2021
Diễn văn của ĐTC trong giờ cầu nguyện đại kết với người di cư ở Sýp
Diễn văn của ĐTC trong giờ cầu nguyện đại kết với người di cư ở Sýp
Lúc khoảng 4 giờ chiều ngày 3/12/2021 Đức Thánh Cha đã đến nhà thờ Thánh Giá tại thủ đô Nicosia của Sýp để cùng cầu nguyện đại kết với những người di cư. Đức Thánh Cha đã nói với những người di cư về giấc mơ của Thiên Chúa, Đấng mong muốn mọi con cái của Người là anh chị em của nhau.
Diễn văn của Đức Thánh Cha Phanxicô
Cầu nguyện Đại kết với những người di cư
Giáo xứ Thánh Giá
Thứ Sáu 03/12/2021
Anh chị em thân mến!
Thật là một niềm vui lớn lao khi hiện diện ở đây với anh chị em và kết thúc chuyến viếng thăm tại Sýp của tôi bằng cuộc gặp gỡ cầu nguyện. Tôi cảm ơn các Đức Thượng phụ Pizzaballa và Bechara Rai, cũng như các thành viên của văn phòng Caritas. Với tình cảm và lòng biết ơn, tôi chào những người đại diện của các hệ phái Kitô khác hiện diện tại Sýp.
Từ tận trái tim, tôi muốn nói lời “cảm ơn” vô vàn với các bạn, những người trẻ di dân, những người đã trình bày chứng từ. Tôi đã nhận được các chứng từ cách đây khoảng một tháng và chúng đã đánh động tôi rất nhiều, và ngay cả hôm nay cũng thế. Đó không chỉ là sự xúc động, nhưng còn hơn thế rất nhiều: đó là cảm xúc mạnh mẽ đến từ sự gặp gỡ với vẻ đẹp của sự thật. Chúa Giêsu cũng đã cảm động như thế khi Người thốt lên: “Con xin ngợi khen Cha, vì Cha đã giấu không cho bậc khôn ngoan thông thái biết những điều này, nhưng lại mặc khải cho những người bé mọn. Vâng, lạy Cha, vì đó là điều đẹp ý Cha” (Mt 11,25-26). Tôi cũng ngợi khen Chúa Cha trên trời vì điều đang xảy ra hôm nay, ở đây, cũng như trên khắp thế giới. Thiên Chúa đang mặc khải Vương quốc tình yêu, công lý và hòa bình của Người cho những người bé mọn.
Sau khi lắng nghe các bạn, chúng tôi hiểu rõ hơn tất cả sức mạnh ngôn sứ của Lời Chúa, Đấng nói với chúng ta qua thánh Phaolô tông đồ: “Anh em không còn phải là người xa lạ hay người tạm trú, nhưng là người đồng hương với các người thuộc dân thánh, và là người nhà của Thiên Chúa” (Ep 2,19). Những lời được viết cho các Kitô hữu của Êphêxô, không xa nơi đây, cách nay hàng thế kỷ, nhưng vẫn thời sự hơn bao giờ hết, như thể chúng được viết cho chúng ta ngày nay: “Các bạn không phải là người xa lạ, nhưng là đồng hương”. Đây là lời ngôn sứ của Giáo hội: một cộng đồng, với tất cả những giới hạn của con người, là hiện thân của giấc mơ của Thiên Chúa. Bởi vì Thiên Chúa cũng mơ, giống như con, Mariamie, đến từ Cộng hoà Dân chủ Congo; con đã miêu tả mình là người “đầy những giấc mơ”. Giống như con, Thiên Chúa mơ về một thế giới hòa bình, trong đó con cái của Người sống như anh chị em. Thiên Chúa muốn điều này, Thiên Chúa mơ điều này.
Sự hiện diện của các bạn, các anh chị em di cư, rất có ý nghĩa đối với cử hành đại kết này. Những chứng tá của các bạn giống như một “tấm gương” cho chúng tôi, cho các cộng đồng Kitô giáo. Khi con, Thamara, người đến từ Sri Lanka, nói với chúng tôi rằng người ta thường hỏi con, “Bạn là ai?”, con nhắc nhở chúng tôi rằng đôi khi câu hỏi này cũng được đặt ra cho chúng tôi: “Bạn là ai?”. Và thật không may, nó thường có nghĩa là: “Bạn thuộc phe nào? Bạn thuộc nhóm nào?”. Tuy nhiên như con nói, chúng ta không phải là những con số, những cái tên được liệt kê trên danh sách; chúng ta là “anh chị em”, “bạn bè”, “những tín đồ”, “những người lân cận” với nhau. Nhưng khi lợi ích nhóm hoặc lợi ích chính trị, thậm chí của các quốc gia, thúc đẩy, nhiều người trong chúng ta thấy mình bị gạt sang một bên, vô tình trở thành nô lệ. Bởi vì quyền lợi luôn nô dịch, luôn tạo ra nô lệ. Tình yêu, là mở rông, là trái ngược với hận thù, tình yêu làm cho chúng ta tự do.
Khi con, Maccolins, đến từ Camerun, nói rằng trong cuộc sống con đã bị “thương tổn bởi sự thù hận”, con đang nói về điều này, về những vết thương của lợi ích; và con nhắc nhở chúng tôi rằng lòng thù hận cũng đã phá huỷ các tương quan giữa các Kitô hữu chúng ta. Bằng nhiệt huyết của mình con cho thấy rằng sự thù hận là nọc độc. Và điều này, như con đã nói, thay đổi chúng ta; nó để lại một dấu ấn sâu đậm và tồn tại lâu dài. Nó là một chất độc rất khó giải. Đó là một tâm thức méo mó, thay vì giúp chúng ta nhìn nhận nhau là anh em, lại khiến chúng ta coi nhau là kẻ thù, là đối thủ, khi mà không như đồ vật để buôn bán hay lợi dụng.
