2022
Tiến trình tuyên phong chân phước và phong thánh thế nào ?
Tiến trình tuyên phong chân phước và phong thánh thế nào ?


Quảng trường Vatican (vaticannews)
Các thành viên của Giáo hội có thể đạt tới sự thánh thiện
Mọi tín hữu đều được mời gọi nên thánh (Lumen Gentium). Ngay từ ban đầu Giáo hội đã cảm thấy cần nhìn nhận những chứng tá gương mẫu và chính thức nhìn nhận sự trung thành của họ với sứ điệp Tin Mừng. Việc Giáo hội chính thức nhìn nhận sự thánh thiện của một cá nhân Kitô hữu là một truyền thống có từ lâu đời. Ngay từ những ngày đầu của Giáo hội, khi có tin loan truyền về một vị tử đạo nào đó, hay về một ai đó đã sống Tin Mừng cách gương mẫu, họ được đề nghị như gương mẫu sống cho mọi người và là người cầu bầu trước mặt Chúa cho nhu cầu của các tín hữu. Có những tiến trình theo giáo luật và quy luật trong việc tuyên bố rằng một người là một vị thánh. Nhưng điều chính yếu và căn bản đó là: Giáo hội luôn luôn tin rằng các thành viên của Giáo hội có thể đạt tới sự thánh thiện và họ phải được biết đến và được đề xướng cho các tín hữu tôn kính cách công khai.
“Danh tiếng về sự thánh thiện”
Theo tiến trình của việc tuyên phong chân phước và phong thánh cho Các Tôi Tớ Chúa, Bộ Phong Thánh hỗ trợ các giám mục trong quá trình điều tra liên quan đến việc tử đạo hoặc việc dâng hiến mạng sống và các phép lạ của một tín hữu Công giáo, những người mà khi còn sống, khi sắp qua đời và cả sau khi qua đời, được xem là thánh thiện, hoặc do tử đạo hoặc do hiến dâng cuộc sống của họ. Trong mọi trường hợp, điều cần thiết là họ luôn có một “danh tiếng về sự thánh thiện” đích thực, lan rộng và lâu dài, hoặc được cộng đoàn Kitô giáo tin rằng họ đã sống một cuộc sống toàn diện, đã thực thi nhân đức Kitô giáo và cuộc sống của họ đã sinh hoa trái thiêng liêng.
Công việc của tập thể
Đằng sau việc tuyên bố một vị thánh là một sự dấn thân tập thể làm việc cần mẫn kéo dài hàng năm, đôi khi hàng thập kỷ. Tiến trình phức tạp này đòi hỏi sự tham dự của nhiều người với những kỹ năng khác nhau. Được ban hành vào năm 1983, các tiêu chuẩn mới quy định về Phong Thánh đã rút ngắn đáng kể thời gian cần thiết cho một quy trình tuyên phong chân phước và phong thánh. Trong quá khứ, cần phải đợi 50 năm sau khi vị Tôi Tớ Chúa qua đời thì mới bắt đầu nghiên cứu về cuộc đời, các đức tính hoặc sự tử đạo của họ. Ngày nay thì khác. Tuy nhiên, thời gian của án phong chân phước hay phong thánh phụ thuộc vào nhiều yếu tố: một số là yếu tố nội tại (sự phức tạp của chính con người các vị, hoặc của giai đoạn lịch sử mà họ đã sống); những yếu tố khác thuộc ngoại tại (sự sẵn sàng, sự chuẩn bị hoặc sẵn sàng của những người làm việc cho từng án phong: thỉnh nguyện viên, cộng tác viên bên ngoài, nhân chứng, v.v.).
Những người tham gia
Mỗi án phong có số người tham gia khác nhau: các nhân chứng cung cấp lời khai trong các giai đoạn của giáo phận có thể lên đến vài chục. Ngoài ra còn có một số đông những người khác và các chuyên gia tham gia. Mỗi quy trình tuyên phong chân phước và phong thánh đều có các bước riêng: điều tra, lấy lời khai, soạn thảo Positio – tập hồ sơ đúc kết, việc kiểm tra được tiến hành bởi các cố vấn thần học, và tùy theo án phong, có thể có các nhà cố vấn lịch sử. Sau đó, cần có thời gian để tham khảo ý kiến của các chuyên gia y tế khi có thể có phép lạ chữa lành bệnh cần kiểm tra. Sau khi hoàn thành tất cả và mỗi bước đều được chấp thuận, hồ sơ sẽ được trình bày trước phiên họp của các thành viên của Bộ Phong thánh. Một khi toàn bộ quá trình đã được kết thúc, Đức Giáo hoàng là người đưa ra quyết định cuối cùng. Vị Tổng trưởng Bộ Phong thánh đệ trình các án phong khác nhau để ngài chấp thuận.
