2021
Vì sao người ta muốn chống đối sự hiệp thông với Đức Giáo Hoàng như vậy?
Vì sao người ta muốn chống đối sự hiệp thông với Đức Giáo Hoàng như vậy?
Qua hàng ngàn năm lịch sử, từ khi Hội Thánh Kitô Giáo duy nhất được Chúa Giêsu thiết lập và Chúa Thánh Thần hoạt hoá, sự hiệp nhất của Hội Thánh hết lần này đến lần khác bị bức hại và phá vỡ, khi thì do các nhóm tín hữu xa cách, khi thì do nhà cầm quyền quốc gia và nhiều lúc lại do các nhóm lạc giáo… Sự hiệp nhất ấy bị tổn thương cách cụ thể nhất là qua việc cắt đứt hiệp thông với vị lãnh đạo tối cao của Giáo Hội, Đức Giáo Hoàng.
Thiên Chúa thiết lập chức vị Giáo Hoàng
Do ý định của Thiên Chúa và hành động của Chúa Giêsu, Hội Thánh được thiết lập và đặt nền tảng tuyệt đối trên các Thánh Tông Đồ (Sách Khải Huyền chương 21 câu 14 nói rõ điều này), và đoàn Tông Đồ này được đặt dưới sự lãnh đạo chắc chắn của vị trưởng đoàn là Thánh Simôn Phêrô.
Quả thật, chính Chúa Giêsu đã ban cho riêng mình Phêrô quyền trói buộc và tháo cởi trên trời dưới đất, ban chìa khoá Nước Trời (Mt 16,18-19); đồng thời Chúa cũng trao cho Phêrô quyền chăn dắt trên các chiên con và các chiên lớn của Người (Ga 21,15-17).
Ngay từ thời Giáo Hội sơ khai, Phêrô vẫn luôn đóng vai trò là người đứng đầu và người phát ngôn của Hội Thánh. Hoạt động của Thánh nhân được làm nổi bật hơn hẳn các Tông Đồ khác trong tất cả các sách Tin Mừng và nửa đầu sách Công vụ Tông Đồ. Toàn thể Giáo Hội thời đầu đều tin rằng Phêrô là người đứng đầu Tông Đồ đoàn, đồng nghĩa là nhà lãnh đạo tối cao của Hội Thánh. Như vậy, Thánh Phêrô đã là Giáo Hoàng trước khi làm Giám Mục Rôma. Kể từ khi Phêrô thiết lập Giáo Hội tại Rôma, Ngài trở thành Giám Mục của thành này, và cũng từ đó những vị Giáo Hoàng kế vị Ngài nghiễm nhiên đảm đương cả chức vụ Giám Mục chính toà Rôma.
Giáo Hoàng là chuẩn mực đức tin
Chúa Giêsu đã đặt Phêrô làm người củng cố đức tin của mọi anh chị em mình (Lc 22,32). Các Thánh Giáo phụ đều đồng thanh dạy rằng: chỉ có Giáo Hội Rôma của Giáo Hoàng mới nắm giữ trọn vẹn đức tin Tông Truyền từ Chúa Giêsu Kitô. Để có thể thuộc về Hội Thánh Chúa Kitô thì người ta nhất thiết phải hiệp thông với vị lãnh đạo tối cao của Giáo Hội Rôma. Các ngài cũng tin rằng chức vụ và quyền bính của các Tông Đồ được truyền lại cho những người kế vị, nên khi Phêrô ra đi thì người kế vị Ngài làm Giám Mục Rôma cũng có quyền bính và uy năng như chính Phêrô vậy.
Thánh Irênê (thế kỷ 2) dạy: “Mọi Hội Thánh đều phải vâng lời Hội Thánh Rôma, vì nguồn gốc siêu nhiên của Hội Thánh ấy… Và chính trong Rôma mà mọi nơi duy trì được truyền thống Tông Đồ của mình.” Thánh Augustinô (thế kỷ 4) thì quả quyết: “Khi Rôma lên tiếng, mọi tranh chấp đều được giải quyết.”
