2020
Phép lành Urbi et Orbi của Đức Thánh Cha trong bối cảnh dịch Coronavirus
Phép lành Urbi et Orbi của Đức Thánh Cha trong bối cảnh dịch Coronavirus
‘Sao nhát thế? Làm sao mà anh em vẫn chưa có lòng tin?’

Ngày 27 tháng Ba năm 2020, Đức Thánh Cha Phanxicô gửi toàn thế giới câu hỏi mà Chúa Giêsu đã đặt ra cho các tông đồ đang run sợ trên con thuyền bị phong ba vùi dập trong biển hồ Galilê: “Sao nhát thế? Làm sao mà anh em vẫn chưa có lòng tin?”
https://twitter.com/i/status/1243589939725512707Đức Thánh Cha nhắc đến câu chuyện trong chương bốn Tin mừng Thánh Máccô. Nhưng ngài giải thích rằng trận phong ba mà thế giới đang đối mặt hôm nay là đại dịch coronavirus, nó đã lây nhiễm cho hơn một nửa triệu người trên toàn thế giới và gây ra cái chết của hơn 25.000 người.
Đức Thánh Cha Phanxicô nói, “Rất dễ nhận ra chúng ta trong câu chuyện này. Điều khó hiểu hơn là thái độ của Chúa Giêsu. Trong khi các môn đệ của Ngài vô cùng hoảng sợ và tuyệt vọng, Ngài đứng ở phần đuôi thuyền, ở vị trí của con thuyền sẽ bị chìm trước. Và Ngài làm gì? Mặc kệ cơn phong ba gào thét, Ngài ngủ thật ngon, tin tưởng vào Chúa Cha; đây là lần duy nhất trong các Tin mừng chúng ta thấy Chúa Giêsu ngủ. Khi Ngài tỉnh giấc, sau khi làm gió im và biển lặng, Ngài quay sang các môn đệ với giọng quở trách: ‘Sao nhát thế? Làm sao mà anh em vẫn chưa có lòng tin?’ (c. 40).
“Bão tố cho thấy sự mong manh của chúng ta và phơi bày những sự vững chắc giả tạo và vô dụng mà chúng ta dựa trên chúng để xây dựng các kế hoạch, các dự án, thói quen, và những ưu tiên cho mình. Nó cho chúng ta thấy là chúng ta đã để mình trở nên tối dạ và chậm chạp trước những điều thật sự nuôi dưỡng, giữ gìn và bồi bổ sức mạnh cho đời sống chúng ta và cộng đồng. Cơn phong ba phơi bày tất cả những ý tưởng được định hình trước của chúng ta và quên đi những điều vun đắp linh hồn con người; tất cả những sự cố gắng đó làm chúng ta tê liệt bằng những lối suy nghĩ và hành động cho rằng nó “cứu thoát” chúng ta, nhưng ngược lại nó cho thấy không có khả năng đưa chúng ta chạm đến được những cội nguồn của mình và giữ ký ức sống động về những người đã đi trước chúng ta. Chúng ta đã đánh mất các kháng thể chúng ta cần có để đương đầu với nghịch cảnh.”
Những lời dạy của Đức Thánh Cha đưa ra trong bối cảnh đặc biệt. Ngài cầu nguyện trước một Quảng trường trống không trên sagrato của Vương cung Thánh đường Thánh Phê-rô, đó là giảng đài trên đỉnh tam cấp ngay phía trước chính điện của nhà thờ. Linh ảnh “Salus Populi Romani” và Thánh giá của Nhà thờ Thánh Marcellus được đặt trước cửa chính của Vương cung Thánh đường Thánh Phêrô.
Mình Thánh Chúa được đặt trên bàn thờ trong gian ngoài của Vương cung Thánh đường Vatican. Nghi thức bao gồm các bài đọc Thánh kinh, những lời khẩn nguyện, và tôn thờ Thánh Thể. Nghi thức kết thúc với Phép lành Urbi et orbi của Đức Thánh Cha Phanxicô, và cơ hội nhận được ơn đại xá cho tất cả những người lắng nghe trực tiếp qua nhiều nền tảng truyền thông. Ơn đại xá cũng được mở rộng cho những người không thể tham dự cầu nguyện qua các phương tiện truyền thông do đau bệnh nhưng hiệp thông thiêng liêng trong lời cầu nguyện.
Đức Phanxicô nhấn mạnh, “Giữa cơn phong ba cuộc đời, Chúa yêu cầu và mời gọi chúng ta hãy tỉnh ngộ và thực hành tình liên đới và cậy trông để có thể trao tặng sức mạnh, sự hỗ trợ, và ý nghĩa cho những giây phút này khi mọi sự dường như đều chao đảo. Chúa thức dậy để đánh thức và làm hồi sinh niềm tin Phục sinh của chúng ta.”