Khi con, Rozh, đến từ Iraq, nói rằng con là “một người đang hành trình”, con nhắc nhở chúng tôi rằng chúng tôi cũng là cộng đồng đang hành trình, chúng tôi đang trên đường từ xung đột đến hiệp thông. Trên con đường dài và đầy thăng trầm này, chúng ta không nên sợ hãi sự khác biệt giữa chúng ta, nhưng chính sự khép kín và định kiến của chúng ta có thể ngăn cản chúng ta thực sự gặp gỡ và bước đi cùng nhau. Sự khép kín và định kiến giữa chúng ta tái dựng bức tường ngăn cách, tức là sự thù hận giữa chúng ta, đã bị Đức Kitô phá đổ (x. Ep 2,14). Và rồi hành trình hướng tới sự hiệp nhất trọn vẹn của chúng ta chỉ có thể tiến thêm những bước nếu tất cả cùng nhau chiêm ngắm Chúa Giêsu, Đấng là “hòa bình của chúng ta” (sđd), là “đá góc tường” (c. 20). Chính Người, Chúa Giêsu, đến gặp chúng ta với khuôn mặt của người anh em bị gạt ra ngoài lề và bị chối từ. Trong gương mặt của người di cư bị coi thường, bị từ chối, bị nhốt lại… Nhưng đồng thời – như con đã nói – gương mặt của người di cư đang hướng tới một mục tiêu, hướng tới một hy vọng, một sự chung sống đầy tình người hơn…
Và như thế Thiên Chúa nói với chúng ta qua những giấc mơ của chúng ta. Điều nguy hiểm là nhiều khi chúng ta không để giấc mơ thấm vào mình và chúng ta thích ngủ hơn là mơ. Thật là dễ khi ngoảnh nhìn đi nơi khác. Và trong thế giới này, chúng ta đã quá quen với văn hóa thờ ơ đó, với văn hóa ngoảnh nhìn đi nơi khác, và chìm vào giấc ngủ một cách bình thản như thế. Nhưng trên con đường này các bạn không bao giờ có thể mơ ước. Chúa không nói qua những người không thể mơ ước điều gì, bởi vì họ có tất cả mọi thứ hay vì trái tim của họ đã chai cứng. Thiên Chúa cũng yêu cầu chúng ta đừng hài lòng trước một thế giới bị chia rẽ, đừng đầu hàng trước những cộng đồng Kitô hữu bị chia rẽ, nhưng hãy bước đi trong lịch sử, được thu hút bởi giấc mơ của Thiên Chúa: một nhân loại không có bức tường ngăn cách, thoát khỏi thù hận, không có người xa lạ mà chỉ có đồng bào, như thánh Phaolô đã nói với chúng ta trong đoạn sách tôi đã trưng dẫn. Những đồng hương tuy khác biệt nhưng tự hào về sự đa dạng và đặc thù của chúng ta, vốn là món quà của Chúa. Những đồng hương được hòa giải và nên một.
Cầu xin cho hòn đảo này, bị đánh dấu bởi sự chia rẽ đau đớn – tôi đang nhìn bức tường, ở đó (sau cánh cửa mở của nhà thờ) – nhờ ân sủng của Thiên Chúa, trở thành nơi sản sinh tình huynh đệ. Tôi cảm ơn tất cả những người làm việc cho điều này. Hãy nghĩ xem hòn đảo này quảng đại nhưng cũng không thể làm được tất cả, bởi lượng người đến đông hơn khả năng gia nhập, hội nhập, đồng hành, thăng tiến của nó. Sự gần gũi về địa lý của nó tạo điều kiện…, nhưng nó không phải là dễ dàng. Chúng ta cần hiểu những giới hạn mà những nhà lãnh đạo trên Đảo này bị ràng buộc. Nhưng luôn có trên Đảo này, và tôi đã thấy điều đó ở những người lãnh đạo mà tôi đã đến thăm, [sự dấn thân] trở thành, với ân sủng của Thiên Chúa, nơi sản xuất của tình huynh đệ. Và điều này sẽ có thể nếu có được hai điều kiện. Thứ nhất là sự công nhận thật sự phẩm giá của mỗi con người (xem Fratelli tutti, 8). Nhân phẩm của chúng ta không bị bán, không được cho thuê, không bị mất đi. Hãy ngẩng cao đầu: Tôi là một người con xứng đáng của Thiên Chúa. Sự công nhận thật sự phẩm giá của mỗi con người: đây là nền tảng đạo đức, một nền tảng phổ quát, cũng là trọng tâm của học thuyết xã hội Kitô giáo. Điều kiện thứ hai là sự cởi mở tin cậy đối với Thiên Chúa là Cha của tất cả mọi người; và đây là “men” mà chúng ta, những người có đức tin, được kêu gọi cống hiến. (xem sđd, 272).
Nếu có những điều kiện này, giấc mơ có thể được hiện thực trong cuộc hành trình hàng ngày, được tạo thành từ các bước cụ thể, từ xung đột đến hiệp thông, từ thù hận đến yêu thương, từ chạy trốn đến gặp gỡ. Một cuộc hành trình kiên nhẫn, ngày này qua ngày khác, dẫn chúng ta vào vùng đất mà Thiên Chúa đã chuẩn bị cho chúng ta, vùng đất mà khi được hỏi: “Bạn là ai?”, các bạn có thể trả lời một cách cởi mở: “Hãy xem, tôi là anh em của bạn. Bạn không nhận ra tôi?”. “Tôi là chị em của bạn”.
Lắng nghe các bạn nói, nhìn vào mặt các bạn, trí nhớ đi xa hơn, nó đi đến đau khổ. Các bạn đã đến đây: nhưng còn lại bao nhiêu anh chị em của các bạn nằm lại trên đường? Có bao nhiêu người tuyệt vọng bắt đầu cuộc hành trình của mình trong những điều kiện hết sức khó khăn, thậm chí bấp bênh mà chưa thể đến nơi? Chúng ta có thể nói về vùng biển này đã trở thành một nghĩa trang lớn. Nhìn các bạn, tôi quan sát những đau khổ của cuộc hành trình, biết bao nhiêu người bị bắt cóc, bị bán, bị bóc lột…, họ vẫn đang trên đường đi, chúng ta không biết ở đâu. Đó là câu chuyện về một chế độ nô lệ, một chế độ nô lệ hoàn vũ. Chúng ta quan sát những gì xảy ra, và điều tồi tệ nhất là chúng ta đã quen với nó. “À, phải, hôm nay có một chiếc thuyền bị chìm, ở đó… mất tích rất nhiều…”. Nhưng nhìn xem, sự quen dần này là một căn bệnh nguy hiểm, nó là một căn bệnh rất nghiêm trọng và không có thuốc kháng sinh cho căn bệnh này! Chúng ta phải chống lại thói quen quen đọc những bi kịch này trên báo chí hoặc nghe chúng trên các phương tiện truyền thông khác. Nhìn các bạn, tôi nghĩ đến nhiều người đã phải quay lại vì bị họ từ chối và kết thúc trong các trại tập trung, trại tập trung thực sự, nơi phụ nữ bị bán, đàn ông bị tra tấn, bị bắt làm nô lệ … Chúng ta than phiền khi đọc những câu chuyện về các trại tập trung của thế kỷ trước, của Đức Quốc xã, của Stalin; chúng ta phàn nàn khi thấy điều này và chúng ta nói: “nhưng tại sao điều này lại xảy ra?”. Thưa anh chị em: nó đang xảy ra ngày hôm nay, ở các bờ biển gần đây! Những nơi chốn của chế độ nô lệ. Tôi đã xem một số chứng tá được ghi hình về điều này: những nơi bị tra tấn, những nơi buôn người. Tôi nói điều này vì trách nhiệm của tôi là giúp các bạn mở mang tầm mắt. Di cư bắt buộc không phải là một thói quen như của khách du lịch: làm ơn! Và tội lỗi trong lòng chúng ta khiến chúng ta suy nghĩ như thế này: “Ôi, những người tội nghiệp, tội nghiệp!”. Và với lời than “những người tội nghiệp” đó chúng ta xóa bỏ tất cả mọi thứ. Đó là cuộc chiến của thời điểm này, là nỗi thống khổ của anh chị em mà chúng ta không thể im lặng. Những người đã cho tất cả những gì họ có để lên thuyền, vào ban đêm, và sau đó … không biết liệu họ có đến nơi hay không … Và sau đó, nhiều người đã bị từ chối và kết thúc trong các trại tập trung, những nơi thực sự bị giam giữ, tra tấn và nô lệ.