Thế kỷ 14, trong các thị kiến của mình, Thánh Catarina Siêna đã nói: “Thiên Chúa Cha phán dạy rằng: Tất cả các con phải vâng phục vị đại diện của Chúa Kitô Con Cha mà các con gọi là Đức Thánh Cha cho đến chết. Ai tách mình ra, không vâng phục ngài, kẻ đó sẽ bị án phạt, như Cha đã nói với con… Như vậy Giáo Hoàng là Đức Kitô của Cha trên trần gian… Nhờ Giáo Hoàng mà nảy sinh phẩm trật giáo sĩ, và chính ngài chỉ định cho mỗi người một chức vụ để phân phát Máu rất quý báu (của Chúa Kitô).”
Giáo Hoàng là căn nguyên hiệp nhất và căn tính Giáo Hội
Theo giáo lý Công Giáo số 886, mỗi Giám Mục là vị lãnh đạo của một đoàn tín hữu địa phương, ngài chỉ có thẩm quyền và trách nhiệm trên Giáo Hội địa phương của ngài mà thôi. Như vậy, về nguyên tắc, Giám Mục của một giáo phận không có quyền và trách nhiệm gì trên giáo phận lân cạnh mình, dù là cùng hay khác quốc gia; các linh mục của giáo phận này cũng không thể tự nhiên thi hành thừa tác vụ ở giáo phận khác; hai giáo phận cạnh nhau hoạt động như hai Giáo Hội độc lập.
Chính do đó, để có thể tạo thành một Hội Thánh Công Giáo hiệp nhất của Chúa Kitô, các Giám Mục và tín hữu các nơi phải cùng nhau ở dưới quyền của một vị lãnh đạo chung, đó là Đức Giáo Hoàng.
Đức Giáo Hoàng là Giám Mục riêng của giáo phận Rôma, người kế vị Thánh Phêrô Tông Đồ, trưởng Giám Mục đoàn, đồng thời là nguyên lý và nền tảng hữu hình của sự hiệp nhất trong Giáo Hội, hiệp nhất giữa các Giám Mục và hiệp nhất giữa mọi tín hữu Công Giáo. Ngài có quyền bính chắc chắn, tối cao, trọn vẹn, trực tiếp và phổ quát trên toàn thể Giáo Hội.
Một Giám Mục chỉ có thể làm Giám Mục Công Giáo khi phục quyền của vị thủ lãnh hàng Giám Mục. Một tín hữu chỉ có thể làm tín hữu Công Giáo khi phục quyền của vị lãnh đạo Giáo Hội Công Giáo.
Vì thế, để có thể là thuộc Hội Thánh Công Giáo Tông Truyền, điều cốt yếu không chỉ là tuyên xưng đức tin, mà nhất thiết là phải vâng phục Đức Giáo Hoàng, Giám Mục Rôma. Ai không vâng phục vị Giáo Hoàng đương kiêm thì lập tức cắt đứt hiệp thông với Hội Thánh Công Giáo hoàn vũ, đương nhiên không còn tính Công Giáo Tông Truyền nữa, dù có tuyên xưng đức tin ra sao.
Ma quỷ hằng muốn người ta mất hiệp thông với Giáo Hoàng
Vì vai trò lớn lao của Đức Giáo Hoàng là người củng cố đức tin và hiệp nhất trong Giáo Hội, ma quỷ là kẻ thù của đức tin hằng muốn ly gián người tín hữu với vị lãnh đạo tối cao này.
Trong lịch sử, ma quỷ đã dùng hết cách này đến cách khác để khiến người ta không chịu hiệp thông với vị Giáo Hoàng và quay ra chống đối ngài. Đầu tiên là những tư tưởng tranh giành quyền lực, đòi được làm lãnh đạo ngang hàng Phêrô và không phục lời dạy của ngai toà Rôma. Đó là cuộc ly giáo Đông Tây 1054, phát sinh Chính Thống Giáo Đông Phương không hiệp thông với Giáo Hoàng, cũng như nhiều cuộc ly khai nhỏ khác vào các thời trước.
