi muốn suy tư là bác ái. Sơ Bernadette đã đặc biệt nói với chúng ta về điều này khi chia sẻ kinh nghiệm hỗ trợ các trẻ em khuyết tật và cha mẹ của các em. Qua những gì sơ chia sẻ, chúng ta hiểu rằng lòng thương xót và sự phục vụ không chỉ đơn thuần là cung cấp trợ giúp vật chất cho những người yếu đuối nhất giữa chúng ta. Trên hết, những hành động ấy trở thành cơ hội của ân sủng, giúp mọi người liên hệ được tăng trưởng và được phong phú hơn. Sơ Bernadette đã giải thích làm thế nào một cử chỉ gần gũi đơn sơ ban đầu, là thăm viếng người bệnh, đã nảy nở, trước hết, thành một trung tâm cộng đồng, rồi thành một tổ chức chăm sóc ngày càng có cơ cấu. Hiện nay, nơi ấy đã trở thành một cộng đoàn đích thực, nơi nhiều người cùng chia sẻ những khoảnh khắc vui buồn, liên kết với nhau bằng lòng tín nhiệm, tình bạn và sự hiệp thông. Một môi trường như thế mang lại sự sống và chữa lành, và không lạ gì khi những người đau khổ có thể tìm thấy nơi đó những nguồn lực giúp cải thiện sức khỏe, đồng thời mang lại niềm vui cho người khác, như trường hợp của Fatima.
Quả thật, chính tình yêu đối với anh chị em đã thúc đẩy chứng tá của các vị tử đạo mà chúng ta đã tưởng nhớ. Trước hận thù và bạo lực, các ngài vẫn trung thành với đức ái cho đến hiến dâng chính mình cùng với nhiều người nam nữ khác, cả Kitô hữu lẫn Hồi giáo. Các ngài đã làm điều đó không phô trương, không ồn ào, nhưng trong sự thanh thản và kiên vững, không rơi vào tự phụ cũng không tuyệt vọng, vì các ngài biết Đấng mà mình đã đặt trọn niềm tin (x. 2 Tm 1,12). Nhân danh tất cả các ngài, chúng ta có thể nhắc lại những lời đơn sơ của thầy Luc, vị tu sĩ cao tuổi và là bác sĩ của cộng đoàn Notre-Dame de l’Atlas. Khi được đề nghị rời đi để tự cứu mình khỏi những nguy hiểm có thể xảy ra, với cái giá là bỏ lại các bệnh nhân và bạn hữu, thầy đã trả lời: “Tôi muốn ở lại với họ” (C. Henning – T. Georgeon, Fratel Luc di Tibhirine. Monaco, medico e martire, Vatican City 2025, Lời mở đầu), và thầy đã làm như vậy. Nhân dịp lễ tuyên phong chân phước cho các ngài, Đức Giáo hoàng Phanxicô đã nói về thầy và tất cả các vị khác: “Chứng tá can đảm của họ là nguồn hy vọng cho cộng đoàn Công giáo tại Algeria và là hạt giống đối thoại cho toàn xã hội. Ước gì việc tuyên phong chân phước này trở nên nguồn cảm hứng cho mọi người cùng nhau xây dựng một thế giới huynh đệ và liên đới” (8 tháng 12 năm 2018).