Thực sự có rất nhiều án phong (hiện tại, các án đang được tiến hành ở Roma là gần 1.500, trong khi các án đang ở cấp giáo phận là hơn 600). Không phải tất cả các án phong đều có kết quả tích cực. Điều này cho thấy sự nghiêm túc của quá trình này. Tuy nhiên, điều này không có nghĩa là những người không được đề nghị cho các tín hữu tôn kính không phải là những người gương mẫu về chứng tá cuộc sống của họ.
Con số đông đảo các vị thánh: Sức sống của Giáo hội ở mọi thời đại
Con số rất nhiều lễ tuyên phong thánh và phong chân phước được Bộ Phong thánh đề xướng là một dấu chỉ cho thấy sức sống của Giáo hội ở mọi thời đại. Trong 50 năm vừa qua, nhờ tiến trình đơn giản hơn nên số người được đề nghị cho các tín hữu tôn kính cũng gia tăng. Họ đến từ mọi châu lục và thuộc mọi thành phấn Dân Chúa. Những lợi ích thiêng liêng và mục vụ trong 50 năm kể từ khi thành lập Bộ Phong Thánh (1969) là rất đặc biệt: tính đến cuối năm 2020, có tổng số 3.003 vị được chân phước và 1.479 vị thánh.
Thông thường Bộ Phong Thánh có hai Phiên họp thường lệ mỗi tháng và bốn án phong được xem xét trong mỗi phiên. Do đó, ước tính số án phong được hoàn tất mỗi năm là từ 80 đến 90. Dữ liệu này và các dữ liệu khác có thể được truy cập tại trang web của Bộ Phong thánh (http://www.causesanti.va/it.html), nơi cung cấp cho mọi người quyền truy cập dễ dàng và đầy đủ vào tất cả thông tin về Bộ Phong thánh và tiến trình phong thánh. Cho đến nay, ngoài các tài liệu và ấn phẩm chính, trang web còn chứa hơn một ngàn mục về các vị chân phước và các vị thánh của bảy triều đại Giáo hoàng cuối cùng, được bổ sung với các hình ảnh, các trích dẫn, tiểu sử, bài giảng, liên kết bên ngoài và tài liệu truyền thông đa phương tiện.
“Nhà máy sản xuất thánh”
Có một thành ngữ vui để gọi Bộ Phong thánh, đó là “nhà máy sản xuất thánh”. Theo Đức Hồng y Semeraro, cách diễn đạt này thậm chí có thể phát huy tác dụng, nếu nó được hiểu theo nghĩa tích cực, nghĩa là đó là nơi mà mọi người làm việc để có được sự trình bày nghiêm túc và trung thực về những người đáng được đề nghị là gương mẫu của sự thánh thiện. Mặc dù số lượng ứng viên khá nhiều, nhưng điều này không làm giảm đi tính chính xác, sâu sắc và thẩm quyền của Bộ Phong thánh.
Tiến trình
Bắt đầu với “danh tiếng về sự thánh thiện và các dấu hiệu” được nhận biết bởi dân Chúa, cuộc điều tra bắt đầu với giai đoạn đầu tiên trong giáo phận (tiến trình mở án, chứng từ và tài liệu được thu thập, một tòa án được thành lập với các chuyên gia thần học và lịch sử). Một khi án phong được gửi đến Roma, một tường trình viên được chỉ định cho án phong, vị này sẽ hướng dẫn thỉnh nguyện viên chuẩn bị tài liệu tổng hợp các bằng chứng thu thập được trong giáo phận để tái tạo lại chính xác cuộc sống của và chứng minh các nhân đức hoặc sự tử đạo của vị được đề nghị tuyên phong cũng như danh tiếng về sự thánh thiện của họ và các dấu hiệu của sự thánh thiện của vị Tôi tớ Chúa. Đây là Positio. Tập sách này sau đó sẽ được nghiên cứu bởi một nhóm các nhà thần học và, trong trường hợp của “án cổ xưa” (liên quan đến một ứng cử viên sống cách đây rất lâu và không có nhân chứng), cũng sẽ được nghiên cứu bởi một Ủy ban Lịch sử. Nếu những phiếu này là phiếu thuận, hồ sơ sẽ được đệ trình lên cho các Hồng Y và Giám mục của Thánh bộ phán quyết tiếp theo. Cuối cùng, nếu những vị này cũng đồng thuận, thì Đức Thánh Cha có thể cho phép ban hành Sắc lệnh về các nhân đức anh hùng hoặc tử đạo hoặc việc dâng hiến mạng sống của Tôi tớ Chúa; vị này sau đó trở thành Đấng Đáng kính. Vị này được công nhận là đã thực thi các nhân đức Kitô giáo (nhân đức hướng thần: tin, cậy và mến; các nhân đức trụ: khôn ngoan, công bình, can đảm và tiết độ; những nhân đức khác: nghèo khó, khiết tịnh, vâng lời, khiêm tốn, v.v.) đến mức độ “anh hùng”, hoặc đã trải qua một cuộc tử đạo đích thực, hoặc đã hy sinh mạng sống của mình theo các yêu cầu mà Bộ Phong thánh đã nêu ra.