Thứ đến là các chia rẽ do nhà cầm quyền. Xưa có nhà cầm quyền Pháp, Anh muốn chia tách Giáo Hội ở quốc gia mình với Giáo Hội mẹ Rôma. Thời nay, sự chia rẽ này được thể hiện điển hình nhất ở Trung Quốc, nơi chính quyền biết rõ là chỉ cần tín hữu bất trung với Giáo Hoàng thì sẽ không giữ được căn tín Công Giáo nữa. Chính do vậy, trong kế hoạch đàn áp Công Giáo, nỗ lực hàng đầu của họ là cắt đứt mối dây hiệp thông với Đức Giáo Hoàng Rôma.
Sau cùng là các chia rẽ mang màu sắc thiêng liêng, đó là các dị giáo và lạc giáo. Trong quá khứ Giáo Hội đã xuất hiện rất nhiều người tự xưng mình được mặc khải của Thiên Chúa, tuyên bố vị Giáo Hoàng đương kiêm là giả, là nguỵ, là xấu xa,… chẳng hạn như các tiên tri giả Clemente Dominguez y Gomez, William Kamm, John Canada… Còn hiện tại thì điển hình nhất là nhóm “Sứ điệp từ trời” – phát xuất từ dị giáo The Warning Second Coming của thị nhân tự xưng Maria Divine Mercy, Iceland. Nhóm này không ngừng chủ trương vị Giáo Hoàng cuối cùng là Đức Bênêđictô XVI, và Đức Thánh Cha Phanxicô đương kiêm là tiên tri giả. Họ giải thích sai lạc các lời tiên tri của sách Khải Huyền và tiên báo những điều không hề xảy ra. Đây là mánh lới gian ngoa cuối cùng của ma quỷ, dùng sự đạo đức vỏ bọc để tách các tín hữu khỏi mối hiệp thông với Đức Giáo Hoàng, do đó trở thành ly giáo và mất ân sủng từ các bí tích.
Người tín hữu phải duy trì lòng trung thành với Đức Giáo Hoàng trong mọi hoàn cảnh
Công Đồng Vaticanô I dạy rằng: “Ai nói rằng không phải bởi hành động thiết lập của chính Chúa Kitô mà Phêrô có được người kế vị không ngừng trong thẩm quyền tối cao với toàn thế Giáo Hội, hay nói rằng vị Giáo Hoàng Rôma không phải là người kế vị Phêrô trong thẩm quyền tối cao ấy, thì: kẻ đó bị chúc dữ.”
Các Thánh Giáo Phụ, các Thánh và các thầy dạy khác trong Hội Thánh không ngừng khẳng định và khuyên nhủ mọi tín hữu phải vâng phục và trung thành với Đức Giáo Hoàng Rôma. Không phải vì ngài giỏi giang hay hay ho trổi vượt mà ta phải vâng phục ngài, nhưng vì ngài nắm giữ quyền bính mà Thiên Chúa trao phó nên ta phải làm điều ấy. Chẳng ai có đủ sức và thẩm quyền để nói một Giáo Hoàng là xứng đáng hay không với ngai toà của mình, vì Giáo Hoàng được Hồng Y đoàn bầu lên, và có Chúa Thánh Thần soi sáng cho hành động ấy; xứng hay không xứng chỉ có thể là do Thiên Chúa kết luận.
Chính Thánh Catarina Siêna đã mạnh mẽ nói rằng: “Cho dẫu vị Giáo Hoàng là ma quỷ đầu thai đi nữa, chúng ta cũng không được đương đầu chống lại ngài, ngược lại phải ngả vào lòng ngài. Ai chống lại Đức Thánh Cha là mang vào mình án phạt huỷ diệt, bởi chống lại ngài là chống lại Chúa Kitô… Chúng ta phải vâng lời và tùng phục ngài, không phải vì chính bản thân ngài, mà là vì Thiên Chúa, vì đức vâng lời với Thiên Chúa.” (“Sách Vâng Phục” của Thánh Catarina Siêna).