Đây là câu chuyện của nền văn minh phát triển này, mà chúng ta gọi là phương Tây. Và sau đó – xin phép, nhưng tôi xin nói ra những gì trong lòng, ít nhất là cầu nguyện cho nhau và làm một điều gì đó – và rồi, dây thép gai. Tôi thấy một điều ở đây: đây là một cuộc chiến tranh hận thù chia cắt một đất nước. Nhưng những sợi dây thép gai, ở những nơi khác, nơi chúng được đưa ra để không cho người tị nạn vào, người đến để xin tự do, bánh mì, sự giúp đỡ, tình anh em, niềm vui, người đang chạy trốn khỏi hận thù và phải đối mặt với với một mối hận thù được gọi là hàng rào thép gai. Xin Chúa đánh thức lương tâm của tất cả chúng ta khi đối mặt với những điều này.
Và xin lỗi nếu tôi đã nói những điều như chúng vốn là, nhưng chúng ta không thể im lặng và ngoảnh mặt đi, trong nền văn hóa thờ ơ này.
Cầu xin Chúa ban phước lành cho tất cả các bạn! Cảm ơn.
(Vatican News 03.12.2021)
2021
ĐTC Phanxicô gặp gỡ Đức Thượng phụ Chrysostomos II và Thánh Hội đồng
ĐTC Phanxicô gặp gỡ Đức Thượng phụ Chrysostomos II và Thánh Hội đồng
Thứ Sáu 03/12, ngày thứ hai trong chuyến tông du của Đức Thánh Cha đến đảo Sýp và Hy Lạp. Vào lúc 8 giờ 20, Đức Thánh Cha di chuyển bằng xe đến toà Tổng Giám mục Chính thống Sýp, cách Toà Sứ thần 15 km, để thăm Đức Thượng phụ Chrysostomos II, Tổng Giám mục của Nuova Giustiniana và toàn đảo Sýp. Sau đó, ngài gặp gỡ Thánh Hội đồng
Toà Tổng Giám mục
Toà Tổng Giám mục nằm ở trung tâm Nicosia, được xây dựng từ năm 1956 đến năm 1960, theo kiến trúc tân Byzantine. Toà nhà được trang trí với các cột trắng, mái vòm cao, cửa sổ lớn. Trong sân, ngay trước lối vào, có một bức tượng bằng đá cẩm thạch của Đức Thượng phụ Makarios III, Tổng Giám mục tiên khởi của Sýp. Các tòa nhà bằng đá tinh luyện gồm các văn phòng, bảo tàng Byzantine – nơi lưu giữ một trong những bộ sưu tập tranh thánh cổ xưa của thế giới – và thư viện Tổng Giám mục.
Khi đến nơi, Đức Thánh Cha được Đức Thượng phụ Chrysostomos II và đại diện của Thánh Hội đồng chào đón tại lối chính của Toà Tổng Giám mục.
Đức Thượng phụ Chrysostomos II
Đức Thượng phụ Chrysostomos II là Tổng Giám mục Chính thống của Nuova Giustiniana và toàn đảo Sýp, năm nay 80 tuổi (1941). Ngài được thụ phong phó tế năm 1963. Từ năm 1968 đến 1972 ngài theo học tại đại học Athen, và được thụ phong linh mục năm 1972. Từ năm 1972 đến 1978 ngài là viện trưởng của đan viện thánh Neophytos của Paphô. Năm 1978, ngài được bầu chọn là Tổng Giám mục Paphô. Năm 2006 ngài được chọn làm Tổng Giám mục Nuova Giustiniana và toàn đảo Sýp. Trong tư cách là Chủ tịch Thánh Hội Đồng Giáo hội Chính thống Sýp, Đức Thượng Phụ đã tham dự thánh lễ an táng thánh Giáo hoàng Gioan Phaolo II và thánh lễ khai mạc sứ vụ chủ chăn của Đức Giáo Hoàng Biển Đức XVI hồi năm 2005. Để đáp lễ, Đức nguyên Giáo hoàng Biển Đức XVI đã gửi phái đoàn Tòa Thánh tham dự lễ Nhận toà của Đức Thượng Phụ.
Cuộc gặp gỡ giữa Đức Thánh Cha và Đức Thượng phụ Chrysostomos II được bắt đầu bằng việc giới thiệu các thành viên của hai phái đoàn. Sau đó Đức Thánh Cha và Đức Thượng phụ có cuộc hội kiến riêng. Và cuối cùng là phần ký sổ lưu niệm.
ĐTC Phanxicô gặp gỡ Thánh Hội đồng
Sau cuộc gặp gỡ với Đức Thượng Phụ Chrysostomos II, Đức Thánh Cha di chuyển đến Nhà thờ Chính toà Chính thống ở Nicosia cách đó 100 mét, để gặp gỡ Thánh Hội đồng.
Nhà thờ Chính toà Chính thống
Nhà thờ Chính Toà Chính thống, còn được gọi là Nhà thờ Thánh Gioan thần học, dâng kính Thánh Gioan Tông đồ và được xây dựng ở nơi trước đó là nhà nguyện của tu viện cũng mang tên Thánh Gioan, thành lập từ giữa thế kỷ 10 và 12. Công trình xây dựng kéo dài hơn 10 năm. Tòa nhà có mái vòm tròn theo phong cách Pháp-Byzantine và chỉ có một gian giữa với mái vòm nhọn. Bên ngoài đơn giản khác với nội thất được trang trí tỉ mỉ bên trong với những bức bích họa miêu tả những cảnh trong Kinh Thánh, đặc biệt cảnh Chúa Kitô bị đóng đinh với sự chứng kiến của Đức Mẹ và Thánh Gioan, đặc biệt có mộ của Thánh Barnaba ở Salamis, với những tấm gỗ sơn hoặc dát vàng, đèn chùm pha lê và các tác phẩm điêu khắc.
Thánh Hội đồng
Thánh Hội đồng là quyền bính cao nhất của Giáo hội Chính thống Sýp. Đứng đầu là Tổng Giám mục của Nuova Giustiniana và Toàn đảo Sýp, cùng với 9 Tổng Giám mục và 7 Giám mục của Sýp. Vị đứng đầu Thánh Hội đồng hiện nay là Đức Thượng phụ Chrysostomos II.
Được xếp đặt thành 12 Ủy ban, Thánh Hội đồng có nhiệm vụ bảo tồn giáo lý, giáo luật và phụng vụ của Giáo hội Chính thống Sýp, duy trì sự hiệp thông với Tòa Thượng phụ Đại kết và các Giáo hội Chính thống khác và để điều hành các mối quan hệ đại kết và liên tôn. Ngoài ra, Thánh Hội đồng giám sát việc cai quản về công lý Giáo hội, quản lý tài chính và hoạt động của Văn phòng Đại diện của Giáo hội Sýp tại Liên minh châu Âu và giám sát giáo dục tôn giáo. Đức Thượng phụ triệu tập Thánh Hội đồng 4 lần trong năm.
Buổi gặp gỡ bắt đầu với diễn văn chào mừng của Đức Thượng phụ Chrysostomos II dành cho Đức Thánh Cha trong buổi thăm Thánh Hội đồng này.
Diễn văn của ĐTC
Trong bài diễn văn đáp từ Đức Thượng phụ, trước hết, Đức Thánh Cha bày tỏ niềm vui và cám ơn sự đón tiếp ngài đã nhận được từ Đức Thượng phụ và các thành viên của Thánh Hội đồng.
