2021
Giai đoạn áp chót trong án phong Đức Giáo hoàng Gioan Phaolô I
Giai đoạn áp chót trong án phong Đức Giáo hoàng Gioan Phaolô I
Án phong chân phước cho Đức Giáo hoàng Gioan Phaolô I đang tiến vào giai đoạn áp chót.
Theo báo Công giáo Avvenire, Tương Lai, vào tháng Mười tới đây, Hội đồng Hồng y và giám mục thành viên Bộ Phong thánh sẽ nhóm họp để cứu xét một cuộc khỏi bệnh lạ lùng, xem đó có phải là phép lạ nhờ lời chuyển cầu của vị Tôi tớ Chúa Gioan Phaolô I hay không, và nếu được thông qua, thì sẽ đệ lên Đức Thánh cha để ngài phê chuẩn.
Trước đó, ngày 31/10/2019, hội đồng giám định y khoa của Bộ Phong thánh đã họp để cứu xét vụ một em bé gái ở Buenos Aires, Argentina, bị bệnh não trầm trọng, đã được khỏi bệnh lạ lùng hồi năm 2011 nhờ thân nhân và tín hữu cầu nguyện, xin Đức Giáo hoàng Gioan Phaolô I cứu chữa. Các bác sĩ của Bộ đã đồng thanh đi tới kết luận cuộc khỏi bệnh này không thể giải thích được về phương diện khoa học. Tiếp đến, ngày 6 tháng Năm năm nay (2021), Ủy ban thần học của Bộ Phong thánh đã cứu xét và đưa ra phán quyết tích cực.
Sau khi Đức Thánh cha cho phép công bố sắc lệnh nhìn nhận phép lạ của Đức Cố Giáo hoàng, thì có thể ấn định ngày cử hành lễ phong chân phước.
Đức Giáo hoàng Gioan Phaolô I, tục danh là Albino Luciani, quen gọi là vị Giáo hoàng 33 ngày. Ngài sinh ngày 17/10/1912 và được bổ nhiệm làm Giám mục giáo phận Vittorio Veneto, đông bắc nước Ý, năm 1958. 11 năm sau đó, 1969, ngài thăng Thượng phụ thành Venezia và được bổ làm Hồng y năm 1973. Sau khi Đức Phaolô VI qua đời, ngài được bầu làm Giáo hoàng, ngày 26/8/1978, nhưng 33 ngày sau đó, 28/9, ngài qua đời đột ngột trong đêm vì bệnh tim.
Án phong chân phước cho Đức Gioan Phaolô I được khởi sự 25 năm sau đó, hồi tháng Mười Một năm 2003, tại giáo phận Belluno, quê hương của ngài. 167 chứng nhân đã được lấy chứng từ, trong đó có cả Đức Giáo hoàng Biển Đức XVI. Công cuộc điều tra tiến hành trong ba năm, qua 203 phiên họp và kết thúc ngày 10/11 năm 2006, và toàn bộ hồ sơ được gửi về Bộ Phong thánh. Sau 8 năm làm việc, các chuyên gia đã hoàn thành hồ sơ đúc kết, gọi là “Positio” gồm 5 cuốn, tổng cộng hơn 3.600 trang, về cuộc đời và việc thực hành các nhân đức Kitô do Đức Cố Giáo hoàng tới mức độ anh hùng. Ngày 3/11/2017, Đức Thánh cha Phanxicô cho công bố sắc lệnh nhìn nhận các nhân đức anh hùng của vị Tôi tớ Chúa Gioan Phaolô I.
(Avvenire 25-8-2021)
Trần Đức Anh, O.P.
2021
Trong bối cảnh dịch bệnh, các gia đình trở thành Hội Thánh tại gia
Trong bối cảnh dịch bệnh, các gia đình trở thành Hội Thánh tại gia
GIÁO PHẬN LONG XUYÊN
THƯ MỤC VỤ THÁNG 9/2021
TRONG BỐI CẢNH DỊCH BỆNH, CÁC GIA ĐÌNH TRỞ THÀNH HỘI THÁNH TẠI GIA
Anh chị em thân quý!