Gioakim Nguyễn
2021
Nhận ra Chúa trong nhân tính của Chúa Giêsu và của anh chị em
Kinh Truyền Tin 22/08: Nhận ra Chúa trong nhân tính của Chúa Giêsu và của anh chị em
Lúc 12 giờ trưa Chúa Nhật 22/8, ĐTC đã xuất hiện tại cửa sổ Dinh Tông Toà để cùng đọc Kinh Truyền Tin với các tín hữu hiện diện tại quảng trường thánh Phêrô. Dù trời Roma đang rất nóng nhưng khá đông tín hữu đã đến quảng trường để cùng đọc Kinh Truyền Tin với Đức Thánh Cha. Như thường lệ, Đức Thánh Cha có một bài huấn dụ ngắn dành cho các tín hữu dựa trên đoạn Tin Mừng Chúa Nhật.
Bài huấn dụ của Đức Thánh Cha trước khi đọc Kinh Truyền Tin
Anh chị em thân mến, chào anh chị em!
Bài Tin Mừng của Phụng vụ hôm nay (Ga 6,60-69) cho chúng ta thấy phản ứng của đám đông và của các môn đệ trước những lời của Chúa Giêsu sau phép lạ hóa bánh ra nhiều. Chúa Giê-su mời gọi chúng ta hiểu dấu chỉ đó và tin vào Người, Đấng là bánh thật từ trời xuống, bánh ban sự sống; và bày tỏ rằng bánh Người sẽ ban là chính thịt và máu của Người. Những lời này thật chói tai, không thể hiểu được đối với người nghe, đến nỗi, ngay từ lúc đó – theo lời Tin Mừng – nhiều môn đệ của Người đã quay lưng, tức là họ không theo Thầy nữa (c. 60.66). Rồi Chúa Giêsu hỏi Nhóm Mười Hai: “Anh em cũng muốn bỏ đi hay sao?” (câu 67), và Phêrô, thay mặt cho cả nhóm, xác nhận quyết định ở lại với Người và nói rằng: “Lạy Thầy, bỏ Thầy thì chúng con biết đến với ai? Thầy mới có những lời đem lại sự sống đời đời. Phần chúng con, chúng con đã tin và nhận biết rằng chính Thầy là Đấng Thánh của Thiên Chúa” (Ga 6,68-69). Và đó là một lời tuyên xưng đức tin thật đẹp.
Chúng ta hãy dừng lại đôi chút về thái độ của những người rút lui và quyết định không theo Chúa Giê-su nữa. Lý do của sự từ chối này là gì?
Những lời của Chúa Giêsu tạo ra một cú sốc lớn: Người đang nói rằng Thiên Chúa đã chọn tỏ mình ra và thực hiện ơn cứu độ nơi sự yếu đuối của xác thịt con người: đó là mầu nhiệm Nhập thể. Và sự nhập thể của Thiên Chúa là điều gây sốc và đặt ra một chướng ngại cho người ta, và cũng thường cho cả chúng ta. Thật vậy, Chúa Giêsu khẳng định rằng bánh thật của ơn cứu độ, thông truyền sự sống đời đời, là chính thịt Người; rằng để hiệp thông với Thiên Chúa, trước khi tuân giữ những luật lệ hoặc chu toàn các giới luật tôn giáo, thì cần phải sống một mối tương quan thực sự và cụ thể với Người, vì ơn cứu độ đã đến từ Người, trong sự Nhập thể của Người. Điều này có nghĩa là chúng ta không cần theo đuổi Thiên Chúa trong những giấc mơ và những hình ảnh vĩ đại và quyền năng, nhưng chúng ta phải nhận ra Người trong nhân tính của Chúa Giêsu và do đó, trong nhân tính của những anh chị em mà chúng ta gặp trên mọi lối nẻo cuộc sống. Thiên Chúa đã trở thành xác phàm, và khi chúng ta tuyên xưng điều này trong Kinh Tin Kính, vào Lễ Giáng Sinh, Lễ Truyền Tin, chúng ta quỳ gối để tôn thờ mầu nhiệm Nhập Thể này. Thiên Chúa đã trở thành xác phàm, Người trở nên thịt và máu: Người hạ mình xuống để trở thành một con người như chúng ta, Người hạ mình xuống đến mức tự gánh lấy những đau khổ và tội lỗi của chúng ta, và do đó mời gọi chúng ta tìm kiếm Người không phải bên ngoài cuộc sống và từ lịch sử, nhưng trong mối tương quan với Đức Kitô và với anh chị em mình. Hãy tìm kiếm Người trong cuộc sống, trong lịch sử, trong cuộc sống hàng ngày của chúng ta. Và thưa anh chị em, đây là cách để gặp gỡ Thiên Chúa: mối tương quan với Chúa Kitô và với anh chị em.