Phong chân phước là giai đoạn trung gian trong tiến trình phong thánh. Nếu ứng viên được tuyên bố là tử đạo, vị đó sẽ trở thành Chân phước ngay lập tức, nếu không thì cần phải có phép lạ được công nhận nhờ sự chuyển cầu của ngài. Nói chung, phép lạ này là một sự chữa lành được một Ủy ban Y tế gồm các bác sĩ chuyên khoa, cả những người tin và không tin, xác nhận là không thể giải thích được về mặt khoa học. Đầu tiên, các cố vấn thần học và sau đó là chính các Hồng y và Giám mục của Bộ Phong Thánh cũng tuyên bố về những phép lạ này và Đức Thánh Cha cho phép ban hành sắc lệnh liên quan đến phép lạ. Để được phong thánh, nghĩa là để một người có thể được tuyên bố là một vị thánh, thì phải có một phép lạ thứ hai xảy ra sau lễ phong chân phước và được cho là nhờ sự chuyển cầu hiệu quả của Chân phước.
Chi phí
Dưới nhiều khía cạnh khác nhau, một án phong chân phước là một quá trình phức tạp và chi tiết. Do đó, có những chi phí nhất định liên quan đến công việc của các ủy ban, việc in ấn tài liệu, các cuộc họp của các chuyên gia (lịch sử và thần học có nhiệm vụ nghiên cứu tài liệu hoặc các bác sĩ khi có phép lạ). Bộ Phong thánh luôn chú ý đến việc giới hạn các chi phí để yếu tố kinh tế có thể không là trở ngại cho sự tiến triển của các án phong. Theo nghĩa này, các quy tắc hành chính được Đức Thánh Cha phê chuẩn vào năm 2016 đảm bảo sự quản lý minh bạch và thường xuyên. Được tài trợ bằng nhiều cách khác nhau, một “Quỹ Liên đới” do Bộ quản lý đã được thành lập cho những án phong có ít nguồn lực hơn. Bộ cũng đang nghiên cứu các cách hỗ trợ khác. Chi phí của Toà Thánh dành cho công việc này trong năm 2021 là khoảng 2 triệu euro.
2022
Hiệp hành là lối sống của Hội Thánh
HIỆP HÀNH LÀ LỐI SỐNG CỦA HỘI THÁNH
Đức TGM Giuse Nguyễn Năng
Toàn thể Dân Chúa khắp nơi đang tích cực thực hiện tiến trình của Thượng Hội Đồng Giám mục thế giới lần thứ 16 vào năm 2023, bắt đầu từ cấp giáo phận, với chủ đề : “Hướng tới một Hội Thánh hiệp hành : hiệp thông – tham gia – sứ vụ”. Để đi đúng hướng và đạt kết quả như Đức Thánh Cha Phanxicô mong đợi, cần xác định những điều thiết yếu, kẻo chúng ta lạc đường vì loay hoay với chữ nghĩa, lý thuyết, hay kỹ thuật thực hiện, hoặc bị chi phối bởi những bận tâm thái quá.
- Hiệp hành là một lối sống
Synodos được dịch là “hiệp hành”, tức là đi trên cùng một con đường, theo một ý nghĩa cụ thể nhất và mạnh nhất.
