2021
Diễn từ khai mạc Thượng Hội đồng Giám mục Thế giới XVI của Đức Giáo hoàng Phanxicô
DIỄN TỪ KHAI MẠC THƯỢNG HỘI ĐỒNG GIÁM MỤC THẾ GIỚI XVI CỦA ĐỨC GIÁO HOÀNG PHANXICÔ
Vatican, ngày 09/10/2021
Anh chị em thân mến,
Cảm ơn anh chị em đã có mặt ở đây để khai mạc Thượng Hội đồng. Anh chị em đã đến từ nhiều con đường khác nhau và từ nhiều Hội Thánh khác nhau, mỗi người mang theo trong mình những thắc mắc và hy vọng. Tôi chắc chắn rằng Chúa Thánh Thần sẽ hướng dẫn chúng ta và ban cho chúng ta ân sủng để cùng nhau tiến về phía trước, lắng nghe nhau và bắt tay vào việc phân định về thời đại mà chúng ta đang sống, trong sự liên đới với những khó khăn và khát vọng của toàn thể nhân loại. Tôi muốn nhắc lại rằng Thượng Hội đồng không phải là một nghị trường hay một cuộc thăm dò ý kiến; Thượng Hội đồng là một biến cố mang tính Hội Thánh và nhân vật chính của nó là Chúa Thánh Thần. Nếu Chúa Thánh Thần không hiện diện, sẽ không có Thượng Hội đồng.
Ước gì chúng ta trải nghiệm Thượng Hội Đồng này theo tinh thần lời cầu nguyện sốt sắng của Chúa Giêsu với Chúa Cha nhân danh các môn đệ Người: “Để tất cả nên một” (Ga 17,21). Vì điều này mà chúng ta được mời gọi: hiệp nhất, hiệp thông, huynh đệ là những điều nảy sinh từ việc nhận thức rằng tất cả chúng ta đều được bao phủ bởi tình yêu duy nhất của Thiên Chúa. Tất cả chúng ta, không có sự phân biệt, và đặc biệt chúng ta, những mục tử, như Thánh Cyprianô đã viết: “Chúng ta phải duy trì và giữ vững sự hiệp nhất này, trên hết là chính chúng ta, các giám mục, những người lãnh đạo trong Hội Thánh, để chứng tỏ rằng giám mục đoàn tự thân là một và không bị chi rẽ” (De Ecclesiae Catholicae Unitate, 5). Do đó, trong Dân duy nhất của Thiên Chúa, chúng ta hãy cùng nhau tiến bước, để kinh nghiệm về một Hội Thánh đón nhận và sống ơn huệ hiệp nhất này, và mở ra với tiếng nói của Chúa Thánh Thần.
Thượng Hội đồng có ba từ chìa khóa: hiệp thông, tham dự và sứ vụ. Hiệp thông và sứ vụ là những thuật ngữ thần học diễn tả mầu nhiệm Hội Thánh, mà chúng ta cần ghi nhớ. Công đồng Vaticanô II đã dạy cách rõ ràng rằng sự hiệp thông diễn tả chính bản chất của Hội Thánh, đồng thời, khẳng định rằng Hội Thánh đã nhận “sứ vụ rao truyền và thiết lập giữa mọi dân tộc vương quốc của Chúa Kitô và của Thiên Chúa, và Hội Thánh là mầm và sự khởi đầu của vương quốc ấy trên trần gian” (Lumen Gentium, 5). Với hai từ này, Hội Thánh chiêm ngưỡng và noi gương đời sống Thiên Chúa Ba Ngôi, mầu nhiệm hiệp thông ad intra (nội tại) và nguồn mạch của sứ vụ ad extra (ngoại tại). Sau một thời gian suy tư về giáo lý, thần học và mục vụ vốn là một phần của việc tiếp nhận Công đồng Vaticanô II, Thánh Phaolô VI đã tìm cách khai triển hai hạn từ này – hiệp thông và sứ vụ – “là những đường lối chính yếu do Công đồng phát biểu.” Khi kỷ niệm việc khai mạc Công đồng, ngài tuyên bố rằng đường lối chính của Công đồng quả thực là “sự hiệp thông, nghĩa là, sự gắn bó và viên mãn nội tâm, trong ân sủng, sự thật và sự cộng tác… và sứ vụ, tức là sự dấn thân tông đồ cho thế giới ngày nay” (Angelus, ngày 11 tháng 10 năm 1970), nó không phải là sự dụ dỗ cải đạo.