Ngôi thánh đường này là dấu chỉ của ước muốn hòa bình và hiệp nhất
Và như thế chúng ta đến điểm thứ ba trong suy tư: dấn thân cổ võ hòa bình và hiệp nhất. Khẩu hiệu của chuyến thăm này được lấy từ lời của Đức Giêsu Phục Sinh: “Bình an cho anh em!” (x. Ga 20,21). Trong một bản khắc giữa các bức tranh khảm ở Tipasa, người ta đọc thấy: “In Deo, pax et concordia sit convivio nostro”, có thể dịch là: “Trong Thiên Chúa, ước gì bình an và hòa hợp ngự trị trong đời sống chung của chúng ta”. Bình an và hòa hợp đã là những đặc tính căn bản của cộng đoàn Kitô hữu ngay từ thuở ban đầu (x. Cv 2,42-47), theo đúng ước muốn của chính Đức Giêsu (x. Ga 17,23), Đấng đã nói: “Cứ dấu này mà mọi người nhận biết anh em là môn đệ của Thầy, là anh em yêu thương nhau” (Ga 13,35). Thánh Augustinô, trong bối cảnh này, khẳng định rằng Giáo Hội “sinh ra những dân tộc khác nhau, nhưng họ là chi thể của Đấng mà Giáo Hội là thân thể” (Bài giảng 192, 2), và thánh Cyprianô viết: “Bình an và sự hiệp nhất huynh đệ của chúng ta là hy lễ cao cả hơn dâng lên Thiên Chúa, và một dân được hiệp nhất nên một, trong sự hiệp nhất của Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần” (Kinh Lạy Cha, 23). Thật đẹp khi hôm nay chúng ta được nghe nhiều lời nói và chứng từ khác nhau vang vọng trong những gì chúng ta đã được nghe.
Như Đức Hồng y đã nhắc đến, chính ngôi thánh đường này là dấu chỉ của ước muốn hòa bình và hiệp nhất của chúng ta. Nơi đây tượng trưng cho một Giáo Hội gồm những viên đá sống động, nơi sự hiệp thông giữa Kitô hữu và người Hồi giáo được hình thành dưới tà áo của Đức Bà Châu Phi. Tại đây, tình mẫu tử của Lalla Meryem quy tụ mọi người như những người con, trong sự đa dạng phong phú của chúng ta, trong khát vọng chung về phẩm giá, tình yêu, công lý và hòa bình. Tất cả con cái của Mẹ đều khao khát cùng nhau bước đi, cùng sống, cầu nguyện, làm việc và mơ ước, bởi vì đức tin không cô lập nhưng mở ra; đức tin hiệp nhất chúng ta nhưng không gây xáo trộn; đức tin đưa chúng ta lại gần nhau mà không đồng nhất hóa, và nuôi dưỡng một tình huynh đệ đích thực. Đó chính là điều Monia đã nói với chúng ta. Rakel cũng chia sẻ cùng một tâm tình ấy trong chứng từ về kinh nghiệm của chị tại tổ chức Tlemcen Fellowship. Trong một thế giới nơi chia rẽ và chiến tranh gieo rắc đau khổ và cái chết giữa các dân tộc, trong các cộng đoàn, và cả trong các gia đình, kinh nghiệm hiệp nhất và hòa bình của anh chị em là một dấu chỉ mạnh mẽ. Cùng nhau, anh chị em lan tỏa tình huynh đệ và khơi dậy một khát vọng sâu xa về hiệp thông và hòa giải bằng một sứ điệp rõ ràng và mạnh mẽ, được diễn tả trong sự đơn sơ và khiêm tốn.
Chúng ta cần đến nhau, và chúng ta cần đến Thiên Chúa
Phần lớn lãnh thổ của quốc gia này là sa mạc, và trong sa mạc, không ai có thể sống một mình. Môi trường khắc nghiệt xóa tan mọi ảo tưởng rằng chỉ tự mình là đủ, nhắc nhở chúng ta rằng chúng ta cần đến nhau, và chúng ta cần đến Thiên Chúa. Khi chúng ta nhìn nhận sự mong manh của mình, lòng chúng ta mở ra để nâng đỡ nhau và để kêu cầu Đấng có thể ban điều mà không sức mạnh nhân loại nào bảo đảm được: đó là sự hòa giải sâu xa của các tâm hồn và, cùng với đó, là nền hòa bình đích thực.
Vì thế, anh chị em thân mến, tôi khích lệ anh chị em tiếp tục công việc của mình tại Algeria như một cộng đoàn đức tin hiệp nhất và cởi mở, như một sự hiện diện sống động của Giáo Hội, “bí tích phổ quát của ơn cứu độ” (Hiến chế Tín lý về Giáo Hội Lumen Gentium, 48). Tôi cảm ơn anh chị em vì tất cả những gì anh chị em đang thực hiện, vì lời cầu nguyện, vì lòng bác ái và chứng tá hiệp nhất của anh chị em. Tôi bảo đảm nhớ đến anh chị em trong lời cầu nguyện của tôi trước mặt Chúa, và khi phó thác anh chị em cho Đức Maria, Đức Bà Châu Phi, tôi thân ái ban phép lành cho anh chị em.