Một biểu lộ cụ thể về hiệp hành, đó là đời sống hôn nhân. Hai vợ chồng không chỉ đồng hành với nhau, mà đi trên cùng một con đường, kết hợp mật thiết với nhau, chia vui sẻ buồn trong mọi biến cố (hiệp thông), cùng nhau bàn bạc và gánh vác bổn phận theo vai trò riêng là chồng hoặc là vợ (tham gia), thi hành sứ vụ trong gia đình và xã hội (sứ vụ).
Trên bình diện cứu độ, Con Thiên Chúa làm người để hiệp hành chứ không chỉ đồng hành với nhân loại. Trong thời Cựu Ước, Thiên Chúa luôn đồng hành với Dân của Người. 400 năm nô lệ bên Ai Cập hoặc 70 năm lưu đày tại Babylon, hay vào những giai đoạn đau thương trong lịch sử, có bao giờ Thiên Chúa bỏ rơi Dân mình! Người vẫn theo sát Dân, tuy nhiên có thể nói Người vẫn ở trên cao, chưa đi trên cùng một con đường với Dân, chưa nói bằng tiếng nói của con người. Khi tới thời viên mãn, Con Thiên Chúa đã hiệp hành, thực sự trở nên một con người, đi trên cùng một con đường với nhân loại, nói tiếng nói của con người, mang lấy những yếu đuối khổ đau như con người, thậm chí chết đau thương hơn cả con người.
Trong diễn văn với 4 ngàn đại biểu của giáo phận Roma ngày 18/9/2021, Đức Thánh Cha giải thích hiệp hành là lối sống và hành động của Hội Thánh: “Đề tài hiệp hành, synodalità, không phải là một chương trong khảo luận Giáo hội học, và càng không phải là một kiểu thời trang, một khẩu hiệu hay một từ ngữ mới cần sử dụng hoặc lèo lái trong các cuộc gặp gỡ của chúng ta. Không phải vậy, hiệp hành biểu lộ bản chất của Hội Thánh, là cách thức, lối sống và sứ mạng của Hội Thánh”.
Trong thánh lễ khai mạc Thượng Hội Đồng tại Roma ngày 10/10/2021, Đức Thánh Cha nói: “Lời Chúa hướng dẫn Thượng Hội Đồng, ngăn không cho nó trở thành một hội nghị của Hội Thánh, một cuộc nghiên cứu học hỏi hay một hội nghị chính trị, một quốc hội, nhưng đúng hơn là một sự kiện đầy ân sủng, một tiến trình chữa lành được hướng dẫn bởi Chúa Thánh Thần”.
Các sinh hoạt trong giai đoạn chuẩn bị hoặc trong chính Thượng Hội Đồng không phải chỉ là một hội nghị bàn về chủ đề hiệp hành, nhưng thực chất là một bài tập thực hành để mọi thành phần Dân Chúa thực hiện lối sống hiệp hành.
Từ ngữ có thể là mới mẻ khó hiểu, nhưng đừng quên rằng sau từ “hiệp hành”, có hai chấm (:), nghĩa là dù không hiểu hết nội dung của từ “hiệp hành”, chỉ cần thực hiện được ba nội dung: hiệp thông, tham gia và sứ vụ, thì đã là đạt được mục tiêu rồi. Vì “hiệp hành” mang ý nghĩa như trên, nên ta hiểu tại sao không dịch là “đồng hành”, hoặc “đồng nghị”, quen thuộc và dễ hiểu hơn. Trong ngôn ngữ hiện nay, “đồng hành” (accompaniment) là cùng đi với nhau, nhưng có thể là không đi trên cùng một con đường: người ta có thể đồng hành online với một người ở xa. Còn “đồng nghị” lại nhấn mạnh tới việc cùng nhau thảo luận để đưa ra quyết định, chứ không nói tới chia sẻ cùng một sự sống.
- Lối sống hiệp hành trong Hội Thánh
Khi kêu gọi thực hiện lối sống hiệp hành, Đức Thánh Cha không làm gì khác hơn là triển khai Giáo hội học hiệp thông của Công đồng Vaticanô II, và sâu xa hơn, đó là đạo lý về Hội Thánh như một thân thể đã được thánh Phaolô diễn giải trong thư II Corintô.
Lối sống hiệp hành
Lối sống hiệp hành trong Hội Thánh được nêu lên ngay trong chủ đề của Thượng Hội Đồng : hiệp thông – tham gia – sứ vụ.