Nguồn gốc tông đồ chung
Tiếp đến Đức Thánh Cha nói: “Hồng ân được hiện diện nơi đây nhắc tôi nhớ rằng chúng ta có một nguồn gốc tông đồ chung: thánh Phaolô đi qua Sýp và sau đó đến Rôma. Do đó, chúng ta thừa kế cùng một lòng nhiệt thành tông đồ và một con đường duy nhất kết nối chúng ta, đó là Tin Mừng. Vì vậy, tôi muốn thấy chúng ta tiến bước trên cùng một con đường, tìm kiếm tình huynh đệ ngày càng lớn hơn và sự hiệp nhất trọn vẹn. Trong phần Đất Thánh này, nơi lan toả ân sủng của những nơi thánh trên khắp Địa Trung Hải, một cách tự nhiên làm chúng ta ngẫm nghĩ đến biết bao trang và nhân vật Kinh Thánh. Trong những nhân vật này, một lần nữa tôi muốn đề cập đến thánh Banaba, và suy tư về một số khía cạnh cuộc sống của thánh Tông đồ có thể hướng dẫn chúng ta trên hành trình của chúng ta”.
Banaba: Người con của sự an ủi và khích lệ
Đi từ Sách Công vụ Tông đồ, Đức Thánh Cha giải thích: Tên “Banaba” vừa có nghĩa là “người con của sự an ủi” vừa là “người con của sự khích lệ”. Thật đẹp trong con người của thánh nhân kết hợp cả hai tính cách này, vốn là những đặc điểm không thể thiếu cho việc loan báo Tin Mừng.
Thánh Banaba, người con của sự an ủi, khuyến khích chúng ta, những người anh em của thánh Tông đồ thực hiện cùng một sứ vụ là đem Tin Mừng đến cho nhân loại; mời gọi chúng ta hiểu rằng lời loan báo không thể chỉ dựa trên những lời khích lệ chung chung, lặp lại các giới luật và quy tắc phải tuân giữ, như thường lệ. Loan báo Tin Mừng phải đi theo con đường gặp gỡ cá nhân, chú ý đến câu hỏi của mọi người, đến nhu cầu hiện sinh của họ. Để trở thành những người con của sự an ủi, trước khi nói điều gì đó, cần phải lắng nghe, để được chất vấn, khám phá người khác, chia sẻ. Bởi vì Tin Mừng được thông truyền nhờ hiệp thông. Đó là điều mà, với tư cách là các tín hữu Công giáo, chúng tôi muốn trải nghiệm trong vài năm tới, tái khám phá chiều kích hiệp hành, xây dựng Giáo hội. Trong điều này, chúng tôi cảm thấy cần phải đồng hành mạnh mẽ hơn nữa với anh em, những người anh em quý mến, qua kinh nghiệm về sự hiệp hành của anh em có thể giúp chúng tôi.
Tôi chân thành hy vọng chúng ta sẽ có nhiều cơ hội gặp gỡ, để hiểu nhau hơn, để xóa bỏ những định kiến và ngoan nguỳ lắng nghe những kinh nghiệm đức tin của nhau. Đó sẽ là một sự khích lệ cho mỗi chúng ta và sẽ mang lại cho chúng ta niềm ủi an thiêng liêng.
Từ bỏ quá khứ chia rẽ tiến đến hiệp nhất
Đức Thánh Cha nói đến đặc tính thứ hai của thánh Banaba: Thánh Banaba là “người Lêvi, quê quán ở đảo Sýp” (Cv 4, 32). Bản văn không thêm chi tiết khác, không nói về dáng vẻ hay con người của ông, nhưng ngay lập tức cho chúng ta thấy Banaba là người như thế nào qua một trong những hành động của ông: “Ông bán đất đi, lấy tiền đem đặt dưới chân các Tông đồ”(câu 37). Cử chỉ tuyệt vời này gợi ý rằng, để được hồi sinh trong sự hiệp thông và sứ vụ, chúng ta cũng cần phải có can đảm từ bỏ tất cả những gì thuộc về thế gian, dù quý giá, để có được sự hiệp nhất trọn vẹn.
Đặt tất cả tài sản dưới chân các Tông đồ, Banaba đi vào con tim các Tông đồ. Chúng ta cũng được Chúa mời gọi tái khám phá chúng ta là chi thể của cùng một Thân thể, để hạ mình xuống dưới chân anh em. Chắc chắn, trong tương quan của chúng ta, lịch sử đã mở ra những vết nứt lớn giữa chúng ta, nhưng Chúa Thánh Thần mong muốn rằng với sự khiêm nhường và tôn trọng, chúng ta một lần nữa đến gần nhau hơn. Thánh Thần mời gọi chúng ta đừng cam chịu những chia rẽ trong quá khứ và hãy cùng nhau vun trồng cánh đồng Nước trời với sự kiên nhẫn, siêng năng và cụ thể. Vì nếu chúng ta gạt bỏ những lý thuyết trừu tượng sang một bên và cùng làm việc, như trong các công việc bác ái, giáo dục và thăng tiến phẩm giá con người, chúng ta sẽ tái khám phá tình huynh đệ, và sự hiệp thông sẽ tự trưởng thành trước sự ngợi khen Thiên Chúa. Mỗi chúng ta sẽ duy trì phong cách riêng, nhưng theo thời gian, những việc làm chung sẽ gia tăng sự hòa hợp và sinh hoa trái. Như những vùng đất Địa Trung Hải xinh đẹp này được tô điểm bởi sức lao động kiên nhẫn và tôn trọng của con người, thì với sự trợ giúp của Chúa và sự kiên trì khiêm tốn, chúng ta cũng có thể vun trồng sự hiệp thông tông đồ của chúng ta!
Vượt qua thử thách hướng đến hoà hợp
Đức Thánh Cha nói đến đặc tính thứ ba của thánh Banaba: Thử thách. Khía cạnh này đã gắn liền với công cuộc loan báo Tin Mừng ban đầu ở vùng đất này. Khi trở về Sýp cùng với Phaolô và Máccô, Banaba thấy Êlyma, “một người phù thuỷ và mạo xưng là ngôn sứ” (Cv 13, 6), người đã ác ý chống lại họ, tìm cách bẻ cong những đường lối ngay thẳng của Chúa (xem c. 8,10). Ngày nay cũng vậy, không thiếu sự giả dối và lừa gạt mà quá khứ có thể đặt ra trước mắt để cản trở con đường của chúng ta. Nhiều thế kỷ chia rẽ và xa cách đã khiến chúng ta đồng hóa, ngay cả không chủ tâm, chống đối và có thành kiến với người khác, những định kiến thường dựa trên thông tin ít ỏi và xuyên tạc, và được lan truyền bởi một nền văn chương công kích và luận chiến. Tất cả những điều này làm sai lệch con đường của Thiên Chúa, vốn hướng đến sự hòa hợp và hợp nhất.
