2023
Di hài của thánh Helena thành Constantinople đang ở đâu?
2023
TU VIỆN Ở ROMA, NƠI ẨN NÁU CHO “NHỮNG NGƯỜI BỊ ÁP BỨC” TRONG MỌI CUỘC CHIẾN
TU VIỆN Ở ROMA, NƠI ẨN NÁU CHO “NHỮNG NGƯỜI BỊ ÁP BỨC” TRONG MỌI CUỘC CHIẾN
Clare Graziani
– Trước đây, những người Do Thái ở Roma chạy trốn cuộc đàn áp của Đức Quốc xã đã tìm được nơi ẩn náu trong một tu viện ở ngoại ô thủ đô, do các Nữ tu Dòng Phanxicô Thương xót tổ chức. Ngày nay, những cánh cửa của ngôi nhà đó vẫn mở rộng để chào đón và ôm lấy những người chạy trốn khỏi mọi cuộc chiến.
“Chị cũng sống ở đây à?” “Vâng, tất nhiên, ngôi nhà là của tất cả chúng tôi”. “Của các chị?” “Đúng vậy, nhưng nó sẵn sàng giúp đỡ những người gặp khó khăn”. “Vậy các chị thật tốt” Một phụ nữ trẻ người Somali xinh đẹp và mang khăn che mặt theo phong cách Hồi giáo, ngạc nhiên nhìn kỹ hơn người phụ nữ cũng đội khăn, người mà cô đã quyết định trao đổi những lời đầu tiên.
Asha đến Roma từ một trại tị nạn trên một hòn đảo của Hy Lạp, nơi cô sinh con dưới một chiếc lều bằng nhựa không thể bảo vệ cô khỏi cái lạnh, động vật hay kể cả con người. Rời khỏi Somalia, bị người chồng không còn yêu thương đuổi đi, Asha, ở tuổi đôi mươi, lần đầu tiên lên đường từ địa ngục Libya để đến hố đen của hòn đảo Lesbos, trại di cư, nơi cô tin rằng cuộc chạy trốn vô ích của mình kết thúc ở đó.
Những ngày vô vọng, đầy hỗn loạn, kinh hoàng và ồn ào dưới chiếc lều nhựa, bám lấy đứa con gái nhỏ mà cô bảo vệ như một con sư tử cái, trong khi một đứa trẻ khác đang lớn lên trong bụng mẹ để chào đời trong vô vàn nguy hiểm. Asha có đôi tay mạnh mẽ, giống như những người Somalia trẻ tuổi. Nhưng cô chưa bao giờ gặp được điều gì tốt. Sau đó, cô hỏi người phụ nữ đội lúp: “Các con của chị đâu?”. “Tôi không có con,” người này trả lời. “Vậy chồng của chị đâu?” “Tôi không có chồng.” “Không có chồng? Không chứ?”, Asha mở to đôi mắt. “Không. Không có chồng. Tôi được thánh hiến cho Thiên Chúa.”
Asha, người được cộng đồng Thánh Egidio tìm thấy dưới chiếc lều nhựa đó, cuối cùng đã đến Roma, đến tu viện của các Nữ tu Dòng Phanxicô Thương Xót. Với Noor và Fatima, 6 và 3 tuổi, cô được đưa lên tầng hai, nơi cô sắp xếp đồ đạc của mình trong một căn phòng, nơi mà cô không biết rằng nhiều năm trước, vào năm 1943, đã được mở ra cho những người mẹ khác, cho những đứa trẻ bỏ trốn. Những người bị áp bức được giải cứu khỏi sự bách hại của bọn Quốc xã-Phát xít. Họ được các nữ tu cứu sống bất chấp nguy hiểm đến mạng sống.
Asha không biết. Nhưng gia đình của những người phụ nữ không có chồng đã đáp lại ơn gọi này trong nhiều năm. Hãy là con tàu cứu hộ cho bất cứ ai chạy trốn sự ác. Nơi cập bến, đường Poggio Mojano số 8, thành phố Roma, vùng ngoại ô phía bắc. Có một cánh cửa ở đó, nếu bạn gặp khó khăn, sẽ mở ra cho bạn mà không cần thắc mắc. Một câu chuyện bắt đầu khi ở Roma, vào cuối Thế chiến thứ hai, Đức Quốc xã đã săn lùng từng nhà một để tìm người Roma gốc Do Thái và đưa họ lên tàu hỏa đến trại tập trung Auschwitz. Điểm đến tiêu diệt cuối cùng.