(1) Hiệp thông
“Có nhiều đặc sủng khác nhau, nhưng chỉ có một Thần Khí. Có nhiều việc phục vụ khác nhau, nhưng chỉ có một Chúa. Có nhiều hoạt động khác nhau, nhưng vẫn chỉ có một Thiên Chúa làm mọi sự trong mọi người… Ví như thân thể người ta chỉ là một, nhưng lại có nhiều bộ phận, mà các bộ phận của thân thể tuy nhiều, nhưng vẫn là một thân thể, thì Đức Kitô cũng vậy. Thật thế, tất cả chúng ta, dầu là Do Thái hay Hy Lạp, nô lệ hay tự do, chúng ta đều đã chịu phép rửa trong cùng một Thần Khí để trở nên một thân thể. Tất cả chúng ta đã được đầy tràn một Thần Khí duy nhất” (1 Cr 12, 4-6.12-13).
Tất cả mọi Kitô hữu, dù nhiều và đa dạng, nhưng hiệp thông sâu xa với nhau vì có chung một sự sống thần linh và làm nên một Hội Thánh duy nhất. Tất cả mọi Kitô hữu, do việc lãnh nhận bí tích rửa tội, dù là giáo sĩ, tu sĩ hay giáo dân, khác nhau về chức năng, nhưng xét về phẩm giá thì tất cả đều bình đẳng (x. LG 32). Để có sự hiệp thông, luôn phải giữ hai điều: tôn trọng sự khác biệt và duy trì hợp nhất. Sự hiệp thông là phẩm tính thiết yếu và là tiêu chuẩn hàng đầu để đánh giá mọi sinh hoạt trong Hội Thánh.
(2) Tham gia
“Chân không thể nói: “Tôi không phải là tay, nên tôi không thuộc về thân thể”. Tai không thể nói: “Tôi không phải là mắt, vậy tôi không thuộc về thân thể”. Giả như toàn thân chỉ là mắt, thì lấy gì mà nghe? Giả như toàn thân chỉ là tai, thì lấy gì mà ngửi? Giả như tất cả chỉ là một thứ bộ phận, thì làm sao mà thành thân thể được? Như thế, bộ phận tuy nhiều mà thân thể chỉ có một. Vậy mắt không thể bảo tay: “Tao không cần đến mày”; đầu cũng không thể bảo hai chân: “Tao không cần chúng mày” (1Cr 12, 15-21).
Một thân thể triển nở khỏe mạnh khi mọi chi thể hoạt động theo đúng chức năng của mình trong sự hài hòa của toàn thân. Tất cả mọi Kitô hữu đều có quyền và bổn phận tham gia vào sự tăng trưởng của Hội Thánh, tùy theo chức năng và đặc sủng Chúa ban cho mình, làm đúng và làm tròn vai trò của mình, đồng thời luôn tôn trọng vai trò của người khác. Trong Hội Thánh, không ai được thụ động hay dửng dưng; không ai là độc quyền; không ai bị loại trừ; không ai được coi thường vai trò của người khác, dù đó là một chi thể bé mọn nhất.
(3) Sứ vụ
“Thần Khí tỏ mình ra nơi mỗi người một cách, là vì ích chung. Người thì được Thần Khí ban cho ơn khôn ngoan để giảng dạy, người thì được Thần Khí ban cho ơn hiểu biết để trình bày. Kẻ thì được Thần Khí ban cho lòng tin; kẻ thì cũng được chính Thần Khí duy nhất ấy ban cho những đặc sủng để chữa bệnh. Người thì được ơn làm phép lạ, người thì được ơn nói tiên tri; kẻ thì được ơn phân định thần khí; kẻ khác thì được ơn nói các thứ tiếng lạ; kẻ khác nữa lại được ơn giải thích các tiếng lạ” (1Cr 12, 7-10).
Chúa Thánh Thần ban cho mỗi người một đặc sủng là để thi hành sứ vụ xây dựng Hội Thánh và Phúc Âm hóa thế giới. Sứ vụ trong Hội Thánh thì nhiều: rao giảng, thánh hóa, phục vụ, quản trị…, tùy theo Chúa Thánh Thần hoạt động nơi từng người, theo ơn gọi riêng và cách thế riêng của người ấy.