Năm 1985, khi kết thúc Thượng Hội đồng đánh dấu kỷ niệm hai mươi năm kết thúc Công đồng, Thánh Gioan Phaolô II cũng nhắc lại rằng bản chất của Hội Thánh là koinonia (hiệp thông), điều này làm phát sinh sứ vụ phục vụ của Hội Thánh như một dấu chỉ sự hiệp nhất mật thiết của gia đình nhân loại với Thiên Chúa. Ngài còn nói: “Thật là hữu ích nhất khi Hội Thánh cử hành các Thượng hội đồng thường lệ, đặc biệt, cũng như ngoại thường.” Những cử hành này cần phải được chuẩn bị chu đáo nếu muốn có kết quả: “Điều cần thiết là các Hội Thánh địa phương phải thực hiện sự chuẩn bị của mình với sự tham gia của tất cả mọi người” (Diễn văn Kết thúc Phiên họp ngoại thường lần thứ II của Thượng Hội đồng Giám mục, ngày 7 tháng 12 năm 1985). Và điều này đưa chúng ta đến hạn từ thứ ba: tham gia. Các từ “hiệp thông” và “sứ vụ” có thể có nguy cơ còn hơi trừu tượng, trừ khi chúng ta trau dồi một sự thực hành mang tính Hội Thánh thể hiện tính cụ thể của tính hiệp hành ở mọi bước của cuộc hành trình và hoạt động của chúng ta, khi khuyến khích sự tham gia thực sự của mỗi người và tất cả mọi người. Tôi có thể nói rằng việc cử hành một Thượng Hội đồng luôn luôn là một điều tốt đẹp và quan trọng, nhưng nó thực sự có lợi nếu nó trở thành một sự diễn tả sống động “việc thuộc về Hội Thánh”, một cách hành động được đánh dấu bằng sự tham gia thực sự.
Đây không phải là vấn đề thuộc hình thức, mà là thuộc niềm tin. Việc tham gia là một đòi hỏi của đức tin nhận được trong phép Rửa Tội. Như Tông Đồ Phaolô nói: “Chúng ta đều đã chịu phép rửa trong cùng một Thần Khí để trở nên một thân thể. Tất cả chúng ta đã được đầy tràn một Thần Khí duy nhất” (1 Cr 12,13). Trong Hội Thánh, mọi thứ đều khởi đi từ phép Rửa Tội. Là nguồn gốc sự sống của chúng ta, Phép Rửa làm phát sinh phẩm giá bình đẳng của con cái Thiên Chúa, mặc dù có sự khác biệt của các thừa tác vụ và đặc sủng. Do đó, tất cả những người đã được rửa tội đều được mời gọi tham gia vào đời sống và sứ vụ của Hội Thánh. Nếu không có sự tham gia thực sự của Dân Chúa, nói về hiệp thông có nguy cơ chỉ còn là một ước vọng đạo đức. Về vấn đề này, chúng ta đã tiến hành một số bước, nhưng vẫn còn một số khó khăn nhất định và chúng ta phải thừa nhận sự thất vọng và mất kiên nhẫn được cảm nhận bởi những người làm công tác mục vụ, những thành viên của các tổ chức của giáo phận và giáo xứ và bởi phụ nữ là những người thường xuyên còn ở ngoài rìa. Việc cho phép mọi người tham gia là một bổn phận thiết yếu của Hội Thánh! Tất cả những người đã được rửa tội, vì Phép Rửa là thẻ căn cước của chúng ta.