photo: Vatican Media/CNA / EWTN
Ngay cả ngày nay, sự mặc khải của Thiên Chúa trong nhân tính của Chúa Giê-su có thể gây chướng tai và không dễ để chấp nhận. Đó là điều mà thánh Phao-lô gọi là “sự điên rồ”, sự điên rồ của Tin Mừng đối với những kẻ tìm kiếm phép lạ hay sự khôn ngoan của thế gian (x. 1Cr 1,18-25). Và “sự chướng tai” này được thể hiện rõ ràng qua bí tích Thánh Thể: trong mắt người đời, việc quỳ gối trước một tấm bánh có thể có ý nghĩa gì? Tại sao chúng ta cần được liên tục nuôi dưỡng bởi tấm bánh này? Thế giới thấy điều này thật chướng.
Trước cử chỉ phi thường của Chúa Giê-su khi cho hàng ngàn người ăn với năm chiếc bánh và hai con cá, mọi người tung hô Người và muốn đưa Người lên đài chiến thắng để tôn Người làm vua. Nhưng khi chính Người giải thích rằng cử chỉ đó là dấu chỉ của sự hy sinh của Người, nghĩa là ban tặng sự sống, thịt và máu Người, và rằng ai muốn theo Người phải trở nên giống như Người, nhân tính của Người được dâng hiến cho Thiên Chúa và cho người khác, thì khi đó, họ không thích nữa, và Chúa Giêsu này khiến chúng ta rơi vào khủng hoảng. Thật vậy, chúng ta hãy lo lắng nếu điều này không khiến chúng ta khủng hoảng, bởi vì có lẽ chúng ta đã giảm nhẹ thông điệp của nó! Và chúng ta xin ơn để mình được hứng khởi và hoán cải bởi “những lời ban sự sống đời đời” của Người.
Và xin Mẹ Maria Rất Thánh, Đấng đã cưu mang nơi mình Chúa Giêsu Hài Đồng và hiệp nhất với hy tế của Người, giúp chúng ta luôn làm chứng cho đức tin của mình bằng đời sống cụ thể.
Văn Yên, SJ
2021
Sáu bức ảnh ý nghĩa nhất trong triều đại Giáo hoàng của ĐTC Phanxicô
Nhân Ngày Nhiếp ảnh Thế giới, 19/8, tạp chí “Vida Nueva” của Tây Ban Nha đã điểm lại một số bức ảnh quan trọng trong triều đại Giáo hoàng của Đức Thánh Cha Phanxicô, tính cho đến nay.
1) Từ tận cùng thế giới
Từ tận cùng thế giới
Bức ảnh thứ nhất có tên gọi “Từ tận cùng thế giới”, được thực hiện trong ngày 13/3/2013. Sau khi Đức Giáo hoàng Biển Đức XVI từ nhiệm, đó là ngày thứ hai của mật nghị hồng y, vị Giáo hoàng thứ 266 được bầu chọn. Tân Giáo hoàng là vị Giáo hoàng người châu Mỹ, và tu sĩ Dòng Tên đầu tiên ở ngai tòa thánh Phêrô, và kể từ năm 741, là vị Giáo hoàng đầu tiên không phải là người châu Âu. Xuất hiện lần đầu tiên tại quảng trường thánh Phêrô, vị tân Giáo hoàng đã nói đùa: “Dường như các anh em hồng y của tôi đã đi đến tận cùng thế giới để tìm chọn Giáo hoàng” .