Đức Thánh Cha kết thúc bài diễn văn với lời mời gọi cầu xin Chúa ban sự khôn ngoan và can đảm để đi theo đường lối của Người. Ngài nói: “Chúng ta cầu xin qua sự chuyển cầu của các thánh. Vô số các thánh hợp nhất trong một Giáo hội trên trời, thúc giục chúng ta cùng nhau chèo thuyền về bến, nơi tất cả chúng ta đều khao khát. Từ trên cao, các thánh mời gọi chúng ta làm cho Sýp, vốn đã là một cầu nối giữa Đông và Tây, trở thành một cầu nối giữa trời và đất. Như thế, vì vinh quang Thiên Chúa Ba Ngôi Rất Thánh, vì thiện ích chúng ta và của tất cả mọi người.”
Ngọc Yến
2021
Diễn văn của Đức Thánh Cha Phanxicô với Thánh Hội đồng
Diễn văn của Đức Thánh Cha Phanxicô với Thánh Hội đồng
Sau cuộc gặp gỡ với Đức Thượng Phụ Chrysostomos II, Đức Thánh Cha di chuyển bằng xe đến Nhà thờ Chính toà Chính thống ở Nicosia cách đó 100 mét, để gặp gỡ Thánh Hội đồng.
Tôi rất vui mừng ở đây giữa anh em và tôi biết ơn vì sự chào đón thân tình của anh em. Cám ơn người anh quý mến, Đức Thượng phụ Chrysostomos II, vì những lời tốt đẹp, vì sự mở rộng con tim và dấn thân thúc đẩy đối thoại giữa chúng ta. Tôi muốn gửi lời chào tới các linh mục, phó tế và tất cả tín hữu của Giáo hội Chính thống Sýp, với một ý nghĩ đặc biệt dành cho các đan sĩ nam nữ, những người nhờ lời cầu nguyện của họ đã thanh tẩy và nâng đức tin của tất cả mọi người lên.
Hồng ân được hiện diện nơi đây nhắc tôi nhớ rằng chúng ta có một nguồn gốc tông đồ chung: thánh Phaolô đi qua Sýp và sau đó đến Rôma. Do đó, chúng ta thừa kế cùng một lòng nhiệt thành tông đồ và một con đường duy nhất kết nối chúng ta, đó là Tin Mừng. Vì vậy, tôi muốn thấy chúng ta tiến bước trên cùng một con đường, tìm kiếm tình huynh đệ ngày càng lớn hơn và sự hiệp nhất trọn vẹn. Trong phần Đất Thánh này, nơi lan toả ân sủng của những nơi thánh trên khắp Địa Trung Hải, một cách tự nhiên làm chúng ta ngẫm nghĩ đến biết bao trang và nhân vật Kinh Thánh. Trong những nhân vật này, một lần nữa tôi muốn đề cập đến thánh Banaba, và suy tư về một số khía cạnh cuộc sống của thánh Tông đồ có thể hướng dẫn chúng ta trên hành trình của chúng ta.
“Ông Giôxếp, người được các Tông đồ đặt tên là Banaba” (Cv 4, 36). Sách Công vụ Tông đồ đã giới thiệu ngài như thế. Chúng ta biết và tôn kính thánh Banaba qua biệt danh của ngài. Tên “Banaba” vừa có nghĩa là “người con của sự an ủi” vừa là “người con của sự khích lệ”. Thật đẹp trong con người của thánh nhân kết hợp cả hai tính cách này, vốn là những đặc điểm không thể thiếu cho việc loan báo Tin Mừng. Thực tế, sự an ủi đích thực không thể giữ riêng mình, nhưng phải được diễn tả trong sự khích lệ và hướng tự do tới điều thiện. Đồng thời, mọi lời khích lệ trong đức tin phải dựa trên nền tảng là sự hiện diện an ủi của Thiên Chúa và đồng hành với tình bác ái huynh đệ.
Như thế, Banaba, người con của sự an ủi, khuyến khích chúng ta, những người anh em của thánh Tông đồ thực hiện cùng một sứ vụ là đem Tin Mừng đến cho nhân loại; mời gọi chúng ta hiểu rằng lời loan báo không thể chỉ dựa trên những lời khích lệ chung chung, lặp lại các giới luật và quy tắc phải tuân giữ, như thường lệ. Loan báo Tin Mừng phải đi theo con đường gặp gỡ cá nhân, chú ý đến câu hỏi của mọi người, đến nhu cầu hiện sinh của họ. Để trở thành những người con của sự an ủi, trước khi nói điều gì đó, cần phải lắng nghe, để được chất vấn, khám phá người khác, chia sẻ. Bởi vì Tin Mừng được thông truyền nhờ hiệp thông. Đó là điều mà, với tư cách là các tín hữu Công giáo, chúng tôi muốn trải nghiệm trong vài năm tới, tái khám phá chiều kích hiệp hành, xây dựng Giáo hội. Trong điều này, chúng tôi cảm thấy cần phải đồng hành mạnh mẽ hơn nữa với anh em, những người anh em quý mến, qua kinh nghiệm về sự hiệp hành của anh em có thể giúp chúng tôi. Cám ơn sự hợp tác huynh đệ của anh em, điều cũng được thể hiện ở việc tham gia tích cực vào Ủy ban Hỗn hợp Quốc tế về Đối thoại Thần học giữa Giáo hội Công giáo và Giáo hội Chính thống.
Tôi chân thành hy vọng chúng ta sẽ có nhiều cơ hội gặp gỡ, để hiểu nhau hơn, để xóa bỏ những định kiến và ngoan nguỳ lắng nghe những kinh nghiệm đức tin của nhau. Đó sẽ là một sự khích lệ cho mỗi chúng ta và sẽ mang lại cho chúng ta niềm ủi an thiêng liêng. Tông đồ Phaolô, mà chúng ta là hậu duệ, thường nói về sự an ủi, và thật hay khi hình dung rằng Banaba, người con của sự an ủi, là người truyền cảm hứng cho một số lời của thánh nhân. Như những lời bắt đầu Thư thứ hai gửi tín hữu Côrintô, Phaolô khuyên chúng ta an ủi nhau bằng chính niềm an ủi mà chúng ta đã được Thiên Chúa ủi an (2Cr 1, 3-5). Theo nghĩa này, anh em thân mến, tôi muốn đảm bảo với anh em về lời cầu nguyện và sự gần gũi của tôi, và của Giáo hội Công giáo, trong những vấn đề đau khổ đang gây cho anh em sự buồn phiền, cũng như trong những hy vọng tốt và táo bạo nhất sẽ khích lệ anh em. Nỗi buồn và niềm vui của anh em cũng là của chúng tôi; chúng tôi cảm nhận chúng là của chúng tôi. Và chúng tôi cảm thấy rất cần lời cầu nguyện của anh em.
Tiếp theo, khía cạnh thứ hai, Sách Công vụ Tông đồ giới thiệu Thánh Banaba là “người Lêvi, quê quán ở đảo Sýp” (Cv 4, 32). Bản văn không thêm chi tiết khác, không nói về dáng vẻ hay con người của ông, nhưng ngay lập tức cho chúng ta thấy Banaba là người như thế nào qua một trong những hành động của ông: “Ông bán đất đi, lấy tiền đem đặt dưới chân các Tông đồ”(câu 37). Cử chỉ tuyệt vời này gợi ý rằng, để được hồi sinh trong sự hiệp thông và sứ vụ, chúng ta cũng cần phải có can đảm từ bỏ tất cả những gì thuộc về thế gian, dù quý giá, để có được sự hiệp nhất trọn vẹn. Chắc chắn tôi không đề cập đến những gì là thánh thiêng và giúp chúng ta gặp gỡ Chúa, nhưng nói về nguy cơ tuyệt đối hóa một số phong tục và thói quen, những điều không cần thiết để sống đức tin. Chúng ta đừng để mình bị tê liệt vì sợ hãi trước sự cởi mở hoặc cử chỉ táo bạo, đừng thoả mãn với sự “không dung hoà những khác biệt” vốn không phù hợp với Tin Mừng!