Ba việc cần làm
Để có được lối sống hiệp hành như thế, cần làm ba việc như Đức Kitô phục sinh đã làm đối với hai môn đệ trên đường Emmaus (x. Lc 24, 13-35). Ngài đã đến gặp gỡ và cùng đi với họ trên cùng một con đường. Chính Ngài gợi chuyện và lắng nghe tâm tư buồn phiền thất vọng của họ, sau đó Ngài cùng với họ đọc lại Kinh Thánh để phân định kế hoạch của Thiên Chúa. Sau khi nhận ra Chúa Phục sinh qua việc bẻ bánh, lòng họ đã bừng cháy, họ đổi chiều để đi ngược lại con đường vừa đi và trở về Giêrusalem loan báo Tin Mừng Phục sinh cho các Tông đồ. (x. Đức Kitô đang sống, ss. 236-237).
Trong bài giảng khai mạc Thượng Hội Đồng (10/10/2021), Đức Thánh Cha chỉ rõ có 3 việc cần làm:
(1) Gặp gỡ trực tiếp
Cần gặp gỡ trực tiếp, mặt đối mặt, nhìn vào nhau và chia sẻ lịch sử của cuộc đời từng người. Cuộc đời của ai đó có thể thay đổi chỉ bằng một cuộc gặp gỡ. Đức Giêsu đã không vội vã hoặc nhìn vào đồng hồ để kết thúc buổi họp. Cần dành thời gian cho việc gặp Chúa và gặp anh chị em, chứ đừng tập trung quá nhiều cho việc tổ chức các sự kiện hoặc suy tư lý thuyết về các vấn đề. Chúa muốn chúng ta từ bỏ những thói quen cũ. Mọi thứ sẽ thay đổi khi chúng ta có thể gặp gỡ Chúa và gặp gỡ nhau cách chân thành, không hình thức giả tạo, không tính toán, nhưng bằng con người thật của chúng ta.
(2) Lắng nghe
Để thực sự là cuộc gặp gỡ, cần biết lắng nghe. Đức Giêsu đã lắng nghe bằng con tim, với thái độ bình tĩnh và kiên nhẫn, chấp nhận mất thời gian, không vội đưa ra giải pháp có sẵn, chung chung. Chúng ta cần lắng nghe Chúa và lắng nghe nhau, đừng đóng cửa. Giám mục, linh mục, tu sĩ, giáo dân, – tất cả những người đã được rửa tội –, mỗi người đều có quyền nói và cũng có bổn phận lắng nghe. Tránh những phản ứng giả tạo, nông cạn và đưa ra những giải đáp được đóng gói sẵn. Chúa Thánh Thần yêu cầu chúng ta lắng nghe những thắc mắc, mối quan tâm và hy vọng của mọi thành phần Hội Thánh, của mọi người, mọi quốc gia, của thế giới.
(3) Phân định
Gặp gỡ và lắng nghe, nhưng không kết thúc ở đó và để lại mọi thứ như trước. Mọi sự phải được thay đổi. Lời Chúa soi sáng tận thâm tâm để mỗi người nhìn vào bên trong và khám phá ý định của Thiên Chúa về cuộc đời mình. Một người có thể nói ra những bức xúc hay những tổn thương trong tâm hồn, nhưng không phải để chấm dứt với những cay đắng giận hờn; trái lại, sau đó cần được Lời Chúa soi chiếu để bước sang một giai đoạn mới. Thượng Hội Đồng phải là một tiến trình của sự phân định thiêng liêng, một sự phân định mang chiều kích Hội Thánh, được thực hiện trong cầu nguyện và đối thoại với Lời Chúa. Không thể có hiệp hành nếu không có cầu nguyện và bầu khí thiêng liêng.
- Tâm thế để thực hiện lối sống hiệp hành
Cần nhắc lại một lần nữa rằng tiến trình chuẩn bị cũng như giai đoạn cử hành Thượng Hội Đồng không phải là một hội nghị chính trị hay tâm lý xã hội, cũng không phải là một cuộc nghiên cứu học hỏi, hay một tòa án pháp lý hoặc một thứ quốc hội, mà là một cuộc gặp gỡ để lắng nghe Chúa và lắng nghe nhau, rồi cùng nhau phân định dưới ánh sáng Lời Chúa và tác động của Chúa Thánh Thần.
Vì thế, để việc thực hiện lối sống hiệp hành đem lại hiệu quả, cần chuẩn bị tâm thế thích hợp.