2) Đức Giáo hoàng của vùng ngoại vi
Đức Giáo hoàng của vùng ngoại vi
Bức ảnh thứ hai được đặt tên là “Đức Giáo hoàng của vùng ngoại vi”, được thực hiện trong ngày 08/7/2013. Một trong những dấu ấn trong triều đại Giáo hoàng của Đức Thánh Cha Phanxicô là những nơi ngài đến viếng thăm. Ngay từ đầu, ngài đã được mô tả là vị giáo hoàng của vùng ngoại vi, điều này thể hiện trong chuyến viếng thăm đến đảo Lampedusa. Trong bài giảng Thánh lễ tại đây, đề cập đến những người di cư đến từ Địa Trung hải, ngài đã đưa ra câu hỏi: “Ai đã khóc cho cái chết của những anh chị em này? Ai đã khóc cho những người đã ở trên thuyền? Cho những bà mẹ trẻ mang con nhỏ của họ? Cho những người cần một cái gì đó để chu cấp cho gia đình họ?”.
3) Lòng thương xót hằng sống
Lòng thương xót hằng sống
Bức ảnh đẹp thứ ba được chọn là trong dịp mở cửa Năm Thánh Lòng Thương Xót, ngày 29/11/2015, tại Bangui, Cộng hòa Trung Phi.
Nếu muốn nói đến sứ điệp trong triều đại Giáo hoàng của Đức Thánh Cha Phanxicô, người ta nói đến lòng thương xót. Nhiều sáng kiến đã nảy sinh trong Năm Thánh Lòng Thương Xót, và mở cửa Năm Thánh tại Cộng hòa Trung Phi trước Vatican là một trong những sáng kiến này. Trong dịp đó, Đức Thánh Cha nhấn mạnh: “Hôm nay, Bangui trở thành thủ đô tinh thần của thế giới. Năm Thánh Lòng Thương Xót đã bắt đầu sớm tại mảnh đất mà suốt nhiều năm qua đã phải chịu đau khổ do chiến tranh, hận thù, hiểu lầm và thiếu vắng hòa bình. Mảnh đất đau khổ này là phản ảnh của mọi quốc gia trên khắp thế giới đã từng nghiệm thấy thập giá của chiến tranh”.
4) Thanh tẩy Giáo hội
Thanh tẩy Giáo hội
Bức ảnh tiếp theo được bình chọn là bức ảnh ý nghĩa, được thực hiện vào ngày 21/02/2019, ngày Đức Thánh Cha gặp gỡ các chủ tịch Hội đồng Giám mục để thảo luận về lạm dụng tính dục trong Giáo hội . Một trong những cải tổ mà Đức Thánh Cha muốn thực hiện là vấn đề liên quan đến lạm dụng tính dục trong Giáo hội. Ngài đã thực hiện điều này tại cuộc Gặp gỡ các Gia đình Công giáo thế giới ở Dublin, qua việc xin các nạn nhân tha thứ; đã gửi thư đến toàn thể dân Chúa và tiếp các nạn nhân ở nhà trọ thánh Marta. Và vào năm 2019, ngài đã triệu tập các chủ tịch các Hội đồng Giám mục để bàn về vấn đề này.
5) Bệnh viện dã chiến
Bệnh viện dã chiến
Bức ảnh thứ Năm là bức ảnh được thực hiện vào ngày 06/10/2019, ngày khai mạc Thượng Hội đồng Giám mục về Amazon trong vườn Vatican. Trong dịp này, Đức Thánh Cha đã cho thấy loan báo Tin Mừng luôn là sứ vụ của Giáo hội. Trong nghĩa này, ngài yêu cầu Giáo hội phải như là “một bệnh viện dã chiến”. Hơn thế nữa, trong tông huấn “Evangelii gaudium-Niềm vui Tin Mừng”, Đức Thánh Cha chỉ cho thấy những con đường loan báo Tin Mừng mới này, đó là những con đường vượt ra ngoài phòng thánh như được thể hiện trong thông điệp Laudato si’, và mối quan tâm của ngài đối với hệ sinh thái toàn diện trong các Thượng Hội đồng về gia đình, giới trẻ hoặc Amazon.