Đặt tất cả tài sản dưới chân các Tông đồ, Banaba đi vào con tim các Tông đồ. Chúng ta cũng được Chúa mời gọi tái khám phá chúng ta là chi thể của cùng một Thân thể, để hạ mình xuống dưới chân anh em. Chắc chắn, trong tương quan của chúng ta, lịch sử đã mở ra những vết nứt lớn giữa chúng ta, nhưng Chúa Thánh Thần mong muốn rằng với sự khiêm nhường và tôn trọng, chúng ta một lần nữa đến gần nhau hơn. Thánh Thần mời gọi chúng ta đừng cam chịu những chia rẽ trong quá khứ và hãy cùng nhau vun trồng cánh đồng Nước trời với sự kiên nhẫn, siêng năng và cụ thể. Vì nếu chúng ta gạt bỏ những lý thuyết trừu tượng sang một bên và cùng làm việc, như trong các công việc bác ái, giáo dục và thăng tiến phẩm giá con người, chúng ta sẽ tái khám phá tình huynh đệ, và sự hiệp thông sẽ tự trưởng thành trước sự ngợi khen Thiên Chúa. Mỗi chúng ta sẽ duy trì phong cách riêng, nhưng theo thời gian, những việc làm chung sẽ gia tăng sự hòa hợp và sinh hoa trái. Như những vùng đất Địa Trung Hải xinh đẹp này được tô điểm bởi sức lao động kiên nhẫn và tôn trọng của con người, thì với sự trợ giúp của Chúa và sự kiên trì khiêm tốn, chúng ta cũng có thể vun trồng sự hiệp thông tông đồ của chúng ta!
Một kết quả tốt, chẳng hạn, là tất cả những gì đã diễn ra ở đây ở Sýp tại Nhà thờ “Đức Mẹ Thành Vàng”. Đền thánh dâng kính Panaghia Chrysopolitissa, ngày nay là nơi thờ phượng của các tín hữu thuộc nhiều hệ phái Kitô khác nhau, được nhiều người yêu mến và thường xuyên chọn là nơi cử hành lễ cưới. Như vậy, đó là dấu chỉ của sự hiệp thông đức tin và sự sống dưới cái nhìn của Mẹ Thiên Chúa, Đấng quy tụ con cái lại với nhau. Hơn nữa, bên trong khu phức hợp vẫn còn giữ cây cột mà, theo truyền thống, Thánh Phaolô đã chịu 39 roi vì đã tuyên xưng đức tin ở Paphô. Sứ vụ, cũng như sự hiệp thông, luôn luôn phải trải qua những hy sinh và thử thách.
Khía cạnh thứ ba nơi con người thánh Banaba: Thử thách. Khía cạnh này đã gắn liền với công cuộc loan báo Tin Mừng ban đầu ở vùng đất này. Khi trở về Sýp cùng với Phaolô và Máccô, Banaba thấy Êlyma, “một người phù thuỷ và mạo xưng là ngôn sứ” (Cv 13, 6), người đã ác ý chống lại họ, tìm cách bẻ cong những đường lối ngay thẳng của Chúa (xem c. 8,10). Ngày nay cũng vậy, không thiếu sự giả dối và lừa gạt mà quá khứ có thể đặt ra trước mắt để cản trở con đường của chúng ta. Nhiều thế kỷ chia rẽ và xa cách đã khiến chúng ta đồng hóa, ngay cả không chủ tâm, chống đối và có thành kiến với người khác, những định kiến thường dựa trên thông tin ít ỏi và xuyên tạc, và được lan truyền bởi một nền văn chương công kích và luận chiến. Tất cả những điều này làm sai lệch con đường của Thiên Chúa, vốn hướng đến sự hòa hợp và hợp nhất. Anh em quý mến, sự thánh thiện của Banaba cũng là điều hùng hồn cho chúng ta! Đã bao nhiêu lần trong lịch sử, các Kitô hữu chúng ta quan tâm đến việc chống lại người khác hơn là đón nhận con đường của Thiên Chúa một cách ngoan nguỳ, vốn giúp hàn gắn những chia rẽ nhờ đức ái! Đã bao lần chúng ta phóng đại và gieo rắc những thành kiến về người khác thay vì thực hiện lời khuyên của Chúa, điều thường được nhắc đến trong Tin Mừng Máccô, người đã đồng hành với Banaba trên hòn đảo này: trở nên nhỏ bé và phục vụ người khác (Mc 9,35; 10,43-44).
Thưa Đức Thượng phụ, hôm nay, trong cuộc đối thoại của chúng ta, tôi đã rất xúc động khi ngài nói về Giáo hội Mẹ. Giáo hội của chúng ta là một người mẹ, và một người mẹ luôn quy tụ con cái bằng sự dịu dàng. Chúng ta có niềm tin vào Giáo hội Mẹ này, Đấng quy tụ tất cả chúng ta và là Đấng với lòng kiên nhẫn, sự dịu dàng và lòng can đảm, sẽ dẫn dắt chúng ta tiến bước trên con đường của Chúa. Nhưng, để cảm nhận được tình mẫu tử của Giáo hội, tất cả chúng ta phải đến đó, nơi Giáo hội là mẹ. Tất cả chúng ta, với sự khác biệt của mình, đều là những người con của Giáo hội Mẹ. Cám ơn Đức Thượng phụ vì sự suy tư mà ngài đã thực hiện hôm nay với tôi.
Chúng ta hãy cầu xin Chúa ban cho chúng ta sự khôn ngoan và can đảm để đi theo đường lối của Người, chứ không phải của chúng ta. Chúng ta cầu xin qua sự chuyển cầu của các thánh. Leontios Machairas, một nhà biên niên sử thế kỷ XV, đã định nghĩa Sýp là “Đảo Thánh” vì có rất nhiều vị tử đạo và chân phước đã được biết đến ở những vùng đất này qua nhiều thế kỷ. Ngoài những vị được biết đến và tôn kính, như Banaba, Phaolô và Máccô, Epiphanius, và Spyridon, còn có rất nhiều người khác: vô số các thánh hợp nhất trong một Giáo hội trên trời, thúc giục chúng ta cùng nhau chèo thuyền về bến, nơi tất cả chúng ta đều khao khát. Từ trên cao, các thánh mời gọi chúng ta làm cho Sýp, vốn đã là một cầu nối giữa Đông và Tây, trở thành một cầu nối giữa trời và đất. Như thế, vì vinh quang Thiên Chúa Ba Ngôi Rất Thánh, vì thiện ích chúng ta và của tất cả mọi người.”