“Ôm lấy thập giá của Người có nghĩa là tìm sự can đảm để ôm lấy tất cả những khó khăn của thời gian hiện tại, từ bỏ đam mê quyền lực và những chiếm hữu để nhường không gian cho sự sáng tạo mà chỉ Thần Khí có khả năng truyền cảm hứng. Nó có nghĩa là tìm sự can đảm để tạo ra những không gian nơi mọi người có thể nhận biết rằng họ được kêu gọi, và cho phép những hình thức mới của lòng hiếu khách, của tình huynh đệ, và tình liên đới. Nhờ thập giá của Người, chúng ta đã được giải thoát để ôm lấy hy vọng và cho phép niềm hy vọng đó củng cố và duy trì tất cả các biện pháp và những con đường khả thi để giúp chúng ta bảo vệ chính bản thân và tha nhân. Ôm lấy Chúa để ôm lấy hy vọng: đó là sức mạnh của đức tin giải thoát chúng ta khỏi nỗi sợ hãi và trao cho chúng ta niềm hy vọng.”
Dưới đây là toàn văn huấn từ của Đức Thánh Cha do Vatican cung cấp (bản tiếng Anh)
“Khi chiều đến” (Mc 4:35). Đó là câu mở đầu trong trích đoạn Tin mừng chúng ta vừa nghe. Những tuần lễ vừa qua dường như là chiều đến. Bóng tối dày đặc đã phủ bóng trên những quảng trường, những đường phố, và những đô thị của chúng ta; nó đã chế ngự cuộc sống chúng ta, nhận chìm mọi thứ trong sự im lặng lạnh lùng và một không gian lo âu, nó làm mọi thứ dừng lại khi nó đi qua; chúng ta cảm thấy nó trong không khí, chúng ta nhìn thấy trong những hành vi của con người, những ánh mắt nhìn xa lánh. Chúng ta cảm thấy sợ hãi và lạc lõng. Cũng như các môn đệ trong Tin mừng, chúng ta bị rơi vào một trận cuồng phong bất ngờ. Chúng ta nhận ra rằng chúng ta ở trên cùng một con thuyền, tất cả chúng ta đều mong manh và mất phương hướng, nhưng đồng thời lại rất quan trọng và cần thiết, tất cả chúng ta được kêu gọi để cùng nhau chèo chống, mỗi chúng ta cần phải an ủi người khác. Tất cả chúng ta cùng ở trên con thuyền này. Cũng như các môn đệ khi xưa, họ cùng thốt lên một câu đầy lo âu rằng, “Chúng ta chết đến nơi rồi” (c. 38), cũng vậy, chúng ta nhận thấy chúng ta không thể tiếp tục nghĩ riêng cho bản thân, nhưng chỉ cùng chung sức với nhau chúng ta mới có thể làm được điều này.
Rất dễ nhận ra chúng ta trong câu chuyện này. Điều khó hiểu hơn là thái độ của Chúa Giê-su. Trong khi các môn đệ của Ngài vô cùng hoảng sợ và tuyệt vọng, Ngài đứng ở phần đuôi thuyền, ở vị trí của con thuyền sẽ bị chìm trước. Và Ngài làm gì? Mặc kệ cơn phong ba gào thét, Ngài ngủ thật ngon, tin tưởng vào Chúa Cha; đây là lần duy nhất trong các Tin mừng chúng ta thấy Chúa Giêsungủ. Khi Ngài tỉnh giấc, sau khi làm gió im và biển lặng, Ngài quay sang các môn đệ với giọng quở trách: ‘Sao nhát thế? Làm sao mà anh em vẫn chưa có lòng tin?’ (c. 40).
Chúng ta thử tìm hiểu. Có điều gì đó còn thiếu trong niềm tin của các môn đệ, trái ngược lại với sự tin tưởng của Chúa Giêsu? Các ông vẫn luôn tin vào Người; quả thật, họ kêu cầu Người. Nhưng chúng ta nhìn thấy cách họ gọi Người: “Thầy ơi, chúng ta chết đến nơi rồi, Thầy chẳng lo gì sao?” (c. 38). Thầy chẳng lo gì sao: họ nghĩ rằng Chúa Giêsu không để ý đến họ, không quan tâm đến họ. Một trong những điều làm tổn thương chúng ta và gia đình chúng ta nhất là khi chúng ta nghe câu trách móc: “Anh chẳng quan tâm gì đến tôi sao?” Đó là một câu làm thương tổn và gây nên bão tố trong lòng chúng ta. Câu đó chắc cũng đã làm Chúa Giêsu bàng hoàng. Vì Người quan tâm đến chúng ta hơn bất kỳ ai khác. Thật vậy, khi các ông kêu cầu Người, Người liền cứu các môn đệ của Người khỏi tuyệt vọng.