Tuy nhiên, ở Roma vào năm 1943, nơi bị chiếm đóng bởi Đức quốc xã, các dấu hiệu về một “ước muốn” của Giáo hoàng đã lan truyền giữa các tu viện. Che giấu người Do Thái, bị Đức quốc xã truy lùng với sự đồng lõa của bọn phát xít Ý, những kẻ đã lập danh sách những người Roma bị vây bắt. Tu viện ở đường Poggio Mojano số 8 đã mở cửa khi mẹ bề trên thời đó, mẹ Elisabetta, như đã ghi lại trong nhật ký của mẹ mong muốn của Đức Giáo hoàng rằng người dân cho “những người bị bách hại được trú ẩn”. Không phải tu viện Roma nào cũng làm theo ý ngài. Tuy nhiên, tại tu viện đường Poggio Mojano, mong muốn đó của Giáo hoàng gần như được thực hiện trước.
Người đầu tiên đến là một giáo viên tiểu học. Sau đó, đến lượt các gia đình chạy trốn. Tất cả được che giấu trên tầng hai, trong 7căn phòng được che khuất khỏi tầm nhìn của những kẻ săn tìm, nơi các nữ tu đặt tượng Đức Mẹ Luxembourg để bảo vệ những người bị đàn áp. Các nữ tu đã xin phép những vị khách Do Thái của họ trước. Với lòng dũng cảm và táo bạo, các nữ tu đã giấu họ trong cùng một cơ sở, nơi mà cho đến ngày 3/10, quân Đức quốc xã đã chiếm đóng để làm bệnh viện quân đội. Và chính sự táo bạo đã hỗ trợ họ mỗi khi các đám lính quay lại tiến hành lục soát. Các nữ tu đã đánh lạc hướng bằng những lời nói dối thánh thiện và sự ứng biến liều lĩnh, cho đến khi quân Đức bỏ đi, vì bị đánh lừa.
Trong thời gian hoà bình, tu viện bắt đầu mở trường mẫu giáo và trường tiểu học Thánh Phanxicô. Nhiều thế hệ trẻ em, trong đó có nhà văn, lớn lên trong những lớp học đó, xếp hàng trên cùng những vạch đen mà chúng không biết rằng lính Đức quốc xã có vũ trang đã xếp hàng vào ngày 3/10/1943. Không ai trong số những đứa trẻ thời bình đó từng biết, cho đến năm 2019 (khi L’Osservatore Romano tiết lộ), câu chuyện che giấu người Do Thái của gia đình của những người phụ nữ đã dạy chúng sự dịu dàng yêu thương của Chúa Giêsu và của Thánh Phanxicô và không bao giờ đánh mất niềm hy vọng.
Nhưng chiến tranh đã đang rình rập. Tham nhũng, buôn bán vũ khí, khí hậu điên cuồng, sự mất ổn định sâu sắc ở Châu Phi, Trung Đông, sự đàn áp của các chế độ độc tài, đã tạo ra những người bị áp bức mới. Do đó, cánh cửa đường Poggio Mojano số 8, một cách tự nhiên, lại mở ra cho những người bị áp bức, những người không còn là người Roma như năm 1943, mà là người Rumania, người Nga, người Ucraina, người Somalia, người Congo, người Syria, người Afghanistan, người du mục Rôm.
Hiện tại, có 12 khách ở trong 7 phòng trước đây thuộc sở hữu của Đức Quốc xã và sau đó là của những người tị nạn Do Thái. Các nữ tu dòng Thánh Phanxicô dành cho họ tầng 2 của tu viện. Và mọi người đến từ khắp nơi trên thế giới. Các trẻ em đến, thậm chí có các em bé được sinh ra. Những bà mẹ lòng đầy đau khổ đến, với những đứa con chào đời trong sợ hãi, đôi khi vì bạo lực, được trải nghiệm như một số phận không thể tránh khỏi. Tu viện một lần nữa là một bệnh viện chữa trị cho những con người bị tổn thương. Con tàu đó sẽ luôn sẵn sàng khởi hành từ đường Poggio Mojano số 8 để đón “những kẻ bị áp bức” trong mọi cuộc chiến.