Ngọc Yến
2021
ĐTC dâng Thánh lễ tại Sân vận động GSP của Sýp
ĐTC dâng Thánh lễ tại Sân vận động GSP của Sýp
Lúc 10 giờ sáng 3/12, sau cuộc gặp gỡ Thánh Hội đồng Chính Thống giáo, Đức Thánh Cha di chuyển đến sân vận động GSP cách đó 9km để dâng Thánh Lễ với các tín hữu Công giáo.
Lúc 10 giờ sáng thứ Sáu, 3/12, sau cuộc gặp gỡ Thánh Hội đồng Chính Thống giáo, Đức Thánh Cha di chuyển đến sân vận động GSP cách đó 9km để dâng Thánh Lễ với các tín hữu Công giáo.
Sân vận động GSP với 22 ngàn chỗ ngồi được khánh thành năm 1999. Thánh Lễ hôm nay ban đầu dự kiến có 4000 tín hữu tham dự, và thực tế con số này đã lên đến 10 ngàn người tham dự Thánh Lễ với Đức Thánh Cha, trong đó chính quyền đã xin 700 vé, mặc dù đa số các quan chức chính quyền thuộc Chính Thống giáo.
Trước khi bắt đầu Thánh Lễ, Đức Thượng phụ Pierbattista Pizzaballa, Thượng phụ Giêrusalem nghi lễ Latinh đã có lời chào ngắn với Đức Thánh Cha.
© AP
Đức Thánh Cha cử hành Thánh Lễ với phụng vụ kính thánh Phanxicô Xaviê, với bài đọc I được trích từ sách tiên tri Isaia – “trong ngày đó mắt của người mù sẽ được thấy”, và bài Tin Mừng theo thánh Matthêu về việc Chúa Giêsu chữa lành cho hai người mù. Cả hai bài được đọc bằng tiếng Hy Lạp, trong khi Thánh Lễ được cử hành bằng tiếng Latinh, bài giảng bằng tiếng Ý, và nhiều bài hát bằng tiếng Anh.
Bài giảng
Trong bài giảng, Đức Thánh Cha khai triển 3 bước của việc hai người mù gặp gỡ Chúa Giêsu và được chữa lành. Và từ đó, đến lượt mình, trong hành trình Mùa Vọng này, chúng ta chuẩn bị đón mừng Chúa đến.
Bước đầu tiên: đến gặp Chúa Giêsu để được chữa lành. Bản văn nói rằng hai người mù đã kêu lên với Chúa khi họ đi theo Người (xem câu 27). Họ không nhìn thấy Người nhưng họ lắng nghe giọng nói của Người và theo bước Người. Họ tìm kiếm nơi Đức Kitô những gì các tiên tri đã báo trước, đó là những dấu chỉ của việc chữa lành và lòng trắc ẩn của Thiên Chúa giữa dân Người. Về điều này, Isaia đã viết: “Mắt người mù mở ra” (35,5). Và một lời tiên tri khác, trong bài đọc thứ nhất hôm nay: “mắt người mù sẽ thoát cảnh mù mịt tối tăm và sẽ được nhìn thấy” (29,18). Hai người trong Tin Mừng tín thác vào Chúa Giêsu và đi theo Người để tìm kiếm ánh sáng cho đôi mắt của họ.
Đức Thánh Cha đặt câu hỏi: “Tại sao hai người này tín thác vào Chúa Giê-su? Bởi vì họ nhận thức rằng, trong bóng tối của lịch sử, Ngài là ánh sáng soi vào đêm tối của trái tim và của thế giới, đánh tan bóng tối và chiến thắng mọi sự mù loà. Cũng vậy, chúng ta biết, chúng ta mang trong tim mình sự mù loà. Chúng ta cũng như hai anh mù, là những lữ khách thường chìm đắm trong bóng tối của cuộc sống. Việc đầu tiên phải làm là đến với Chúa Giêsu, như chính Người mời gọi: “Tất cả những ai đang vất vả mang gánh nặng nề, hãy đến cùng tôi, tôi sẽ cho nghỉ ngơi bồi dưỡng.” (Mt 11,28). Ai trong chúng ta không cảm thấy vất vả và gánh nặng? Tuy nhiên, chúng ta cưỡng lại việc tiến về phía Chúa Giêsu; nhiều khi chúng ta thích khép mình lại, cô đơn với bóng tối của mình, chấp nhận khóc than và chấp nhận cho nỗi buồn lẻo đẻo bám theo. Chúa Giêsu là bác sĩ: chỉ có Người, là ánh sáng đích thực chiếu soi mọi người (x. Ga 1,9), mới ban cho chúng ta dư tràn ánh sáng, hơi ấm, tình yêu. Chỉ có Người giải thoát trái tim khỏi sự ác. Chúng ta có thể tự hỏi: liệu tôi có đóng chặt mình trong bóng tối u buồn, điều làm cạn kiệt nguồn vui, hay tôi đến với Chúa Giêsu và mang cuộc sống của tôi đến với Người? Tôi có theo Chúa Giêsu, tôi có “đi theo” Người và kêu lên với Người về những nhu cầu của tôi, tôi có dâng cho Người những cay đắng của tôi không? Hãy làm điều đó, chúng ta hãy cho Chúa Giêsu cơ hội để chữa lành trái tim của chúng ta. Đây là bước đầu tiên. Sự chữa lành bên trong còn đòi hỏi hai điều nữa.
Thứ hai là cùng nhau mang lấy những vết thương. Trong trình thuật Tin Mừng, không có việc chữa lành cho một người mù, chẳng hạn như trường hợp của Bartimê (x. Mc 10,46-52) hoặc người mù bẩm sinh (x. Ga 9,1-41). Ở đây là hai người mù. Họ cùng với nhau trên đường. Họ cùng nhau chia sẻ nỗi đau về tình trạng bệnh tật của mình, cùng nhau khao khát một ánh sáng có thể chiếu vào đêm tối trái tim của họ. Bản văn chúng ta đã nghe luôn ở số nhiều, vì cả hai cùng nhau làm mọi việc: cả hai cùng theo Chúa Giêsu, cả hai cùng kêu lên và xin Người chữa lành; không phải mỗi người tự mình, mà là cùng nhau. Điều quan trọng là họ nói với Chúa Kitô: xin thương xót chúng tôi. Họ sử dụng từ “chúng tôi”, họ không nói “tôi”. Mỗi người không nghĩ về sự mù loà của chính mình mà cùng nhau xin giúp đỡ. Đây là dấu hiệu hùng hồn của đời sống Kitô hữu, đây là điểm đặc trưng của tinh thần giáo hội: suy nghĩ, nói năng, hành động như một “chúng ta”, bằng cách thoát ra khỏi chủ nghĩa cá nhân và sự giả định rằng tự mình là đủ, những thứ khiến con tim bệnh hoạn.