Trong khi cung cấp một cơ hội tuyệt vời để hoán cải mục vụ theo chiều hướng truyền giáo và đại kết, Thượng Hội đồng không được miễn trừ khỏi một số nguy cơ nhất định. Tôi sẽ đề cập đến ba trong số những điều này. Đầu tiên là chủ nghĩa duy hình thức (formalismo). Thượng Hội đồng có thể bị giảm thiểu thành một sự kiện ngoại thường, nhưng chỉ diễn ra bên ngoài; giống như việc chiêm ngưỡng mặt tiền tráng lệ của một nhà thờ mà không bao giờ thực sự bước vào bên trong. Mặt khác, Thượng Hội Đồng là một tiến trình phân định thuộc linh đích thực mà chúng ta thực hiện, không phải để chiếu lên hình ảnh tốt đẹp của chính chúng ta, nhưng để hợp tác hiệu quả hơn với công trình của Thiên Chúa trong lịch sử. Nếu chúng ta muốn nói về một Hội Thánh hiệp hành, chúng ta không thể chỉ thoả mãn với vẻ bề ngoài; chúng ta cần nội dung, phương tiện và cấu trúc có thể tạo điều kiện thuận lợi cho việc đối thoại và tương tác trong Dân Chúa, đặc biệt là giữa các linh mục và giáo dân.
Tại sao tôi nhấn mạnh vào điều này? Bởi vì đôi khi có thể có một thứ giai cấp ưu tú nào đó (elitismo) trong chức linh mục khiến họ tách rời khỏi giáo dân; cuối cùng linh mục trở thành một “ông chủ” hơn là một mục tử của toàn thể cộng đoàn đang tiến bước. Điều này sẽ đòi hỏi phải thay đổi một số tầm nhìn về Hội Thánh chỉ từ trên xuống, méo mó và cục bộ, về chức vụ linh mục, vai trò giáo dân, trách nhiệm Hội Thánh, vai trò quản trị, v.v…
Nguy cơ thứ hai là chủ nghĩa duy tri thức (intellectualismo). Thực tại biến thành trừu tượng và với những suy nghĩ của mình, cuối cùng chúng ta lại đi theo hướng ngược lại. Điều này sẽ biến Thượng Hội đồng thành một loại nghiên cứu nhóm, đưa ra những cách tiếp cận uyên bác nhưng trừu tượng đối với các vấn đề của Hội Thánh và những xấu xa trong thế giới chúng ta. Những người bình thường nói những điều bình thường, chạy theo bề ngoài và trần tục, cuối cùng lại rơi vào những chia rẽ về ý thức hệ và đảng phái và không có tính thuyết phục, xa rời khỏi thực tại của Dân Chúa thánh thiện và đời sống cụ thể của các cộng đoàn trên khắp thế giới.
Cuối cùng là cám dỗ không muốn thay đổi (immobilismo), như người ta nói rằng: “Lúc nào chúng tôi cũng làm như thế” (Evangelii Gaudium, 33) và tốt hơn là không nên thay đổi. Câu nói “lúc nào chúng tôi cũng làm như thế” là liều thuốc độc cho đời sống của Hội Thánh. Những ai đi theo cách này, cả khi không hề ý thức, là đang rơi vào sai lầm khi không coi trọng thời đại mà chúng ta đang sống. Rút cuộc, nguy hiểm là áp dụng các giải pháp cũ cho các vấn đề mới. Vải mới vá vào áo cũ tạo thành vết rách nặng hơn (x. Mt 9,16). Vì thế, điều quan trọng là tiến trình hiệp hành phải chính xác là thế này: một tiến trình trở nên, một tiến trình liên quan đến các Hội Thánh địa phương, trong các giai đoạn khác nhau và từ dưới lên, trong một nỗ lực thú vị và hấp dẫn có thể tạo nên một phong cách hiệp thông và tham gia hướng đến sứ vụ.