(1) Cảm thức Hội Thánh (sensus Ecclesiae)
Cần khơi dậy cảm thức Hội Thánh để mọi thành phần Dân Chúa tích cực tham gia tiến trình. Phải thành thật nhìn nhận rằng cảm thức Hội Thánh nơi nhiều người còn yếu kém, mờ nhạt. Những người giữ nhiệm vụ điều hành các cộng đoàn, đặc biệt các linh mục, bề trên, trưởng nhóm…, có bổn phận thúc đẩy mọi người tham gia tiến trình hiệp hành; và ngược lại, các thành viên hãy nhiệt tình hưởng ứng. Đừng theo kiểu làm cho có, làm một cách hình thức chiếu lệ, hoặc thậm chí không làm gì cả.
Tiến trình hiệp hành là con đường bắt buộc đối với Hội Thánh hôm nay. Nếu không sống hiệp thông và cùng nhau tham gia thi hành sứ vụ, Hội Thánh sẽ rất yếu vì không huy động được tổng lực cho công cuộc Phúc Âm hóa thế giới. Không thể cứ mãi an phận với thứ “mục vụ bảo tồn” lâu đời mà không dám “hoán cải mục vụ” (Niềm vui Tin Mừng, ss. 25- 27) để nhiệt tình dấn thân cho sứ vụ. Không thể cứ khư khư bảo vệ cơ chế và duy trì não trạng cũ kỹ để dửng dưng đứng ngoài cuộc.
Nếu Hội Thánh không chuyển sang lối sống hiệp hành, uy tín của Hội Thánh sẽ ngày càng suy giảm. Có biết bao nhiêu người bé mọn và khổ đau, những anh chị em đứng ở ngoại biên, những người đang bước đi giữa đêm đen cuộc đời. Họ đã không được lắng nghe, không cảm thấy Hội Thánh là nhà của mình, không tìm thấy nơi Hội Thánh một sự cảm thông nâng đỡ, một bàn tay cứu giúp, nên đã thất vọng về Hội Thánh. Vì Hội Thánh không quan tâm tới họ, nên họ đã rời bỏ Hội Thánh mà đi ra. Nếu không hiệp hành với họ, Hội Thánh sẽ không còn đáng tin nữa.
(2) Tinh thần rộng mở và bao gồm
Rộng mở là không khép kín co cụm; bao gồm là không loại trừ, cực đoan, nhưng tích hợp và ôm trọn tất cả. Thái độ tinh thần cần được mở rộng để không bị đóng khung trong định kiến cá nhân cũng như không bị giới hạn trong một quan niệm thần học thiên lệch. Cần giữ sự quân bình.
Chẳng hạn, kiến tạo Hội Thánh hiệp thông hay hiệp hành không có nghĩa là loại trừ cơ chế phẩm trật do chính Đức Kitô thiết lập; hoặc loại trừ não trạng giáo sĩ trị không có nghĩa là giáo dân sẽ thay thế giáo sĩ. Chính vì muốn loại bỏ cả óc giáo sĩ trị lẫn óc giáo dân trị mà Hội Thánh cần theo lối sống hiệp hành. Cũng thế, trong cộng đoàn, không được quyền loại trừ nhau, nhưng tôn trọng sự khác biệt, ôm ấp cả những người đối kháng, lắng nghe cả những tiếng nói khác mình. Người đứng đầu đừng để tiếng nói của mình ngăn chặn tiếng nói của các thành viên, đừng tạo ra bức tường cách âm.
(3) Sự thật trong đức ái
Một nguyên tắc lớn được thánh Phaolô đưa ra cho việc xây dựng Hội Thánh là “sống theo sự thật và trong tình bác ái” (Ep 4, 15). Đức Kitô vừa là sự thật vừa là tình yêu. Nếu chỉ dừng lại ở sự thật, cuộc gặp gỡ sẽ biến thành tòa án. Nếu chỉ có bao dung thương xót, sẽ không thể canh tân Hội Thánh.
Hội Thánh đang phải đối diện với những sự thật đau thương, không thể tránh né. Hãy dám nhìn vào sự thật, dám nghe sự thật. Đừng vội biện minh để làm giảm sự thật, nhất là những sự thật đau lòng từ các thừa tác viên. Mọi hào quang phải được hạ xuống để sự thật giải thoát chúng ta, để sự thật đổi mới Hội Thánh, để Hội Thánh lấy lại uy tín.