Hai người mù, với việc chia sẻ những đau khổ và với tình bạn huynh đệ của họ, đã dạy cho chúng ta rất nhiều điều. Mỗi người chúng ta đều mù lòa theo một cách nào đó do tội lỗi, điều này ngăn cản chúng ta “nhìn thấy” Thiên Chúa là Cha và người khác là anh em. Điều này gây ra tội lỗi, nó bóp méo thực tế: nó khiến chúng ta xem Thiên Chúa là chủ và những người khác là vấn đề. Đó là hành động của kẻ cám dỗ, kẻ làm sai lệch mọi thứ và có xu hướng trình bày mọi thứ dưới dáng vẻ tiêu cực trước mắt chúng ta để ném chúng ta vào tuyệt vọng và cay đắng. Và nỗi buồn xấu xa, vốn nguy hiểm và không đến từ Thiên Chúa, thường ẩn nấp trong sự cô đơn. Do đó, chúng ta không thể một mình đối mặt với bóng tối. Nếu chúng ta tự mình mang lấy sự mù loà bên trong, chúng ta sẽ bị đánh bại. Chúng ta cần đặt mình cạnh người khác, cần chia sẻ những vết thương, và cùng nhau lên đường.
Trước mọi bóng tối cá nhân và những thách đố mà chúng ta gặp phải trong Giáo hội và trong xã hội, chúng ta được mời gọi canh tân tình huynh đệ. Nếu chúng ta vẫn còn chia rẽ, nếu mỗi người chỉ nghĩ đến mình hoặc nhóm của mình, nếu chúng ta không hợp lại với nhau, chúng ta không đối thoại, chúng ta không cùng nhau bước đi, thì chúng ta không thể chữa lành hoàn toàn sự mù loà. Sự chữa lành sẽ đến khi chúng ta cùng nhau mang lấy những vết thương, khi chúng ta cùng nhau đối diện với những vấn đề, khi chúng ta lắng nghe nhau và nói với nhau. Đây là ân sủng của việc sống trong cộng đoàn, hiểu được giá trị của việc cùng nhau, việc trở nên một cộng đoàn. Tôi cầu xin điều đó cho anh chị em: Ước gì anh chị em luôn ở bên nhau, luôn luôn hiệp nhất; tiến bước như thế và với niềm vui: với tư cách là những anh em Kitô hữu, con cái của một người Cha duy nhất.
Bước thứ ba là loan báo Tin Mừng với niềm vui. Sau khi cùng nhau được Chúa Giêsu chữa lành, hai nhân vật chính ẩn danh của Tin Mừng, mà chúng ta có thể nhìn thấy chính mình trong đó, bắt đầu loan tin khắp cả vùng. Có một sự thật hơi trớ trêu: Chúa Giêsu đã khuyên họ đừng nói gì với ai, nhưng họ lại làm hoàn toàn ngược lại (x. Mt 9,30-31). Tuy nhiên, từ câu chuyện, chúng ta hiểu rằng họ không có ý định không vâng lời Chúa; nhưng đơn giản chỉ là họ không thể kiềm nén sự phấn khích vì đã được chữa lành, niềm vui vì những gì họ đã sống trong cuộc gặp gỡ với Người. Và đây là một dấu hiệu đặc biệt khác của Kitô hữu: niềm vui của Tin Mừng, điều không thể kiềm chế được, “lấp đầy trái tim và trọn cuộc đời của những ai gặp gỡ Chúa Giê-su” (Tông huấn Niềm vui Tin Mừng, 1); niềm vui của Tin Mừng giải phóng khỏi nguy cơ của một đức tin hù doạ, hà khắc và ảm đạm, nhưng đưa vào sự năng động của việc làm chứng.
Anh chị em quý mến, thật tuyệt vời khi gặp anh chị em và nhìn thấy anh chị em sống vui tươi với lời loan báo giải phóng của Tin Mừng. Tôi cảm ơn anh chị em vì điều đó. Đây không phải là chiêu dụ tín đồ, mà là làm chứng; không phải chủ nghĩa đạo đức, mà là lòng thương xót; không phải là sự thờ phượng bên ngoài, nhưng là tình yêu được sống. Tôi khuyến khích anh chị em tiếp tục đi trên con đường này: giống như hai người mù trong Tin Mừng, chúng ta cũng hãy làm mới lại cuộc gặp gỡ với Chúa Giêsu và chúng ta hãy ra khỏi chính mình mà không sợ hãi để làm chứng về Người cho những người chúng ta gặp! Hãy ra đi để trao tặng ánh sáng mà chúng ta đã lãnh nhận, hãy bước ra để chiếu sáng màn đêm thường vây quanh chúng ta! Cần có những Kitô hữu được soi sáng nhưng đặc biệt là sáng tỏ, những người có thể chạm đến sự mù loà của anh em mình bằng sự dịu dàng; những người bằng những cử chỉ và lời an ủi có thể thắp lên ánh sáng hy vọng nơi bóng tối; những Kitô hữu gieo mầm Tin Mừng trên cánh đồng khô cằn của cuộc sống hàng ngày; những người có khả năng mang lại sự xoa dịu cho nỗi cô đơn của đau khổ và đói nghèo.
Chúa Giêsu cũng đi qua các đường phố Sýp, Người lắng nghe tiếng kêu của sự mù lòa của chúng ta, Người muốn chạm vào mắt chúng ta và trái tim của chúng ta, mang lại cho chúng ta ánh sáng, sự tái sinh và nâng chúng ta lên từ bên trong. Và Người cũng hỏi chúng ta câu hỏi mà Người đã hỏi hai người mù: “Các anh có tin là tôi làm được điều ấy không?” (Mt 9,28). Chúng ta có tin rằng Chúa Giê-su có thể làm được điều này không? Chúng ta hãy làm mới lại đức tin của chúng ta vào Người! Chúng ta hãy nói với Người: Lạy Chúa Giêsu, chúng con tin rằng ánh sáng của Chúa mạnh mẽ mọi bóng tối của chúng con; chúng con tin rằng Ngài có thể chữa lành chúng con, rằng Ngài có thể làm mới tình huynh đệ của chúng con, rằng Ngài có thể làm cho niềm vui của chúng con được nhân lên; và cùng với toàn thể Giáo hội, chúng con cầu xin Chúa: Lạy Chúa Giêsu, xin hãy đến!
Đức Thánh Cha mời gọi các tín hữu cùng lặp lại với ngài: “Lạy Chúa Giêsu, xin hãy đến!”
Lời chào cuối lễ
Vào cuối thánh lễ, Đức Thánh Cha đã cảm ơn và chào các tín hữu về sự chào đón và tình cảm dành cho ngài. Ngài nói: “Tại đây ở Sýp, tôi đang hít thở một chút bầu khí đặc trưng của Vùng đất Thánh, nơi sự cổ kính và sự đa dạng của các truyền thống Kitô giáo làm phong phú cho người hành hương. Tôi thật vui, thật vui được gặp cộng đoàn tín hữu sống hiện tại với niềm hy vọng, mở ra với tương lai và chia sẻ chân trời này với những người cần nhất. Đặc biệt, tôi nghĩ đến những người di cư để tìm kiếm một cuộc sống tốt đẹp hơn, những người mà tôi sẽ có một cuộc gặp cuối cùng trên đảo này, cùng với các anh chị em thuộc các giáo phái Kitô khác nhau.”
Đức Thánh Cha cũng cảm ơn tất cả những người đã cộng tác trong việc tổ chức chuyến thăm!
Kết thúc Thánh Lễ, ĐTC trở về Toà Sứ Thần cách đó gần 8km để nghỉ trưa. Chương trình buổi chiều bắt đầu vào lúc 4 giờ, với buổi cầu nguyện đại kết với những người di cư tại Nhà thờ giáo xứ Thánh Giá ở Nicosia.
Văn Yên, SJ