Tình hình Covid 19 đã, đang, và còn tiếp tục làm thay đổi hầu hết mọi lãnh vực của cuộc sống con người, cá nhân cũng như tập thể. Cuộc sống của các gia đình công giáo trong Giáo Phận cũng đang đón nhận nhiều ảnh hưởng và đổi thay. Với đức tin, đức cậy và đức mến, những ảnh hưởng và đổi thay có thể là cơ hội để canh tân gia đình trở thành một Hội Thánh tại gia. Chính vì thế, chủ đề của Thư mục vụ tháng 9 là: Trong bối cảnh dịch bệnh, các gia đình trở thành Hội Thánh tại gia.
Trước hết, chúng ta dùng những tường thuật trong Tin Mừng về một cộng đoàn, cộng đoàn gia đình ở Betania, làm chất liệu cho chúng ta suy tư với chủ đề của Thư mục vụ.
Cộng đoàn Bêtania gồm 3 chị em, Matta, Maria, và Lazarô. Theo tin mừng Luca (Lc 10, 38-42), cộng đoàn này đã từng tiếp đón Chúa và các Tông Đồ vào nhà mình; chứng tỏ là 3 chị em sống đầy đủ về vật chất, về tình thương, và lòng hiếu khách. Đây là một cộng đoàn gia đình, sống an vui và hạnh phúc, được Thiên Chúa chúc phúc, được nhiều người quý mến, và đặc biệt là được Chúa Giêsu và các Tông Đồ dành cho nhiều ưu ái bằng những cuộc ghé thăm.
Nhưng một sự cố xảy ra cho gia đình này; Lazaro đau bệnh và, bi thảm hơn, Lazarô chết. Trong tình hình bi thảm này, theo tin mừng Gioan (11, 1-45), hai chị em báo tin cho Chúa Giêsu: “Thưa Thầy, người Thầy thương mến đang đau nặng” (c.3). Họ chỉ báo tin mà không yêu cầu. Họ để Chúa chủ động quyết định. Nhưng họ biết Chúa yêu họ, nên họ tin rằng mọi quyết định của Chúa đều tốt hơn cả lòng họ dám mong ước. Hơn cả lòng họ dám mong ước khi Chúa Giêsu đã sử dụng tình trạng bi thảm của họ cho một mục đích siêu việt: “Bệnh này không đến nỗi chết đâu, nhưng là dịp để bày tỏ vinh quang của Thiên Chúa: qua cơn bệnh này, Con Thiên Chúa được tôn vinh.” (c.4).
Quả thật, trong tình trạng bi thảm của cộng đoàn, Chúa Giêsu đã đến và hiện diện không chỉ như người thân của gia đình, mà còn là Emmanuel –Thiên Chúa ở cùng chúng ta. Ngài hiện diện để chia sẻ thân phận con người phải đau khổ và phải chết. Chính trong bầu khí khóc than trước cái chết, mà Ngài tỏ lộ thần tính của Ngài: “Ta là sự sống lại và là sự sống. Ai tin ta, dù có chết cũng sẽ được sống, và hễ ai sống mà tin ta sẽ không chết bao giờ”. Rồi sau khi cầu nguyện với Thiên Chúa Cha (c. 41-42), Chúa Giêsu đã truyền lệnh: “Lazaro, hãy ra khỏi mồ” (c.43) và Lazaro sống lại. Hơn cả phép lạ kẻ chết sống lại, cái chết và sự sống lại của Lazaro là tiên báo cho mầu nhiệm khổ nạn và phục sinh của chính Chúa Giêsu.
Hơn cả lòng họ dám mong ước, vì chính cộng đoàn này được mời gọi tham dự vào mầu nhiệm Vượt Qua của Chúa Giêsu. Thật vậy, Matta, Maria và Lazarô tham dự vào mầu nhiệm vượt qua của Chúa Giêsu trong bữa tiệc tại nhà ở Betania, và trong bữa tiệc này việc xức dầu thơm cho Chúa được Chúa coi là lời tiên báo cuộc an táng của Chúa (Ga 12, 1-11). Sau khi Chúa Giêsu phục sinh, Maria đã là người đầu tiên gặp Chúa Giêsu Phục Sinh và là người được sai đi loan báo Tin Mừng Phục Sinh cho các Tông Đồ (Ga 20, 11-18).