Và vì vậy, thưa anh chị em, chúng ta hãy cảm nghiệm khoảnh khắc gặp gỡ, lắng nghe và suy tư này như một mùa ân sủng, trong niềm vui của Tin Mừng, cho phép chúng ta nhận ra ít nhất ba cơ hội. Đầu tiên, đó là việc cùng nhau tiến bước không phải cách ngẫu nhiên nhưng thuộc cấu trúc hướng tới một Hội Thánh hiệp hành, một quảng trường mở, nơi tất cả mọi người có thể cảm nhận như nhà mình và tham gia. Sau đó, Thượng Hội đồng cho chúng ta cơ hội để trở thành một Hội Thánh biết lắng nghe, thoát ra khỏi thói quen và tạm dừng các mối quan tâm mục vụ của chúng ta để dừng lại và lắng nghe. Để lắng nghe Thánh Thần trong sự tôn thờ và cầu nguyện. Ngày hôm nay chúng ta thiếu việc cầu nguyện tôn thờ biết bao; rất nhiều người đã đánh mất không chỉ thói quen mà còn cả ý tưởng về ý nghĩa của việc thờ phượng Thiên Chúa! Lắng nghe các anh chị em của chúng ta nói về hy vọng của họ và về những khủng hoảng đức tin hiện diện ở những nơi khác nhau trên thế giới, về nhu cầu canh tân của một đời sống mục vụ và về những tín hiệu mà chúng ta đang nhận được từ những người trên mặt đất. Cuối cùng, Thượng Hội đồng cung cấp cho chúng ta cơ hội để trở thành một Hội Thánh gần gũi. Chúng ta hãy tiếp tục trở lại “phong cách” riêng của Thiên Chúa, đó là gần gũi, thương xót và dịu dàng. Thiên Chúa luôn hành động theo cách đó. Nếu chúng ta không trở thành Hội Thánh gần gũi này với thái độ thương xót và dịu dàng, chúng ta sẽ không phải là Hội Thánh của Chúa. Không chỉ bằng lời nói, mà bằng một sự hiện diện có thể dệt nên những mối dây bằng hữu đẹp hơn với xã hội và thế giới. Một Hội Thánh không xa cách với cuộc sống, nhưng dìm mình trong các vấn đề và nhu cầu của ngày nay, băng bó vết thương và chữa lành những trái tim tan vỡ bằng sự an ủi của Thiên Chúa. Chúng ta đừng quên phong cách của Thiên Chúa, phong cách này phải giúp chúng ta: gần gũi, thương xót và dịu dàng.
Anh chị em thân mến, ước gì Thượng Hội đồng này trở thành một thời gian cư ngụ của Thánh Thần! Vì chúng ta cần Chúa Thánh Thần, hơi thở luôn luôn mới mẻ của Thiên Chúa, Đấng giải thoát chúng ta khỏi mọi sự khép kín, làm sống lại những gì đã chết, tháo cởi xiềng xích và lan tỏa niềm vui. Chúa Thánh Thần là Đấng hướng dẫn chúng ta đến nơi mà Thiên Chúa muốn chúng ta đến, chứ không phải đến nơi mà ý tưởng và sở thích cá nhân của chúng ta sẽ dẫn chúng ta đến. Về ký ức thánh thiện, linh mục Congar đã nhắc nhở rằng: “Không cần thiết phải tạo ra một Hội Thánh khác, nhưng phải tạo ra một Hội Thánh khác biệt” (True and False Reform in the Church). Đó là thách đố. Hướng tới một “Hội Thánh khác”, một Hội Thánh mở ra với sự mới mẻ mà Thiên Chúa muốn đề nghị, với lòng nhiệt thành và như thường lệ, chúng ta hãy cầu khẩn Chúa Thánh Thần và khiêm tốn lắng nghe Người, đồng hành cùng nhau, như Người, nguồn của sự hiệp thông và sứ vụ, mong muốn: với sự ngoan ngùy và can đảm.