Bão tố cho thấy sự mong manh của chúng ta và phơi bày những sự vững chắc giả tạo và vô dụng mà chúng ta dựa trên chúng để xây dựng các kế hoạch, các dự án, thói quen, và những ưu tiên cho mình. Nó cho chúng ta thấy là chúng ta đã để mình trở nên tối dạ và chậm chạp trước những điều thật sự nuôi dưỡng, giữ gìn và bồi bổ sức mạnh cho đời sống chúng ta và cộng đồng. Cơn phong ba phơi bày tất cả những ý tưởng được định hình trước của chúng ta và quên đi những điều vun đắp linh hồn con người; tất cả những sự cố gắng đó làm chúng ta tê liệt bằng những lối suy nghĩ và hành động cho rằng nó “cứu thoát” chúng ta, nhưng ngược lại nó cho thấy không có khả năng đưa chúng ta chạm đến được những cội nguồn của mình và giữ ký ức sống động về những người đã đi trước chúng ta. Chúng ta đã đánh mất các kháng thể chúng ta cần có để đương đầu với nghịch cảnh.
Trong cơn bão tố này, hình thức bề ngoài của những khuôn mẫu mà chúng ta dùng để ngụy trang cho cái tôi của mình, chỉ chăm chút lo lắng về hình ảnh của chúng ta, đã biến đi, để một lần nữa cho thấy sự hệ thuộc phổ quát (đầy phúc lành) mà chúng ta không thể thiếu: sự hệ thuộc rằng chúng ta là anh em và chị em.
“Sao nhát thế? Làm sao mà anh em vẫn chưa có lòng tin?” Lạy Chúa, Người đang kêu gọi chúng con, kêu gọi chúng con tin tưởng. Đó không chỉ là tin vào Người hiện hữu, nhưng là chạy đến với Người và tín thác vào Người. Mùa Chay này tiếng gọi của Người lại vang lên một cách cấp bách: “Hãy sám hối!”, “Hãy hết lòng trở về với Ta” (Ge 2:12). Người đang kêu gọi chúng con hãy nắm bắt lấy thời gian thử thách này như là thời gian để lựa chọn. Nó không phải là thời gian xét xử của Người, nhưng là thời gian xét xử của chúng con: thời gian để chọn điều gì là hệ trọng và điều gì là chóng qua, thời gian để tách bạch điều gì là cần thiết và điều gì là không. Lạy Chúa, nó là thời gian để đưa cuộc sống chúng con trở về con đường với Người, với tha nhân. Chúng con có thể nhìn đến rất nhiều người gương mẫu trên hành trình, là những người cho dù sợ hãi nhưng vẫn hành động bằng cách hy sinh đời sống của họ. Đây là sức mạnh của Thần Khí rót đổ và tạo nên qua sự hy sinh dũng cảm và quảng đại. Đó chính là sự sống trong Thần Khí để có thể chuộc lại, trao giá trị và cho thấy đời sống chúng ta được đan kết và gìn giữ bởi những con người bình thường như thế nào – thường là những người bị lãng quên – những con người không xuất hiện trên các trang nhất của báo và tạp chí, cũng không xuất hiện trên các sàn diễn thời trang lớn trong những buổi diễn mới nhất, nhưng chính là những con người trong những ngày này viết lên biến cố quyết định cho thời đại của chúng ta: những bác sĩ, y tá, nhân viên siêu thị, người lao công, người phụ chăm sóc y tế, những người chuyên chở, các lực lượng luật pháp và giữ trật tự, những thiện nguyện viên, các linh mục, nam nữ tu sĩ và rất nhiều người khác, tất cả họ hiểu rằng chẳng có ai đạt được ơn cứu độ bằng chính cá nhân mình. Trước quá nhiều đau khổ, sự phát triển đích thực của các dân tộc được đánh giá, chúng ta cảm nghiệm được lời cầu nguyện của Chúa Giêsu: “để tất cả nên một” (Ga 17:21). Không biết bao nhiêu người hàng ngày đang thực hành đức kiên nhẫn và trao tặng hy vọng, chăm chú gieo hạt giống trách nhiệm chung chứ không phải là sự hoảng loạn. Không biết bao nhiêu người cha, người mẹ, ông bà, và các nhà giáo dục, bằng những cử chỉ nhỏ bé mỗi ngày, đang chỉ cho con cái của chúng ta thấy cách thức để đối mặt và đi qua khủng hoảng bằng sự điều chỉnh những thói quen của chúng, hướng ánh mắt của chúng nhìn lên và dâng lời cầu nguyện. Không biết bao nhiêu người đang cầu nguyện, dâng lên và cầu thay nguyện giúp vì sự tốt lành cho tất cả mọi người. Cầu nguyện và phục vụ thầm lặng: đây là những vũ khí khải hoàn của chúng ta.