Trong bi thảm, gia đình Betania đã trở thành Hội Thánh tại gia, một cộng đoàn đang thực hiện cuộc hành trình đức tin để bày tỏ vinh quang của Thiên Chúa” và để “Con Thiên Chúa được tôn vinh”.
Anh chị em thân mến!
Cùng chung hoàn cảnh trong dịch bệnh đang hoành hành trên thế giới, trong đó có Việt Nam, các gia đình công giáo của giáo phận Long Xuyên cũng đang phải đối diện với nhiều hệ quả tiêu cực, trong hiện tại và tương lai với những diễn biến khó lường. Đó là những hệ quả tiêu cực trực tiếp ảnh hưởng đến đời sống gia đình, như hoảng sợ về sự an toàn của gia đình, lo lắng về sự suy thoái kinh tế và sự khó khăn trong công ăn việc làm, hoang mang lo cho tương lai của thế hệ con cháu… Cũng có những hệ quả tiêu cực cho xã hội ảnh hưởng đến sinh hoạt gia đình, như sự nghèo đói cùng với những tệ nạn xã hội gia tăng, những giá trị đạo đức truyền thống và văn hóa bị suy thoái, lòng tin tưởng giữa con người với con người bị nghi ngờ, vô tâm phòng thân trước nỗi khổ của tha nhân… Đó cũng còn là những hệ quả tiêu cực trong đời sống đức tin, đặc biệt là đối với thế hệ trẻ, như thờ ơ với các sinh hoạt tôn giáo, khủng hoảng đức tin vào Thiên Chúa và giáo hội, thậm chí mất đức tin và xa rời giáo hội.
Trong tình hình cụ thể, với những suy tư về cộng đoàn gia đình Betania, Thư mục vụ đề ra đường hướng tu đức và mục vụ cho gia đình với 4 điểm chính để gia đình trở thành một hội thánh tại gia:
Hội thánh tại gia là gia đình ta trở thành một cộng đoàn yêu thương và hiệp nhất. Gia đình là một cộng đoàn hiệp nhất nhờ tình yêu gia đình được thánh hóa bởi bí tích Hôn Phối. Trong hoàn cảnh cách ly xã hội vì dịch bệnh, gia đình gồm ông bà, cha mẹ, vợ chồng, anh chị em, con cháu, có cơ hội quy tụ sống và sinh hoạt với nhau. Đây là cơ hội mọi thành viên trong gia đình quan tâm đến nhau, dành thời gian cho nhau. Đây cũng là cơ hội thuận lợi để bậc phụ huynh như ông bà, cha mẹ, dạy và làm gương cho con cái về sự quan tâm và phục vụ. Theo ý hướng này, bữa cơm gia đình là cơ hội hữu hiệu để ta bày tỏ yêu thương, phục vụ, và hy vọng.
Hội thánh tại gia là gia đình ta trở thành một cộng đoàn đức tin. Trong bầu không khí ấm cúng thương yêu, ông bà, cha mẹ và con cái ý thức Chúa Kitô Phục Sinh đang hiện diện và đồng hành với mọi thành viên trong gia đình. Trong tình hình cách ly xã hội vì dịch bệnh, các thành viên trong gia đình có điều kiện dành thời gian để cùng nhau lắng nghe Lời Chúa, và khuyên nhủ thúc giục nhau sống theo lương tâm ngay lành, sống theo luật Chúa và giáo hội. Theo ý hướng này, việc học giáo lý trong gia đình là sinh hoạt hữu hiệu để đào sâu đức tin và khích lệ nhau sống đức tin. Trong trường hợp này, chính phụ huynh là các giáo lý viên, thông truyền đức tin, chia sẻ kinh nghiệm sống đức tin, và khuyến khích nhau thực hành đức tin.