Lạy Chúa Thánh Thần xin hãy đến! Ngài là Đấng phát sinh ngôn ngữ mới mẻ và xin hãy đặt trên môi miệng chúng con những lời sự sống. Xin đừng để chúng con trở thành một “Hội Thánh bảo tàng,” xinh đẹp nhưng câm lặng, với nhiều quá khứ nhưng ít tương lai. Xin hãy đến với chúng con, để trong kinh nghiệm hiệp hành này, chúng con không đánh mất sự nhiệt tình của mình, làm mất đi sức mạnh của lời ngôn sứ, hoặc sa vào những cuộc thảo luận vô ích và không có kết quả. Xin hãy đến, lạy Thánh Thần tình yêu, xin hãy mở rộng trái tim chúng con để lắng nghe! Xin hãy đến, lạy Thánh Thần thánh thiện, xin đổi mới Dân Chúa thánh thiện và trung thành! Hỡi Thánh Thần Sáng Tạo, xin hãy đến, xin đổi mới bộ mặt của trái đất! Amen.
Chuyển ngữ: Lm. Phêrô Nguyễn Văn Hương
2021
Cựu tù nhân Menci Gezim và tình liên đới với những người bạn tù khác
Cựu tù nhân Menci Gezim và tình liên đới với những người bạn tù khác
Menci Gezim, 33 tuổi, người Albania, đã phải ngồi tù vì những tội nghiêm trọng. nhưng Nhờ Caritas Giáo phận Prato của Ý, và Ngôi nhà Jacques Fesch, hiện nay Menci Gezim là một doanh nhân, một người chồng và người cha. Trong công ty của cựu tù nhân này, có 3 nhân viên cũng từng là tù nhân như anh.
Ngày 16/11 vừa qua, trong chuyên mục tin vui của tờ Người đưa tin chiều của Ý, có một câu chuyện thúc đẩy mọi người sống lạc quan và khuyến khích độc giả tiếp tục tin tưởng vào sức mạnh của tình liên đới. Đó là câu chuyện về một thanh niên 33 tuổi người Albania, Menci Gezim, anh đã phải ngồi tù 10 năm, gần một phần ba cuộc đời vì những tội nghiêm trọng, nhưng đã nỗ lực không ngừng để chuộc lại lỗi lầm và đưa ra một hướng đi mới cho sự hiện hữu của mình trong thế giới này.
Khi nói về sự phục hồi của người trẻ này, không thể không nói đến Caritas của Giáo phận Prato và Ngôi nhà Jacques Fesch, là những nơi đã đón tiếp và hỗ trợ Menci Gezim trong một thời gian.
Ngôi nhà Jacques Fesch là một trung tâm thường xuyên chào đón các tù nhân đã mãn hạn tù, giúp họ phục hồi cuộc sống, và cũng là nơi trú ngụ qua đêm dành cho gia đình và người thân của các tù nhân từ xa đến thăm họ.
Trung tâm đón tiếp được đặt tên là Jacques Fesch, là tên của một người Pháp đã phạm nhiều tội, bị kết án tử và bị hành quyết vào ngày 01/10/1957, nhưng năm 1993, Giáo phận Paris đã quyết định mở án phong chân phước cho tử tù này.
Jacques là hiện thân của tội nhân thời hiện đại. Ông từng có một cuộc sống phóng túng, gia đình có nhiều vấn đề, đã kết hôn nhưng thường xuyên lừa dối vợ, có con riêng và cuối cùng chia tay với vợ. Từ đó, cuộc đời của Jacques càng lún sâu trong vũng bùn với nhiều tội. Năm 1954, trong khi tấn công một người để lấy tiền, ông bị phát hiện và trong lúc tìm cách tẩu thoát ông đã giết một người cảnh sát. Ông bị kết án tử và trong thời gian chờ đợi thi hành án ông đã gặp được một linh mục tuyên uý. Lúc đầu ông tự nhận mình là người vô thần, nhưng từng bước ông đã mở lòng ra với vị tuyên uý. Linh mục đã trao cuốn sách của thánh Têrêsa Hài Đồng Giêsu, trong đó kể lại việc thánh nữ đã cầu nguyện cho tử tù và người này đã được ơn trở lại trước khi bị hành quyết. Jacques đọc câu chuyện này, suy niệm và say mê Chúa Giêsu. Ông viết: “Tôi có một cơn đau dữ dội nơi tâm hồn và trong vài giờ sau đó, tôi cảm nhận mình có đức tin, một sự chắc chắn tuyệt đối. Tôi đã tin và tôi không hiểu tại sao trước đây mình không tin. Chúa Giêsu đã đến thăm tôi và một niềm vui lớn đã chiếm hữu tôi, trên hết là một sự bình an lớn lao. Trong phút chốc mọi thứ trở nên nhẹ nhàng. Đó là một niềm vui rất mạnh mẽ”.