“Sao nhát thế? Làm sao mà anh em vẫn chưa có lòng tin?” Niềm tin bắt đầu khi chúng ta nhận ra rằng chúng ta cần được cứu rỗi. Chúng ta không thể tự mình lo cho mình; chúng ta sẽ sụp đổ nếu chỉ dựa vào riêng bản thân: chúng ta cần Chúa như những nhà hàng hải xưa kia cần các ngôi sao. Chúng ta hãy mời Chúa Giêsu lên những con thuyền cuộc đời của chúng ta. Chúng ta hãy chuyển những nỗi sợ hãi của chúng ta cho Người để Người chế ngự chúng. Cũng như các môn đệ, chúng ta sẽ có kinh nghiệm rằng có Người ở trên thuyền thì sẽ không lo bị đắm. Vì đây là sức mạnh của Chúa: biến đổi mọi điều xảy ra cho chúng ta trở nên tốt, ngay cả những điều xấu. Người mang đến sự yên bình trong những cơn bão tố của chúng ta, vì với Thiên Chúa sự sống không bao giờ chết đi.
Giữa cơn phong ba cuộc đời, Chúa yêu cầu và mời gọi chúng ta hãy tỉnh ngộ và thực hành tình liên đới và cậy trông để có thể trao tặng sức mạnh, sự hỗ trợ, và ý nghĩa cho những giây phút này khi mọi sự dường như đều chao đảo. Chúa thức dậy để đánh thức và làm hồi sinh niềm tin Phục sinh của chúng ta. Chúng ta có một cái neo: nhờ thập giá của Người, chúng ta đã được giải thoát. Chúng ta có một bánh lái: nhờ thập giá của Người, chúng ta đã được cứu độ. Chúng ta có niềm hy vọng: nhờ thập giá của Người, chúng ta đã được chữa lành và được ôm lấy để không điều gì và không ai có thể chia cách chúng ta ra khỏi tình yêu cứu độ của Người. Trong hoàn cảnh cách ly khi chúng ta đang chịu đựng cảnh thiếu thốn sự sự dịu dàng và cơ hội gặp gỡ, và chúng ta đang nếm trải sự mất mát rất nhiều thứ, một lần nữa chúng ta hãy lắng nghe lời loan báo giải thoát chúng ta: Người đã trỗi dậy và đang ở bên chúng ta. Từ trên thập giá Chúa kêu gọi chúng ta hãy tái khám phá sự sống đang chờ đợi chúng ta, để nhìn đến những người đang trông chờ chúng ta, để củng cố, nhận biết và thúc đẩy ân sủng sống trong ta. Chúng ta đừng dập tắt ngọn lửa đang chập chờn (x. Is 42:3) để không bao giờ lùi bước, và chúng ta hãy cho phép niềm hy vọng được nhen nhóm trở lại.
Ôm lấy thập giá của Người có nghĩa là tìm sự can đảm để ôm lấy tất cả những khó khăn của thời gian hiện tại, từ bỏ đam mê quyền lực và những chiếm hữu để nhường không gian cho sự sáng tạo mà chỉ Thần Khí có khả năng truyền cảm hứng. Nó có nghĩa là tìm sự can đảm để tạo ra những không gian nơi mọi người có thể nhận biết rằng họ được kêu gọi, và cho phép những hình thức mới của lòng hiếu khách, của tình huynh đệ, và tình liên đới. Nhờ thập giá của Người, chúng ta đã được giải thoát để ôm lấy hy vọng và cho phép niềm hy vọng đó củng cố và duy trì tất cả các biện pháp và những con đường khả thi để giúp chúng ta bảo vệ chính bản thân và tha nhân. Ôm lấy Chúa để ôm lấy hy vọng: đó là sức mạnh của đức tin giải thoát chúng ta khỏi nỗi sợ hãi và trao cho chúng ta niềm hy vọng.
“Sao nhát thế? Làm sao mà anh em vẫn chưa có lòng tin?” Anh chị em thân mến, từ nơi thể hiện niềm tin vững như bàn thạch của Phêrô, tối nay cha xin phó dâng tất cả anh chị em lên Thiên Chúa, qua sự chuyển cầu của Mẹ Maria, là Sức khỏe của mọi người và là Vì Sao của Biển cả giông bão. Từ hàng cột trụ ôm lấy thành Roma và toàn thế giới, nguyện xin phúc lành của Chúa đổ xuống trên anh chị em như vòng tay ôm ấp vỗ về. Lạy Chúa, xin Người chúc lành cho thế giới, xin ban sức khỏe cho thân xác chúng con và an ủi tâm hồn chúng con. Chúa nói chúng con đừng sợ, nhưng đức tin của chúng con yếu kém và chúng con đang sợ hãi. Lạy Chúa, xin đừng để chúng con ở lại với phong ba bão tố. Xin hãy nói với chúng con lần nữa: “Đừng sợ” (Mt 28:5). Và cùng với Thánh Phêrô, chúng con “trút cả mọi âu lo cho Người, vì Người chăm sóc chúng con” (x. 1 Pr 5:7).
© Libreria Editrice Vatican
[00417-EN.01] [Văn bản chính: tiếng Ý]
[Nguồn: zenit]
[Chuyển Việt ngữ: TRI KHOAN 28/3/2020]
2020
Thành phố quê hương của Mẹ Têrêsa được chúc lành với thánh tích của Mẹ
Hôm 20/03 vừa qua, tại núi Vodno, nơi có cây Thánh giá cao 66 mét, thuộc thành phố Skopje, Cộng hòa Bắc Macedonia, Đức cha Kiro Stojanov đã dùng thánh tích của Mẹ Têrêsa Calcutta để chúc lành cho thành phố này.