Hội thánh tại gia là gia đình ta trở thành cộng đoàn cầu nguyện. Tin vào lời Chúa hứa: “Nếu trong các ngươi, hai người dưới đất đồng thanh xin bất cứ việc gì thì Cha ta, Đấng ngự trên trời sẽ ban cho. Vì ở đâu có hai ba người hợp lại nhân danh Ta thì có Ta ở giữa họ” (Mt 18, 19-20). Trong tình hình dịch bệnh, không còn những cử hành phượng tự tập trung tại nhà thờ, thì chính gia đình chúng ta trở thành đền thờ để cho mọi thành viên gặp Chúa và cầu nguyện với Chúa, gặp nhau để cầu nguyện với nhau và cho nhau. Như vậy, thật là ích lợi khi gia đình cùng tham dự Thánh Lễ trực tuyến và cùng tham dự Giờ Kinh gia đình. Đây cũng là cơ hội để gia đình cầu nguyện cho thế giới, cho Việt Nam, cho giáo phận sớm thoát tình trạng dịch bệnh.
Hội thánh tại gia là gia đình ta trở thành một cộng đoàn tông đồ được Chúa sai đi. Với ơn sủng của bí tích Rửa Tội và Thêm Sức, gia đình Công Giáo có bổn phận làm tông đồ theo lệnh Chúa truyền: “Anh em hãy đi khắp tứ phương thiên hạ, loan báo Tin Mừng cho mọi loài thọ tạo” (Mc 16, 15). Trong hoàn cảnh dịch bệnh, việc thực thi bác ái là phương cách tốt nhất và hữu hiệu để gia đình ta thi hành sứ vụ loan báo Tin Mừng. Với lòng bác ái Kitô giáo, gia đình ta có thể góp phần với cộng đoàn giáo xứ, giáo hạt, và giáo phận để hỗ trợ tài chánh và thực phẩm cho những nạn nhân của dịch bệnh, tại địa phương hay tại những nơi khác. Với ý thức cần chung tay với toàn xã hội phòng chống dịch bệnh, gia đình ta khích lệ nhau nghiêm chỉnh thực thi những quy định phòng chống dịch bệnh. Những việc làm cụ thể trên, kết hợp với lời cầu nguyện và hy sinh, thì đây là những công việc thi hành sứ vụ loan báo Tin Mừng cụ thể và hữu hiệu trong hoàn cảnh dịch bệnh.
Ước mong được như vậy!
Anh chị em thân quý!
Các Giám mục và các Linh mục của gia đình Giáo Phận phó thác gia đình anh chị em cho Thiên Chúa Tình Yêu. Xin Thiên Chúa, qua lời bầu cử của Mẹ Maria và Thánh Giuse cùng với các thánh Tử Đạo Việt Nam, chúc lành cho gia đình anh chị em.
+ Giuse Trần Văn Toản
Giám Mục Giáo Phận Long Xuyên
2021
ĐTC phê chuẩn các quy định mới liên quan đến Kinh sĩ đoàn đền thờ thánh Phêrô
Ngày 28/8/2021 Đức Thánh Cha đã phê chuẩn Những Quy định Chuyển tiếp cho Kinh sĩ đoàn đền thờ thánh Phêrô. Các quy luật mới nhấn mạnh sứ vụ Phụng vụ và Mục vụ của các Kinh sĩ của đền thờ, được thực hiện chủ yếu vào các ngày Chúa Nhật và các ngày lễ Trọng. Các quy định sẽ bắt đầu có hiệu lực từ ngày 1/10/2021.
Kinh sĩ đoàn đền thờ thánh Phêrô
Kinh sĩ đoàn đền thờ thánh Phêrô là một tổ chức đã có lịch sử cả ngàn năm, bao gồm một tập thể các linh mục được Đức Thánh Cha chỉ định làm các Kinh sĩ, và cũng có một số người cộng tác. Kinh sĩ đoàn được Đức Lêô IX thành lập như một tổ chức vào năm 1053, nhưng đã hiện diện trước đó hàng thế kỷ, có sứ vụ cử hành Phụng vụ như các đan sĩ tại các đan viện. Đến thời Đức Piô IV, tổ chức này dần dần trở thành một cộng đoàn độc lập, chuyển từ cơ cấu đan viện sang cơ cấu Kinh sĩ.