Từ thời điểm đó, một cuộc hoán cải ấn tượng bắt đầu, ông xưng tội, rước lễ mỗi ngày. Jacques viết cho học sinh của ông, kể lại ơn hoán cải và từ đó trở thành “tông đồ” của các học sinh một cách đáng kinh ngạc. Sau đó ông trở lại với người vợ, xin lỗi bà và nói với bà rằng ông cảm thấy có Chúa ở bên cạnh. Ông đã trở thành một người đàn ông khác.
Vài giờ trước khi bị thi hành án tử, ông viết câu cuối cùng trong nhật ký: “Tôi chờ đợi trong đêm và trong cảm nhận bình an. Tôi chờ đợi Tình yêu”.
Trở lại câu chuyện của Menci Gezim. Anh đến trung tâm Jacques Fesch vào năm 2017 khi vừa được mãn hạn tù, và trong lúc đó ngôi nhà đang được trùng tu, thế là tại đây anh theo học thợ nề.
Anh đã sống ở đó sáu tháng, và được một tình nguyện viên đến từ một hiệp hội giúp đỡ. Những người như anh khi ra tù phải bắt đầu lại từ đầu. Thực tế, anh không có giấy tờ cá nhân, không gia đình, không việc làm, không một nơi nào để đi. Theo thống kê, trong trường hợp không có cơ hội, cứ 3 người mãn hạn tù thì có 2 người quay trở lại con đường phạm pháp, và Menci không thể không biết điều này. Nhờ sự tin tưởng và ủng hộ nhận được, anh đã theo một cách khác.
Từng bước, tay nghề của anh được nâng cao. Anh lập gia đình, cùng với vợ anh đã quyết định thành lập công ty riêng. Hiện nay trong số công nhân của anh có ba người cũng có quá khứ giống anh, từng phải thụ án tù vì những tội phạm nghiêm trọng.
Câu chuyện của Menci và của ông Jacques cho thấy những mảnh đời có khứ đen tối, nhưng với ơn Chúa và nỗ lực không ngừng cùng với sự hỗ trợ của mọi người thì tương lai vẫn có thể mở ra tươi sáng. Chính Đức Thánh Cha Phanxicô bày tỏ điều này, vào tháng 10 năm ngoái (2020), nhân cuộc gặp gỡ tại Nhà trọ Thánh Marta với một nhóm người đã sống trải nghiệm trong tù: “Trong cuộc sống, tất cả chúng ta đều phạm sai lầm nhưng điều quan trọng là không bao giờ ở mãi trong sai lầm. Trong cuộc sống, nhiều lần chúng ta tìm được một bàn tay giúp nâng chúng ta lên, chúng ta cũng phải làm điều đó với người khác”.
Ngọc Yến
2021
ĐTC mời gọi tín hữu Barcelona theo gương Mẹ Maria trong đức tin và đức ái
ĐTC mời gọi tín hữu Barcelona theo gương Mẹ Maria trong đức tin và đức ái
Trong sứ điệp video nhân lễ khánh thành Tháp Đức Mẹ Đồng trinh ở đền thờ Sagrada Familia – Thánh Gia – ở Tây Ban Nha, Đức Thánh Cha Phanxicô khuyến khích các tín hữu của Tổng giáo phận Barcelona noi gương Đức Mẹ, “Ngôi sao của việc tái tuyền giảng Tin Mừng.”