Trên núi Vodno có một cây Thánh giá, được gọi là Thánh giá Thiên niên kỷ, cao 66 mét, một trong những Thánh giá cao nhất trên thế giới, được xây dựng nhân kỷ niệm 2000 năm Kitô giáo được rao giảng đến thành phố này và để ghi nhớ việc thánh Phaolô đến vùng đất này. Trên ngọn đồi có cây Thánh giá đó, Đức cha Stojanov đã chúc lành cho thành phố và nước Cộng hòa Bắc Macedonia.
Đức cha chúc lành cho Cộng hòa Bắc Macedonia nhân dịp nước này nhận được những tín hiệu tích cực về việc gia nhập Liên hiệp Âu châu, nhưng cũng là lúc quốc gia nhỏ bé này bắt đầu bị virus corona tấn công. Cho đến ngày 27/03, nước này đã có 114 trường hợp nhiễm Covid-19 và phần lớn là ở thủ đô Skopje.
Trong tình cảnh này, Đức cha Stojanov muốn phó thác thành phố Skopje và quốc gia cho Mẹ Têrêsa. Trước hết, Đức cha đã cử hành Thánh lễ trước thánh tích của Mẹ Têrêsa, cầu xin cho Giáo hội và nhân dân Macedonia được bảo vệ khỏi đại dịch virus corona. Sau đó Đức cha đã đi lên núi Vodno; từ nơi có thể nhìn thấy toàn thành phố, ngài đọc kinh xin bảo vệ thành phố và quốc gia. Sau đó, với thánh tích của Mẹ Têrêsa, Đức cha chúc lành cho thành phố Skopje và nước Macedonia, xin Mẹ thánh bảo vệ miền đất quê hương của Mẹ.
Skopje chính là nơi chào đời của Mẹ Têrêsa; ngôi nhà của Mẹ đã bị hủy hoại trong trận động đất năm 1963. Tại nơi này hiện có một đài tưởng niệm và một nhà thờ nơi Mẹ đã được rửa tội. (ACI 27/03/2020)
Hồng Thủy – Vatican
2020
Một buổi chiều bình an và hy vọng
Dõi theo từng bước chân chậm rãi của Đức Giáo Hoàng đến trước linh ảnh Đức Mẹ Maria, rồi đến trước Thập Giá, tôi nghe niềm bình an sâu thẳm lớn dần trong lòng mình. Ngài nói gì với Đấng đang bị treo trên Thập Giá nhỉ? Phải chăng là những lời mà suốt thời gian qua chúng tôi đã kêu lên trong cơn hốt hoảng: “Thầy ơi, chúng con chết mất. Thầy chẳng lo gì sao?” (Mc 4,38).
Khi bóng chiều buông xuống
Tôi tham dự giờ cầu nguyện qua màn lệ.
Lúc khởi đầu, mọi thứ hiện lên trên màn hình vừa thân quen nhưng lại vừa lạ lẫm vô cùng. Là Roma đấy sao? Là Quảng Trường thánh Phê-rô đây sao? Đã rất nhiều lần tôi hiện diện và cầu nguyện ở nơi linh thiêng này. Thậm chí, đã nhiều lần tôi đến Quảng Trường cầu nguyện vào lúc giữa đêm. Nhưng chưa bao giờ tôi gặp cảnh hoang vắng và đìu hiu đến vậy. Roma trong tôi chưa bao giờ buồn đến vậy.
Vatican nằm bên bờ Tây sông Tevere, lệch về phía Tây của trung tâm thành phố Roma. Tôi nhớ những buổi hoàng hôn khi vầng thái dương chìm xuống phía sau Đền Thờ Thánh Phê-rô. Cả ngôi Đền được chiếu sáng từ sau lưng, như được nâng lên chạm đến nền trời xanh ngắt. Đồ sộ và nguy nga. Đẹp huyền hoặc và linh thánh.
Nhưng giờ cầu nguyện chiều hôm nay không có bóng mặt trời.
Trời lại mưa lất phất.
Cả Quảng Trường nhoè ướt trong màn mưa.
Là những giọt nước từ trời hay là những giọt nước mắt của cả nhân loại sợ hãi và đau khổ đã đổ ra trong suốt thời gian vừa qua?
Những giọt nước ướt đẫm cây Thập Giá và Đấng bị treo trên Thập Giá. Cây Thập Giá ấy đã trải qua bao giông bão của cuộc đời, đã cùng chia với dân thành Roma biết bao cơn hoạn nạn khốn khó. Giờ đây, cây Thập Giá ấy trở thành chứng nhân thầm lặng giữa lòng một Quảng Trường mênh mông trống vắng. Bên cạnh Cây Thập Giá là bức linh ảnh của Đức Maria. Khung kính bảo vệ bức ảnh đã bị phủ mờ bởi nước mưa…
Bình an giữa lòng bão tố
Đức Giáo Hoàng xuất hiện. Một chấm trắng bé nhỏ giữa lòng một Quảng Trường rộng mênh mông và xám xịt. Dáng đi hơi khập khiễng xiêu vẹo. Ngài từng bước tiến lên trên con đường dốc ngược.