Ngay từ ban đầu, các hoạt động của Kinh sĩ đoàn bao gồm nhiều lĩnh vực khác nhau: từ Phụng vụ đến quản lý hành chính đối với tài sản của đền thờ và các nhà thờ phụ của nó; từ hoạt động Mục vụ, với sự chăm sóc của khu vực Borgo, đến công việc từ thiện, với các dịch vụ phúc lợi khác nhau. Từ thế kỷ XVI, khi việc xây dựng đền thờ mới bắt đầu, lịch sử của Kinh sĩ đoàn được gắn liền với lịch sử của Cơ quan đặc trách đền thờ thánh Phêrô.
Quá trình cải cách
Hiện nay Kinh sĩ đoàn đền thờ thánh Phêrô đang trong quá trình cải cách. Mục đích của Những Quy luật Chuyển tiếp là để hỗ trợ việc bắt đầu cải cách, khi Quy chế của nó hiện đang được sửa đổi. Các quy định mới đề cập đến việc các Kinh sĩ, cũng như những người cộng tác, không được nhận lương bổng cho sứ vụ này khi đã nhận lương tại một cơ quan khác của Giáo triều Roma và trong các cơ quan khác có liên hệ với Tòa Thánh.
Các quy định mới cũng đề cập đến một số việc điều hành và quản lý các hoạt động kinh tế trước đây thuộc Kinh sĩ đoàn, cũng như việc trả lương cho các Kinh sĩ, nay được chuyển sang cho Cơ quan đặc trách đền thờ thánh Phêrô.
Sứ vụ cầu nguyện
Tháng 10/2007, Đức Biển Đức đã nhắn nhủ Kinh sĩ đoàn đền thờ thánh Phêrô rằng hoạt động của tổ chức này trong đền thờ là khám phá lại chức năng nguyên thủy của nó, trên hết là sứ vụ cầu nguyện. Ngài nhấn mạnh, đây chính là bản chất và sự đóng góp mà Đức Giáo hoàng mong đợi nơi họ.
Nguồn: vaticannews.va/vi/
2021
Dòng tu Công Giáo duy nhất có khả năng thiết lập quan hệ ngoại giao với các quốc gia
Dòng tu Công Giáo duy nhất có khả năng thiết lập quan hệ ngoại giao với các quốc gia
Giáo Hội Công Giáo có rất nhiều dòng tu, trong đó có một dòng tu đặc biệt có tư cách chủ quyền tương đương quốc gia, là quan sát viên tại Liên Hiệp Quốc và khả năng quan hệ ngoại giao với chính phủ các nước trên thế giới, đó là Dòng Hiệp Sĩ Toàn Quyền Malta (hay Dòng Chiến Sĩ Toàn Quyền Malta – Sovereign Military Order of Malta).
Dòng này có tên đầy đủ là Dòng Hiệp Sĩ Toàn Quyền Cứu Tế Thánh Gioan Giêrusalem, Rhodes và Malta, hay cũng được biết với các tên gọi Dòng Malta, Hội Hiệp Sĩ Malta. Đây là một dòng giáo dân Công Giáo, có truyền thống quân đội, hiệp sĩ và quý tộc.
Không nên nhầm lẫn Dòng Malta với nhà nước Cộng Hoà Malta là nhà nước đang quản lý quần đảo Malta ở Nam Âu.
Lịch sử sơ lược
Dòng được hình thành từ năm 1048, khi các thương gia từ quốc gia Amalfi giành được từ tay vua Ai Cập quyền xây dựng nhà thờ, tu viện, bệnh viện ở Giêrusalem, cho phép những người hành hương đến đây không phân biệt tôn giáo hay chủng tộc nào; được chính thức thành lập với tên Dòng Thánh Gioan Giêrusalem (được đặt theo tên Thánh Gioan Baotixita) bởi Chân phước Gerard ở Vương Quốc Giêrusalem vào năm 1099, với đoàn sủng chăm lo cho khách hành hương đến Giêrusalem. Ngày 15/02/1113, Đức Giáo Hoàng Pascan II chấp thuận việc thành lập dòng và đặt dòng dưới sự bảo hộ của Toà Thánh. Tất cả các tu sĩ trong dòng đều khấn ba lời khấn khiết tịnh, khó nghèo và vâng phục. Vì mục đích lo cho khách hàng hương, tu sĩ dòng cũng tham gia các cuộc thập tự chinh, khiến dòng trở thành dòng hiệp sĩ. Dòng không chịu sự chỉ huy của bất kỳ quốc gia nào, chỉ vâng phục lệnh của Giáo Hoàng.