6) Một mình trước quảng trường trống
Một mình trước quảng trường trống
Bức ảnh thứ Sáu được chọn là một trong những bức tuyệt vời nhất trong triều đại Giáo hoàng của Đức Thánh Cha về sự kiện diễn ra trong ngày 27/3/2020. Vào một buổi chiều tối trời mưa, tại quảng trường thánh Phêrô, Đức Thánh Cha đã chủ sự một cử hành phụng vụ đặc biệt để cầu xin đại dịch chấm dứt, đồng thời ban phép lành đặc biệt ‘Urbi et orbi’ (cho thành Roma và toàn thế giới). Đức Thánh Cha đã cầu nguyện: “Những bóng đen dày đặc bao phủ các quảng trường, các đường phố và thành thị của chúng ta; chúng chiếm hữu cuộc sống chúng ta, lấp đầy mọi sự bằng một sự im lặng gây choáng váng và một sự trống rỗng thê lương, làm tê liệt mọi sự khi nó đi qua”. (Catt.ch. 20/8/2021)
Nguồn: vaticannews.va/vi/
2021
Năm chị em gia nhập cùng một dòng tu trong hai năm
Lớn lên trong cùng một gia đình gồm bảy người con, mỗi người theo đuổi cuộc sống của mình và gặp lại nhau ở đan viện. Đó là câu chuyện của Jordán, Francesca, Amada, Ruth María và Nazareth, năm chị em người Tây Ban Nha đã chọn đời sống tu trì trong cùng một cộng đoàn.
Jordán là người đầu tiên gia nhập đan viện Iesu communio vào năm 2007. Năm tiếp theo là hai chị em Francesca và Amada de Jesús. Hai tháng sau đến lượt chị cả Ruth María. Nazareth là người sau cùng chọn gia nhập cộng đoàn tu trì này sau tháng sau đó.
Gợi lên hoàn cảnh đặc biệt này, sơ Amada thổ lộ: «Chúng tôi không biết rằng Chúa Thánh Thần đã khơi dậy cơn khát này nơi mỗi người chúng tôi. Thiên Chúa có kế hoạch của Ngài và Ngài biết địa điểm và thời điểm thích hợp cho mỗi người». Vì thế, không có bàn luận giữa các chị em về bậc sống trong đó thực hiện ơn gọi duy nhất về tình yêu. Dần dần họ đã khám phá mình được lôi cuốn bởi đời sống thánh hiên và cùng một cộng đoàn.
Jordán gia nhập dòng tu vào năm 23 tuổi. Sức khỏe mong manh của người em trai của Sơ mà Sơ thường đồng hành ở bệnh viện, đã ghi dấu Sơ cách sâu sắc. «Giữa nỗi đau khổ này tôi đã tự hỏi «Thiên Chúa ở đâu?» Tôi có một nỗi buồn sâu xa mà tôi không thể diễn tả được. Bên ngoài tôi có vẻ tràn đầy niềm vui nhưng trong bản thân tôi, tâm hồn tôi như đã chết rồi. Và tôi nghĩ rằng cái chết này, nỗi đau đớn này, đã biểu lộ ước muốn được Chúa yêu thương của tôi».
Với hành trình riêng và lịch sử duy nhất của họ, mỗi Sơ làm chứng về niềm hy vọng mà tiếng gọi của Chúa Kitô đã mở ra. Sơ Amada de Jesús giải thích: «Sự dâng hiến cho Chúa là một món quà bất khả sánh. Sau 13 năm sống đời chiêm niệm, trước tiên tôi vẫn ở đây vì tình yêu đối với Ngài và tôi cảm thấy tình yêu tràn đầy mà Ngài yêu thương tôi này, cách nhưng không».
Tý Linh, theo fr.aleteia.org (20.8.2021)