Tôi như thấy một hình ảnh biểu tượng của cả nhân loại ở thời khắc hiện tại, dưới sức nặng của bóng chiều và bão tố.
Dõi theo từng bước chân chậm rãi của Ngài, tôi cảm được sức nặng của bóng chiều cuộc đời trên đôi vai một ông cụ 84 tuổi. Nhưng bóng chiều của tuổi tác đã không ảnh hưởng gì đến trái tim và nỗi lòng của một người mục tử. Ngài vẫn âm thầm từng bước tiến về phía trước.
Điều người ta nhìn thấy có thể chỉ là một ông cụ cô đơn trong khung cảnh thảm đạm của một chiều mưa buồn. Nhưng điều tôi nghiệm thấy lúc này là một niềm bình an sâu thẳm bỗng tràn dâng giữa lòng mình.
Nếu bóng chiều của tuổi tác và muộn phiền đã không làm cho Đức Giáo Hoàng phải chùng bước, tại sao tôi lại hãi sợ bóng chiều của hoàn cảnh hiện tại mà chúng tôi đang trải qua?
Hành trình đức tin như một con đường dốc ngược, có bao giờ vắng bóng sóng gió và thử thách đâu. Nhưng sóng gió và thử thách làm sao có thể tước mất bình an trong lòng của một người có Chúa?
Dõi theo từng bước chân chậm rãi của Đức Giáo Hoàng đến trước linh ảnh Đức Mẹ Maria, rồi đến trước Thập Giá, tôi nghe niềm bình an sâu thẳm lớn dần trong lòng mình. Ngài nói gì với Đấng đang bị treo trên Thập Giá nhỉ? Phải chăng là những lời mà suốt thời gian qua chúng tôi đã kêu lên trong cơn hốt hoảng: “Thầy ơi, chúng con chết mất. Thầy chẳng lo gì sao?” (Mc 4,38).
Qua Ngài, Đấy ấy đang nói gì với chúng tôi thế nhỉ? Phải chăng là những lời này: “Làm sao mà anh em vẫn chưa có lòng tin?” (Mc 4,40).
Vậy là giữa một chiều mưa phùn khi hoàng hôn buông xuống, niềm tin và niềm hy vọng của chúng tôi lại được nhóm lên cách kỳ diệu.
Và niềm hy vọng được nhóm lên
Tiếng chuông nhà thờ ngân vang trong giây phút Mình Thánh Chúa được nâng cao. Người Công Giáo trên cả thế giới cung kính cúi đầu đón nhận Phép Lành ngoại thường từ tay vị Chủ Chăn của toàn Giáo Hội. Phép Lành ấy mở ra một chân trời hy vọng mới. Rất nhiều niềm tin được đổi mới.
Thì ra Chúa lúc nào cũng ở trên thuyền đời của chúng tôi. Cả những lúc sóng gió nổi lên, Người vẫn ở đó. Nhưng người để chúng tôi phải ra sức chèo chống. Người không chèo giúp chúng tôi. Người không gánh vác dùm chúng tôi phần vốn thuộc về chúng tôi. Người không sống giùm chúng tôi cuộc đời rất riêng của mỗi người. Người luyện chúng tôi lớn lên từng ngày để có thể đảm nhận tốt hành trình cuộc sống của mình. Người không muốn chúng tôi lúc nào cũng dựa dẫm như những kẻ vừa yếu đuối trong cuộc đời lại vừa non kém trong lòng tin.
Người ngủ đúng lúc.
Và Người sẽ thức dậy đúng lúc.
Chẳng có cuồng phong sóng gió nào có thể lật được chiếc thuyền trên đó có Người hiện diện, dù là hiện diện một cách rất lặng lẽ âm thầm.
Trong số những người theo dõi trực tiếp buổi cầu nguyện, có rất nhiều người từ Việt Nam, dù thời khắc ấy đã quá nửa đêm. Con số những người theo dõi trực tuyến vẫn tăng một cách đột biến. Rất nhiều người “đón giao thừa” để được tham dự buổi cầu nguyện và lãnh nhận ơn Toàn Xá từ Đức Giáo Hoàng.
Thì ra chúng ta không một mình trong cuộc chiến này.
Thì ra chúng ta luôn ở cùng nhau trên chiếc thuyền Giáo Hội.
Giữa biển đời nổi sóng, thì ra Người vẫn ở đó với chúng ta.