Năm 1291, khi Đất Thánh không còn thuộc kiểm soát của người Kitô Giáo, dòng Thánh Gioan dời về đảo Síp. Năm 1310, dòng tái tổ chức trên đảo Rhodes, xây dựng những hạm đội quân sự lớn nhằm xây dựng lại đế chế Kitô Giáo ở Đất Thánh, tham gia các cuộc chiến tại Syria và Ai Cập. Năm 1523, dòng mất đảo Malta vào tay đế quốc Ottoman và hoạt động trong tình trạng không lãnh thổ. Đến năm 1530 thì dòng được vua Charles V của Đế Quốc La Mã Thần Thánh tặng quần đảo Malta để đóng quân. Từ năm 1651 đến 1665, dòng sở hữu thêm 4 hòn đảo ở vùng biển Caribê, bao gồm đảo Saint Barthélemy (Thánh Batôlômêô), Saint Christopher (Thánh Christôphôrô), Saint Croix (Thánh Giá) and Saint Martin (Thánh Martin), sau đó bán lại cho công ty Tây Ấn Pháp.
Năm 1798, vua Pháp Napoleon Bonaparte chiếm được đảo Malta, chấm dứt hơn 250 năm dòng Thánh Gioan Giêrusalem quản lý quần đảo này. Dòng di tản đi, và đến năm 1834 thì cư trú ổn định tại đồi Aventine ở Rôma, Quốc Gia Giáo Hoàng. Đảo Malta độc lập thành nhà nước Cộng Hoà Malta vào năm 1964. Một thoả thuận giữa dòng Hiệp Sĩ Malta và nhà nước Cộng Hoà Malta được ký năm 1998 và phê chuẩn năm 2001 (sau một thoả thuận 1991 đã hết hạn) cho phép dòng sử dụng phần trên lâu đài St. Angelo ở thành phố Birgu, Malta vì các mục đích hỗ trợ nhân đạo.
Năm 2016, dòng gặp một khủng hoảng khi vị Hiệp Sĩ Tối Cao của dòng Matthew Festing sa thải Chưởng Ấn Albrecht von Boeselager vì cho rằng Chưởng Ấn liên quan đến việc phân phối bao cao su ở Myanmar. Vị Chưởng Ấn không đồng ý và kháng lại quyết định. Tháng 01/2017, Đức Giáo Hoàng Phanxicô can thiệp, yêu cầu Matthew Festing từ chức và phục chức lại cho Albrecht von Boeselager; đồng thời ngài bổ nhiệm Tổng Giám Mục Giovanni Angelo Becciu làm đại diện Giáo Hoàng tại dòng, bỏ qua quyền Bảo trợ Hội Dòng của Hồng Y Raymond Leo Burke. Việc Đức Giáo Hoàng can thiệp vào việc quản trị của dòng khiến nhiều nhà quan sát cho rằng vi phạm truyền thống và sự độc lập của dòng.
Tình trạng hiện tại
Dòng Hiệp Sĩ Toàn Quyền Malta được quốc tế xem như một tổ chức có vị thế quốc gia không lãnh thổ duy nhất trên thế giới, được Liên Hiệp Quốc cấp tư cách quan sát viên thường trực từ năm 1994, bên cạnh Toà Thánh và nhà nước Palestine. Dòng hiện sở hữu 3 cơ sở vật chất chính, được xem như lãnh thổ thực tế của dòng là toà nhà Palazzo Malta ở Rôma (trụ sở), Villa del Priorato di Malta ở Rôma (toà nhà chính phủ) và Saint Angelo ở đảo Malta. Hai toà nhà ở Rôma, cộng với toà đại sứ Dòng Malta tại Toà Thánh và toà đại sứ Dòng Malta tại Italy, được nhà nước Italy cấp quyền đặc miễn ngoại giao, tình trạng tương tự như lãnh thổ thực tế của Dòng Malta.
Hiện tại dòng đang duy trì quan hệ ngoại giao chính thức với 110 quốc gia cùng nhiều tổ chức quốc tế.