Nguồn: vaticannews.va/vi
2023
Nhà phát minh phiên bản máy fax đầu tiên
Nhà phát minh phiên bản máy fax đầu tiên
Linh mục người Ý Giovanni Caselli (8.6.1815 – 25.4.1891) là nhà phát minh chiếc máy điện báo toàn năng, tiền thân của dòng máy fax ngày nay.
Đam mê môn điện tử và từ trường từ thuở nhỏ, cha Caselli không những tạo ra máy điện báo toàn năng mà còn giới thiệu với thế giới hệ thống máy fax thực tiễn đầu tiên. Ngài nắm giữ nhiều bằng sáng chế và ý tưởng công nghệ của ngài đã được người đời sau phát triển thành truyền hình sử dụng tín hiệu tương tự để truyền tải hình ảnh và âm thanh (TV analog) cũng như máy quay cầm tay.
Yêu thích khoa học từ bé
Cha Caselli chào đời ở thị trấn Siena (Ý) ngày 25.4.1815. Khi còn nhỏ, cậu bé Caselli đã được nhà vật lý Leopoldo Nobili dạy phụ đạo những môn như điện hóa, điện từ và từ trường. Quyết định theo ơn gọi, thầy Caselli được truyền chức linh mục năm 1836 trước khi trở thành sinh viên của Đại học Florence ở các ngành văn chương, lịch sử, khoa học và tôn giáo. Từ năm 1841-1848, vị linh mục chuyển đến sống ở Parma và làm gia sư cho các con trai của Bá tước Sanvitale ở đây.
Năm 1849, sau cuộc binh biến ở Parma, cha quay lại Florence và trở thành giáo sư vật lý tại đại học. Năm 1851, ngài sáng lập chuyên san kỹ thuật La Ricreazione với những bài viết giải thích về các vấn đề vật lý theo ngôn ngữ đời thường. Cha tiếp tục học về điện tử và từ trường. Từ năm 1855 đến 1861, vị linh mục phát minh chiếc máy điện báo toàn năng, tiền thân của máy fax.
Nhờ vào phát minh trên, cha được hoàng đế Napoleon III của Pháp trao Bắc đẩu Bội tinh. Các nhà khoa học và kỹ sư ở Paris bắt đầu thành lập Hiệp hội Điện báo toàn năng nhằm trao đổi ý tưởng về chiếc máy này và lắp đặt hệ thống thiết bị đồng bộ để gởi và nhận thông tin hiệu quả.
Máy điện báo toàn năng
Pantèlègraph là từ ghép của pantograph, thiết bị sao chép những chữ tượng hình và các phác thảo, với telegraph, hệ thống điện tử gởi thông điệp từ nơi này đến nơi khác. Trong thời gian làm giáo sư của Đại học Florence, cha Caselli dành hầu hết thời gian nghiên cứu công nghệ truyền điện báo những nét phác thảo và chữ viết tay. Nhà phát minh Alexander Bain (Scotland) và nhà vật lý học Frederick Bakewell (Anh) cũng đồng thời nghiên cứu kỹ thuật này.
Trở ngại lớn vào thời đó chính là phải đạt được sự đồng bộ hoàn hảo giữa giai đoạn truyền và tiếp nhận. Cha Caselli đã phát triển dạng công nghệ điện hóa với cơ chế đồng bộ dựa trên đồng hồ, cho phép việc truyền và nhận dữ liệu hơn hẳn bất kỳ công nghệ nào mà hai chuyên gia Bain lẫn Bakewell từng thực hiện được.
Linh mục Caselli đã chế tạo nguyên mẫu đầu tiên của hệ thống vào năm 1856 và biểu diễn phát minh đột phá cho Leopold II, Đại Công tước xứ Tuscany. Vị công tước vô cùng ấn tượng với thiết bị của cha và quyết định tài trợ cho các cuộc thử nghiệm của ngài. Khi Leopold II không còn hào hứng tài trợ cho nỗ lực nghiên cứu, vị linh mục chuyển đến Paris để giới thiệu phát minh cho Hoàng đế Napoleon III. Vị hoàng đế lập tức trở thành người ủng hộ nhiệt thành cho dự án của cha Caselli. Từ năm 1857 đến năm 1861, nhờ vào sự dẫn dắt của nhà phát minh kiêm kỹ sư người Pháp Paul-Gustave Froment, cha Caselli hoàn thiện cỗ máy điện báo toàn năng và thiết bị đã có thể hoạt động được.