Cầu nguyện trước tượng đài tưởng niệm các nạn nhân của những vụ đắm tàu
Rời khỏi Vương cung thánh đường, Đức Thánh Cha dừng lại cầu nguyện trước đài tưởng niệm các nạn nhân của những vụ đắm tàu. Sau đó, ngài trở về Tòa Sứ thần cách đó khoảng 200 m và gặp riêng các Giám mục Algeria.
Nguồn: vaticannews.va/vi
2026
CÁC NỮ TU GIEO MẦM HY VỌNG TRONG CÁC TRẠI DI TẢN NỘI ĐỊA Ở BANG BENUE CỦA NIGERIA
CÁC NỮ TU GIEO MẦM HY VỌNG TRONG CÁC TRẠI DI TẢN NỘI ĐỊA Ở BANG BENUE CỦA NIGERIA
“Không ai rời bỏ quê hương trừ khi… và không ai lựa chọn các trại tị nạn…” là hai câu trong bài thơ “Home” của Warsan Shire, cho thấy rằng “nhà” là nơi con người rời đi sau cùng và là nơi đầu tiên họ mong muốn quay trở lại.
Báo cáo Xu hướng Toàn cầu của Cao ủy Tị nạn Liên Hiệp Quốc năm 2024 ghi nhận rằng, mặc dù mức độ di dời đạt kỷ lục, mong muốn được trở về nhà vẫn rất mạnh mẽ. Khát vọng này cũng được chia sẻ bởi nhiều người di tản nội địa ở Nigeria, những người vẫn tiếp tục hy vọng một ngày được trở về làng quê tổ tiên của mình.
Bối cảnh
Kể từ năm 2012, Nigeria đã trải qua tình trạng bất ổn ngày càng gia tăng ở nhiều khu vực. Các cuộc tấn công của các nhóm vũ trang đã dẫn đến tổn thất lớn về sinh mạng và tài sản, đồng thời gieo rắc nỗi sợ hãi sâu sắc, với tính chất và mức độ bạo lực khác nhau tùy theo từng vùng.
Tại khu vực Vành đai giữa, các cuộc tấn công lặp đi lặp lại vào làng mạc và đất canh tác trong suốt thập kỷ qua đã buộc hàng ngàn gia đình phải chuyển đến các trại di tản nội địa. Nguyên nhân của cuộc khủng hoảng được giải thích theo nhiều cách khác nhau, từ căng thẳng liên quan đến sử dụng đất đai cho đến các yếu tố sắc tộc, tôn giáo, chính trị hoặc ý thức hệ.
Việc thiếu các giải pháp lâu dài đã khiến nhiều cộng đồng rơi vào tình trạng di dời kéo dài, đầy bất định và mang nặng nỗi khao khát hòa bình cũng như được trở về nhà.
Tìm thấy hy vọng giữa cảnh di dời
Tại Yelwata, thuộc Khu vực Chính quyền Địa phương Guma của bang Benue, hơn 200 người đã thiệt mạng trong một cuộc tấn công vào ban đêm từ ngày 13-14 tháng 6 năm 2025. Nhiều người sống sót hiện đang cư trú tại Trại Chợ Quốc tế ở Makurdi, thủ phủ của bang Benue. Những ký ức về đêm đó vẫn còn in đậm trong tâm trí người dân.
Cypraian Targule, một người cha có bốn đứa con, nhớ lại việc nghe thấy tiếng súng. Ông đã chạy vào rừng mà không có bất kỳ phản ứng an toàn nào. Hai ngày sau, ông đến được trại. Mặc dù cảm thấy an toàn hơn ở đó, việc canh tác, nguồn sinh kế chính của ông, giờ đây không còn khả thi. “Điều khó khăn nhất là không thể làm nông. Các nữ tu đến mang theo thực phẩm và sự động viên. Điều đó mang lại cho chúng tôi hy vọng,” ông nói.