Caption: Các quốc gia có quan hệ ngoại giao với Dòng Hiệp Sĩ Malta
Dòng phát hành hộ chiếu, con tem, tiền xu riêng, có biển số xe, chính phủ, quốc kỳ, quốc huy và quốc ca riêng; tuy nhiên Liên minh Viễn thông Quốc tế không chấp nhận việc cấp mã nhận dạng vô tuyến và đuôi tên miền riêng cho dòng. Dòng cũng là một trong hai dòng duy nhất được Toà Thánh cho phép làm phù hiệu có hình áo choàng tu sĩ.
Người đứng đầu và được xem như nguyên thủ Dòng Malta là Thái Tử Đại Thống Lĩnh, được bầu bởi Hội Đồng Toàn Quốc. Đại Thống Lĩnh được trợ giúp bởi một Hội Đồng Toàn Quyền, tức chính phủ Dòng Malta, được bầu ra bởi Tổng Phân Bộ, tương đương quốc hội. Hội Đồng Toàn Quyền bao gồm 6 thành viên và 4 Viên Chức Cao Cấp: Tổng Tư Lệnh, Chưởng Ấn, Tổng Cứu Tế và Giám Thu Tài Sản Công.
Thành viên của dòng có 4 cấp bậc: Cấp Nhất được gọi là Hiệp Sĩ Công Chính hay Hiệp Sĩ Tuyên Khấn, là những người khấn 3 lời khấn tu dòng (hiện có 2 nữ tu viện ở Tây Ban Nha và 1 ở Malta bao gồm các thành viên thuộc cấp này). Cấp Nhị được gọi là Hiệp Sĩ Và Nữ Hiệp Sĩ Vâng Phục, chỉ gồm những người lập lời hứa vâng phục, không phải khấn; cấp này chia làm 3 phân lớp. Cấp Tam là những người không có lời khấn hay hứa mà chỉ cần sống theo các quy tắc của dòng; cấp này có 6 phân lớp. Các thành viên dòng mang một biểu tượng Thánh giá tám nhánh tượng trưng cho Tám Mối Phúc Thật.
Dòng hiện có khoảng 13.500 hiệp sĩ, vài chục tu sĩ tuyên khấn, 80.000 tình nguyện viên và 42.000 nhân viên y tế làm việc trong 120 quốc gia. Tôn chỉ của dòng là phục vụ trẻ em, người vô gia cư, người khuyết tật, người già, bệnh hiểm nghèo, người di cư, người phong hủi, trợ giúp nạn nhân thiên tai, dịch bệnh, chiến tranh, không phân biệt tôn giáo, dân tộc. Ngoài ra, một tôn chỉ khác của dòng là bảo vệ đức tin Công Giáo, được đấng sáng lập thêm vào sau.
Vì vị thế đặc biệt của mình, dòng Hiệp Sĩ Malta có một Giám Mục và một Hồng Y bảo trợ riêng. Giám Mục của dòng là Đấng bản quyền chính thức với các thành viên dòng, được Đức Giáo Hoàng bổ nhiệm từ danh sách ba ứng viên do Đại Thống Lĩnh dòng đề xuất. Giám Mục hiện tại của dòng là Đức cha Jean Laffitte. Hồng Y bảo trợ dòng có thể là một Hồng Y kiêm nhiệm hoặc toàn thời gian, có nhiệm vụ nâng đỡ tinh thần cho các thành viên dòng và bảo hộ mối quan hệ của dòng với Toà Thánh, được Đức Giáo Hoàng toàn quyền bổ nhiệm. Hồng Y bảo trợ đương kiêm là Đức Hồng Y Raymond Leo Burke.
Thánh Bổn Mạng của dòng là Đức Mẹ Philermos.
Vì là một dòng hiệp sĩ, Dòng Malta duy trì một quân đội hiện đại với các xe cứu thương quân sự, máy bay chiến đấu và xe jeep.
Thủ đô Valletta của Cộng Hoà Malta hiện nay là một điểm du lịch thu hút vì vẫn còn lưu giữ nhiều công trình nổi tiếng từ thời Dòng Malta quản trị hòn đảo.
Gioakim Nguyễn