Trong lễ khánh thành Tháp Đức Mẹ, một ngôi sao khổng lồ 12 cánh nặng khoảng 5,5 tấn được treo trên đỉnh tháp sẽ được thắp sáng.
Trong sứ điệp Đức Thánh Cha bày tỏ sự hiệp nhất với các tín hữu giáo phận Barcelona trong ngày lễ. Ngài cũng gửi lời chào cách đặc biệt tới những người nghèo nhất của thành phố, những người bệnh, những người bị ảnh hưởng bởi đại dịch Covid-19, những người già và người trẻ, những người vì nhiều hoàn cảnh khác nhau mà thấy tương lai của họ bị tổn hại, những người đang trải qua những khoảnh khắc thử thách.
“Ngôi sao của việc tái loan báo Tin Mừng”
Nói rằng Đức Maria là “Ngôi sao của việc tái loan báo Tin Mừng”, Đức Thánh Cha mời gọi các tín hữu khi ngước mắt nhìn lên ngôi sao trên đỉnh tháp, hãy chiêm ngắm Mẹ của chúng ta, “bởi vì mỗi khi nhìn lên Mẹ Maria, chúng ta lại tin vào sức mạnh đổi mới của sự dịu dàng và trìu mến” (Evangelii gaudium, số 288 ).
Gương đức tin
Đức Maria Vô nhiễm nguyên tội đã hòa hợp hoàn hảo với kế hoạch của Thiên Chúa dành cho Mẹ và trở thành người thánh thiện và khiêm nhường nhất, vâng lời và trong sáng trước mặt Chúa. Do đó, theo Đức Thánh Cha, kiến trúc sư Gaudi muốn mầu nhiệm Mẹ Vô nhiễm nguyên tội bao phủ cánh cửa đức tin, “để khi đọc lời cầu nguyện với Chúa Ba Ngôi, được ông viết trong khắp đền thờ, chúng ta học cách giống như Mẹ Maria, trở thành đền thờ của mầu nhiệm này, và thờ phượng Thiên Chúa trong tinh thần và sự thật.”
Gương đức ái
Đức Mẹ trao tặng cho chúng ta Hài Nhi Giêsu, vì thế kiến trúc sư Gaudi đặt Mẹ ở trung tâm của cửa đức ái, để khi vào đền thờ, các tín hữu nhiệt thành với tình yêu Chúa và tha nhân. Đức Thánh Cha khuyến khích các tín hữu noi gương Đức Trinh Nữ Maria bằng những cử chỉ yêu thương và phục vụ hàng ngày. Ngài cầu xin ngôi sao của Mẹ Maria từ hôm nay soi sáng cho các tín hữu để khi đọc kinh Mân Côi họ thưa vâng với ơn Chúa và nói không với tội lỗi.
Cầu nguyện cho các gia đình, người có trách nhiệm, người nghèo và người bị loại trừ
Đức Thánh Cha cũng cầu nguyện cho những người có trách nhiệm lớn hơn để nhờ Mẹ, họ có sự khôn ngoan và sẵn sàng trong phục vụ và có tầm nhìn rộng lớn. Ngài xin Mẹ Maria gìn giữ các gia đình, các ngôi nhà, trường học, đại học, công sở, bệnh viện, nhà tù. Ngài cũng xin ánh sao từ tháp Đức Mẹ soi sáng để biến Kế hoạch Mục vụ của Giáo phận thành hiện thực, làm rạng rỡ niềm vui Tin Mừng khắp nơi.