Gia An, SJ – CTV Vatican News
2020
Chuẩn bị sống Tuần Thánh đặc biệt
Các tín hữu xác tín ấy xác tín rằng nếu Con Thiên Chúa đã chọn con đường khổ giá để cứu chuộc nhân loại, thì chắc chắn hành động ấy phải có lý do, tuy rằng con người không luôn luôn muốn hiểu và chấp nhận.
Làm sao sống và cử hành Tuần Thánh ”đau thương” sắp tới? Hôm 27-3-2020, Ban Phụng Vụ của ĐTC đã công bố lịch trình các lễ nghi Tuần Thánh sắp tới do ĐTC cử hành:
Các lễ nghi không có dân Chúa tham dự
Chúa nhật Lễ Lá 5-4 mở đầu một Tuần Thánh chưa từng có trong lịch sử Giáo Hội: lần đầu tiên các lễ nghi Tuần Thánh tại Vatican không có giáo dân trực tiếp tham dự, nhưng chỉ dự các phương tiện truyền thông. Những Chúa Nhật Lễ Lá bình thường ĐTC chủ sự tại Quảng trường Thánh Phêrô có nghi thức rước lá thật cảm động trước sự tham dự của 3, 4 chục ngàn người, nay chỉ diễn ra trong đơn sơ tột cùng tại bàn thờ cuối thánh đường thánh Phêrô. Cũng vậy với lễ nghi khác trong Tam Nhật Thánh. Không có lễ Dầu sáng thứ năm Tuần Thánh với hàng ngàn giáo sĩ các cấp đồng tế với ĐTC; buổi cử hành thương khó chiều Thứ Sáu Tuần Thánh tại Đền thờ Thánh Phêrô, và buổi đi dàng Thánh Giá trọng thể tại Hý trường Colosseo. Rồi tới đêm vọng Phục Sinh, thánh lễ tại thềm Đền thờ Thánh Phêrô được trang trí bằng hàng chục ngàn hoa từ Hòa Lan, và buổi công bố sứ điệp của ĐTC trước sự hiện diện của hàng chục ngàn tín hữu tại Quảng trường Thánh Phêrô. Nhưng nay, những lễ nghi ấy đơn giản tối đa, trước sự hiện diện của một vài người, trong thái độ thận trọng hết sức để tránh lây nhiễm.
Nhiều nơi trên thế giới, kể cả tại Việt Nam, Tuần Thánh cũng diễn ra với bầu đau thương như thế.
Nhìn thực trạng dưới đôi mắt đức tin
Nhưng ”Mọi hoàn cảnh đều góp phần mưu ích cho những người mến Chúa” như thánh Phaolô đã dạy trong thư gửi tín hữu Roma (Rm 8,28). Với xác tín này, Kitô hữu không đòi Chúa làm phép lạ chữa nhân loại khỏi đại dịch coronavirus, không thắc mắc: tại sao Chúa không ra tay biểu dương uy quyền để mọi người tin vào Chúa? Họ không đặt câu hỏi: tại sao ĐGH và chúng con cầu hoài mà Chúa không lắng nghe, phá tan trận dịch Covid-19 này?
Các tín hữu xác tín ấy xác tín rằng nếu Con Thiên Chúa đã chọn con đường khổ giá để cứu chuộc nhân loại, thì chắc chắn hành động ấy phải có lý do, tuy rằng con người không luôn luôn muốn hiểu và chấp nhận.
Nhìn nhận giá trị của đau khổ và nghịch cảnh
Trong thực tế, qua dòng lịch sử, không thiếu những người nhận thức giá trị cứu độ của đau khổ, qua tấm gương của Chúa Cứu Thế.
Khi không có đức tin, người ta sẽ thấy những đau khổ và nghịch cảnh chỉ là điều vô nghĩa lý và hoàn toàn vô ích. Nhưng đối với những người có niềm tin vào Chúa Giêsu Kitô, Đấng đã dùng chính đau khổ và cái chết để cứu chuộc nhân loại, thì đau khổ không còn là một bất hạnh hoàn toàn tiêu cực nữa. Một đàng các tín hữu vẫn tìm cách chữa trị bệnh tật và giải trừ đau khổ, nhưng đàng khác, họ cũng tìm cách thăng hoa giá trị của đau khổ. ĐTC Gioan Phaolô 2 đã viết trong Tông Thư ”Salvifici doloris” (Khổ đau cứu độ), rằng: ”Chúa Kitô đã dạy cho con người cách biến đổi đau khổ thành điều có lợi, và đồng thời cũng giúp đỡ những ai đang phải chịu đau khổ. Trong cả hai khía cạnh đó, Chúa tỏ lọ ý nghĩa sâu xa của đau khổ” (S.D, 30).
Gương Cha Christensen vượt thắng đau khổ
Hồi đầu tháng 3 này, trang mạng LifeSite ở Mỹ, có đăng một bài về Cha Dana Christensen Wendy Royston, 42 tuổi, cha sở giáo xứ Đức Mẹ Từ Bi (St Mary of Mercy) ở thành phố Alexandria, bang South Dakota, thuộc giáo phận Sioux Falls ở Mỹ.