Năm 1860, hoàng đế Napoleon quyết định đưa thiết bị điện báo toàn năng của cha Caselli vào sử dụng trên thực tế. Cha không những tiếp cận được hệ thống điện báo của nước Pháp mà còn nhận được sự tài trợ từ hoàng đế nước này. Khi chạy thử, máy đã truyền tải thành công hình ảnh chữ ký của nhà soạn nhạc Gioacchino Rossini từ Paris đến Amiens ở cách đó 140km. Năm 1863, cha Caselli tiếp tục thử nghiệm công nghệ mới, lần này thông qua khoảng cách 800km từ Paris đến Marseille, và cũng thành công.
Năm 1864, Pháp ban hành luật cho phép sử dụng máy điện báo toàn năng trong hệ thống điện báo của nước này. Một năm sau, tuyến Paris-Lyon được khai trương, trước khi mở rộng đến Marseille năm 1867. Cha Caselli đã phát minh hệ thống fax thương mại đầu tiên và khai sinh cái gọi là “tờ bìa fax”. Vị linh mục người Ý đã được cấp bằng sáng chế của châu Âu nhờ vào thiết bị này.
Anh quốc cũng mở tuyến thử nghiệm giữa London và Liverpool trong 4 tháng của năm 1863. Năm 1867, Hoàng đế Napoleon chỉ đạo mua thiết bị của cha Caselli để sử dụng truyền thông tin từ Paris đến Marseille. Sa hoàng Nga Alexander II cũng cho chạy thử dịch vụ này từ cung điện ở Saint Petersburg đến Moscow từ năm 1861-1865.
Tuy nhiên, bất chấp những thành công, thiết bị không được kịp thời cải tiến nên hoạt động chậm chạp, dẫn đến không hiệu quả theo thời gian. Cuối cùng, vị linh mục từ bỏ phát minh của mình và quay về Florence, nơi ngài qua đời năm 1891. Phải nhiều thập niên sau, ý tưởng của cha Caselli một lần nữa được phổ biến và tạo tiền đề cho chiếc máy fax thời hiện đại. Cũng xuất phát từ công nghệ trên, máy quay dùng trong phòng quay ra đời và kế đến là máy quay cầm tay.
BẠCH LINH
2023
Lễ tuyên chân phước nữ tu Eliza Martinez
Lễ tuyên chân phước nữ tu Eliza Martinez
Nữ tu Elisa Martinez, người sáng lập dòng Nữ tử Đức Mẹ Leuca, đã được tuyên chân phước ngày 25.6.2023. Đức Hồng y Marcello Semeraro, Tổng trưởng Bộ Phong thánh, đại diện Đức Thánh Cha Phanxicô, đã chủ sự thánh lễ tôn phong tại quảng trường đền thánh Đức Mẹ Leuca, cùng với đông đảo các giám mục thuộc miền Puglia (Ý), linh mục, tu sĩ và giáo dân. Chân phước Elisa Martinez sinh ngày 25.3.1905 tại Galatina, tỉnh Lecce, miền nam Ý. Ngày 25.3.1938, với sự giúp đỡ của linh mục Luigi giáo xứ Mizzano và Đức cha Giuseppe Ruotolo, Giám mục giáo phận Ugento, chị đã thành lập một tổ chức tôn giáo của phụ nữ. Hội này được Đức Giám mục công nhận là dòng giáo phận với danh xưng Nữ tử Đức Mẹ Maria Leuca. Năm 1943, dòng được Tòa Thánh công nhận và bắt đầu phát triển các nơi, dấn thân nâng đỡ các anh chị em nghèo khổ về vật chất cũng như tinh thần. Dòng hiện có 630 Nữ tử Đức Mẹ Leuca đang hoạt động tại 65 cộng đoàn ở 11 quốc gia. Nữ tu Elisa Martinez qua đời ngày 8.2.1991 tại Rome, hưởng thọ 86 tuổi.