“Trại không phải là nơi tốt cho tôi,” Dekaa Elizabeth, một bà mẹ hai con, cho biết. Chị đã mất nhiều thành viên trong gia đình, bao gồm một người anh trai và bốn đứa con của anh. Cuộc sống trong trại mang lại cho chị một phần sự an toàn, nhưng những khó khăn hàng ngày vẫn còn đó, bao gồm thiếu nước, nhà vệ sinh, học phí, và một đứa trẻ cần hỗ trợ tâm lý. Khi được hỏi điều gì giúp chị tiếp tục, chị trả lời: “Chúa ban cho tôi hy vọng; lời của Người chạm đến trái tim tôi.” Chị nói thêm rằng sự hiện diện của các nữ tu mang lại sự khích lệ và hỗ trợ cho chị.
Joseph Angur, người đã chạy trốn cùng vợ và các con, nhớ lại việc phải ẩn nấp trong im lặng khi những kẻ tấn công đi qua làng, đốt cháy nhà cửa. Nạn đói và thiếu nước vẫn là những khó khăn hàng ngày, nhưng ông vẫn hy vọng. “Tôi muốn mọi người luôn tìm kiếm hòa bình,” ông nói. “Tôi hy vọng rời khỏi nơi này và trở về nhà. Không nơi nào bằng nhà.”
Gieo mầm hy vọng
Từ năm 2022, các Nữ tu Thừa Sai Mân Côi đã đồng hành với những người di tản nội địa tại nhiều trại trên khắp bang Benue, bao gồm Daudu 1, Itcwa, Agagbe, và trại Chợ Quốc tế. Công việc của các chị bắt đầu bằng việc hỗ trợ lương thực và sau đó mở rộng sang đào tạo kỹ năng cho thanh niên nam nữ trong các lĩnh vực như may vá, giặt là, làm tóc, đóng giày và sửa ống nước.
Sau khi hoàn thành đào tạo, người tham gia được cung cấp các bộ dụng cụ khởi nghiệp để giúp họ kiếm sống. Một số người đã dần có thể vượt qua cuộc sống trong trại. Sơ Mary Unwuchola và nhóm của sơ cũng thường xuyên đến thăm, cầu nguyện và tư vấn, khích lệ các gia đình giữ vững hy vọng rằng hòa bình sẽ trở lại.
Từ di dời đến phẩm giá
Tại trại Daudu, Sơ Mary đã gặp Regina Nyamve, người đến trại khi mới mười lăm tuổi. Sau hai năm, các nữ tu đã giúp cô quay trở lại trường học. Cô hoàn thành chương trình trung học vào năm 2025 và hiện đang theo học tại một trường thời trang ở Makurdi.
“Từ trại di tản nội địa, tôi đã hoàn thành trung học,” cô nói. “Giờ đây tôi đang học một nghề. Tôi muốn theo học ngành Điều dưỡng.” Việc đào tạo cho phép cô tự tin hình dung một tương lai.
Sơ Mary thừa nhận những thách thức về nhu cầu chưa được đáp ứng và tình trạng thiếu lương thực, nhưng Sơ chia sẻ: “Những người di tản nội địa có thể là bất kỳ ai trong chúng ta. Khi bạn nghe thấy điều gì đó, đừng chỉ nói, hãy hành động.”
Hy vọng còn mãi
Trên khắp các trại, các gia đình vẫn tiếp tục hy vọng vào hòa bình và một ngày được trở về nhà. Bất chấp mất mát và bất định, đức tin, sự hỗ trợ cộng đồng và những hành động liên đới giản dị đã giúp họ vững vàng.
Các nữ tu vẫn hiện diện, trao đi những gì các chị có thể, dù không có tất cả câu trả lời. Những thách thức vẫn còn, và hy vọng cũng vậy, “bởi vì không nơi nào bằng nhà.”
Nguồn: vaticannews.va/vi