Cha Christensen vốn là một LM trẻ trung, khỏe mạnh, đang hăng say hoạt động tại các giáo xứ ở Alexandria, Emery và Bridgewater, nhưng tháng 7 năm 2019, cha bắt đầu nhận thấy có gì không ổn, bắp cơ giật và đổi giọng nói. Ban đầu cha đi bác sĩ toàn khoa, rồi được bác sĩ gửi đến bác sĩ chuyên về thần kinh, với một loạt các thử nghiệm phải trải qua. Sau cùng, cuối tháng 10-2019, cha Christensen nhận được cú điện thoại của bác sĩ cho biết cha bị bệnh Xơ cứng teo cơ một bên, cũng gọi là bệnh Lou Gherig, làm cho các thần kinh điều khiển cơ xương chết đi, dần dần bệnh nhân gặp khó khăn trong việc nói, nuốt và thở. Bệnh này chưa có phương thức trị liệu. Thời gian sống trung bình từ khi mắc bệnh đến lúc chết là từ hai tới 4 năm, hầu hết là do suy hô hấp.
Xác tín Chúa quan phòng
Lúc đó cha Christensen mới đi hành hương ở Fatima trở về. Cha kể: ”Tôi coi cú điện thoại xác nhận tôi bị bệnh Lou Gherig là điều diễn ra trong sự phù hộ của Mẹ Maria, một cú điện thoại trong sự quan phòng của Chúa.”
Nhưng sự chấp nhận thực tế căn bệnh của cha đòi nhiều chiến đấu. Cha kể tiếp: ”Sau lần chẩn đoán xác nhận bệnh ấy, tôi trải qua một thời kỳ kinh hãi, kể cả tình trạng xuống tinh thần trầm trọng, tôi hết sức lo sợ. Nhưng với thời gian và cầu nguyện thật nhiều, tôi đã tìm lại được an bình về căn bệnh của tôi. Tôi biết chắc chắn rằng Thiên Chúa đã để cho điều đó xảy ra để tôi được tăng trưởng trong sự thánh thiện và là cơ hội để tôi giúp tha nhân cũng được tăng trưởng. Tôi tin Chúa muốn và đang dùng tình trạng bệnh tật của tôi để mưu sự thiện và tôi tín thác nơi Chúa”.
Nghịch cảnh như một lời mời gọi của Chúa
Cha Christensen xác tín rằng căn bệnh của Cha cũng là một lời Chúa mời gọi tôi hãy thực hành điều mà tôi rao giảng: ”Tôi thường giảng dạy về sự tín thác nơi lòng thương xót của Chúa và kế hoạch của Chúa về đời sống chúng ta. Nay là lúc tôi phải mang ra thực hành”.
Ngày 10 tháng giêng năm nay (2020), lễ Chúa Giêsu chịu phép rửa. Cha Christensen giải thích cho các giáo dân về hàng chữ bằng tiếng Hy lạp ghi ở cửa thánh đường: ”Nếu bạn chết trước khi bạn chết, thì khi bạn chết, bạn sẽ không chết”, câu này muốn nói rằng: trong bí tích rửa tội, các tín hữu Kitô được chôn táng trong nước và được sống lại để sống cuộc sống mới.
Với giọng run run vì hậu quả của bệnh Lou Gherig, cha Christensen diễn giải cho giáo dân: ”Nếu trong cuộc sống, chúng ta vác thánh giá mình và hằng ngày chết đi cho chính mình, nếu chúng ta chọn thánh ý Chúa thay vì ý riêng của chúng ta, nếu chúng ta hằng ngày chấp nhận những ”cái chết” đến với chúng ta, dù đó là sầu muộn hay bệnh tật, hoặc bao nhiêu cái chết hằng ngày xảy ra cho chúng ta, nếu chúng ta sống những điều đó như Chúa Giêsu đã sống, nếu chúng ta để Chúa chết trong chúng ta, thì chúng ta chẳng còn điều gì phải sợ. Vì khi cái chết của chúng ta đến, thì chúng ta đã chết rồi, và tất cả những gì còn lại cho chúng ta là sống vĩnh cửu”.
Sau bài giảng đó, cha Christensen chia sẻ trên Facebook rằng ”một linh mục phải luôn luôn giảng trước tiên cho chính mình, và điều đó cũng giúp tôi không sợ cái chết, vì nếu tôi đã chết với Chúa Kitô rồi, thì có gì mà tôi phải sợ nữa?
Trong Facebook, cha Christensen cũng viết rằng “Trong mọi sự, xin tuân theo ý Cha, chứ đừng theo ý con”. Và cha cũng viết: ”Tôi chấp nhận tất cả những gì Chúa định cho tôi và tôi dâng những sự ấy cho Chúa Giêsu nhờ tay Mẹ Maria, để đền bù tội lỗi tôi và tội lỗi của thế giới, để cứu vớt các tội nhân”. (LifeSite News 3-3-2020)
G. Trần Đức Anh OP