Đền thờ La Sagrada Familia – Thánh Gia – ở Barcelona do kiến trúc sư Antoni Gaudi thiết kế và được khởi công xây dựng từ năm 1882 nhưng vẫn chưa hoàn tất. Ngày 7/11/2010 Đức nguyên Giáo hoàng Biển Đức XVI đã thánh hiến đền thờ. Đền thờ là điểm du lịch hàng đầu của thành phố Barcelona và trong năm 2019 đã có khoảng 4,5 triệu khách thăm viếng. (CSR_7829_2021)
Đền thờ Thánh gia ở Barcelona
Thắp sáng ngôi sao trên tháp Đức Mẹ.
Hồng Thủy
2021
ĐTC Phanxicô thăm Cộng đoàn Cenacolo
ĐTC Phanxicô thăm Cộng đoàn Cenacolo
Chiều thứ Tư, 08/12, Đức Thánh Cha đã đến thăm Cộng đoàn Cenacolo của Cộng đoàn Người Samari Nhân hậu ở Roma. Ngài khuyến khích các tình nguyện viên và những người được Cộng đoàn tiếp đón không sợ thực tế, sự thật và những nỗi khốn khổ của chúng ta.
Cộng đoàn Cenacolo do sơ Elvira Petrozzi người Ý thành lập vào năm 1983. Theo sự hướng dẫn của Chúa Thánh Thần và để đáp ứng nhu cầu giúp đỡ các thanh niên bị nghiện ma tuý đang bơ vơ trong cuộc sống, sơ Elvira đã cống hiến trọn cuộc đời để giúp họ có thể tìm được niềm vui trong Chúa Kitô và tìm lại được ý nghĩa thật của cuộc đời.
Cộng đoàn Cenacolo trở nên một nguồn hy vọng và tái sinh cho rất nhiều người trẻ qua việc lao động và cầu nguyện. Cho đến nay đã có hơn 71 cộng đoàn ở trên 20 quốc gia trên thế giới.
Ông Matteo Bruni, Giám đốc Phòng Báo chí Tòa Thánh cho biết: “Khoảng 4 giờ 30 chiều thứ Tư, Đức Thánh Cha đã đến Cộng đoàn Cenacolo. Tại đây, ngài được đón tiếp bởi khoảng 25 anh chị em của Cộng đoàn Người Samari Nhân hậu, hiện có mặt tại Roma, và những người khác đến từ một số cộng đoàn rải rác khắp nước Ý”.
Sau khi xem một vở kịch về cuộc đời Thánh Giuse, do các vị khách trẻ của hai cộng đoàn ở Mễ Du thực hiện, và nghe một số câu chuyện về sự chào đón và tái sinh mà các thành viên của Cộng đoàn đã trải nghiệm, Đức Thánh Cha đã nói lời cám ơn Cộng đoàn Cenacolo và khuyến khích hành trình của những người trẻ này. Ngài nói: “Đừng sợ thực tế, sự thật và những nỗi khốn khổ của chúng ta. Đừng sợ vì Chúa Giêsu thích thực tế như nó vốn có, không giả mạo. Chúa không thích người trang điểm tâm hồn”.
Cuối cùng, Đức Thánh Cha khuyến khích: “Các con hãy giúp đỡ nhiều bạn trẻ có hoàn cảnh như các con. Các con hãy can đảm nói: Hãy nghĩ rằng có một cách tốt hơn”.
Giám đốc Phòng Báo chí Tòa Thánh cho biết thêm, trong khi thăm Cộng đoàn, Đức Thánh Cha đã chào hỏi những người hiện diện và đặc biệt dừng lại để làm phép nhà nguyện, do chính các thành viên xây dựng bằng sự sáng tạo và từ những đồ phế liệu. Nhà nguyện cũng là dấu hiệu cho thấy sự đổi mới cuộc sống của mọi người trong Cộng đoàn Cenacolo. Sau đó, Đức Thánh Cha cầu nguyện cùng với mọi người bằng lời cầu nguyện dâng kính Thánh Giuse có trong Tông thư Patris Corde, giao phó thế giới và Giáo hội cho sự bảo vệ của Thánh Giuse, và do đó kết thúc Năm Thánh Giuse.
Ngọc Yến