Đàng khác, cuộc gặp gỡ của tiến trình hiệp hành cần được diễn ra trong tâm trạng thanh thản. Cả người nói lẫn người nghe cần làm chủ những cảm xúc của bản thân. Cảm tính có thể làm méo mó sự thật. Có những bức xúc chính đáng, những tổn thương đau đớn, nhưng hiệp hành không phải là lúc xả những phẫn uất bực bội hay tố giác lên án nhau, mà là cơ hội mọi người nhìn vào sự thật để Chúa Thánh Thần chữa lành và canh tân Hội Thánh. Đừng để lòng khát vọng một Hội Thánh thánh thiện biến trái tim thành cứng cỏi, bất khoan dung, mất kiên nhẫn, đòi nhổ cỏ lùng ngay tức khắc; trái lại, cần chấp nhận thời gian để hạt cải lớn lên, kiên nhẫn chờ đợi như Chúa từng kiên nhẫn chờ đợi bản thân ta hoán cải. Cuộc gặp gỡ hiệp hành không nhằm đưa ra câu trả lời để giải quyết các vấn đề ngay trong chốc lát, nhưng là để Chúa soi chiếu và lay động tâm hồn mỗi người.
Để có được tâm thế của sự thật và đức ái, cần có lòng khiêm tốn thẳm sâu. Mỗi người đều là tội nhân. Ta thấy cái rác trong mắt người khác, nhưng lại quên cái xà to lớn trong mắt ta. Lòng khiêm tốn giúp mỗi người gặp gỡ và lắng nghe nhau trong kiên nhẫn, với tâm thế nhẹ nhàng, thanh thản, bình an.
Hai năm sắp tới là thời gian của ân sủng để Hội Thánh thực tập sống hiệp hành. Ngạn ngữ Pháp có câu: chính lúc đang thực tập rèn là ta trở thành thợ rèn (“C’est en forgeant qu’on devient forgeron“). Nhờ tập sống hiệp hành, chúng ta sẽ trở thành một Hội Thánh hiệp hành.
Nào, chúng ta cất bước lên đường.
+ G. Nguyễn Năng
2022
Yêu thương cho đến cùng: Thần học về bệnh suy giảm trí nhớ
YÊU THƯƠNG CHO ĐẾN CÙNG: THẦN HỌC VỀ BỆNH SUY GIẢM TRÍ NHỚ
Tác giả: Xavier Symons
– Cách này hay cách khác, bệnh suy giảm trí nhớ đã ảnh hưởng đến cuộc sống của hầu hết chúng ta. Thật đau lòng khi chứng kiến người mình quen biết, yêu thương cứ hao mòn đi vì chứng bệnh này. Đó là chưa kể đến nỗi đau tinh thần mà bản thân người mắc bệnh này thường phải trải qua. Tuy vậy, những lúc đó họ vẫn ở “với chúng ta” ngay cả khi họ đã mất khả năng giao tiếp.
Thần học có thể nói gì về bệnh suy giảm trí nhớ? Ở mức độ nào đó, chứng bệnh đang tiến triển này, kèm với sự mất dần nhận thức về bản thân, luôn là một ẩn số. Tuy nhiên, chìa khóa trả lời các câu hỏi hiện sinh về mối liên hệ giữa ý thức, trí nhớ và kinh nghiệm của chúng ta về Thiên Chúa có lẽ nằm nơi thuyết nhân vị Kitô giáo.
Tìm hiểu bệnh suy giảm trí nhớ
Suy giảm trí nhớ là một thuật ngữ dùng để mô tả một số bệnh ảnh hưởng đến não và khả năng thực hiện các công việc hàng ngày của một người. Các dạng suy giảm trí nhớ phổ biến bao gồm bệnh Alzheimer, bệnh Parkinson và một số dạng bệnh đa xơ cứng. Hơn 6 triệu người Mỹ và 400.000 người Úc mắc phải một dạng suy giảm trí nhớ nào đó.
Sự hiểu biết chung về bệnh suy giảm trí nhớ đang được cải thiện qua từng thế hệ. Trong những năm gần đây, một số bộ phim được giới phê bình đánh giá cao vì đã cung cấp cái nhìn sâu sắc về thực tế cuộc sống của những người mắc bệnh suy giảm trí nhớ, như Nebraska (2013), Still Alice (2019) hay The Father (2020). Tuy nhiên, sự kỳ thị [về căn bệnh này] vẫn còn. Bạn vẫn nghe gọi những người bệnh suy giảm trí nhớ là bị điên, bị tâm thần.
Về sự phổ biến và nghiêm trọng của bệnh suy giảm trí nhớ, có rất ít suy tư thần học về sự phổ biến và nghiêm trọng của bệnh này trong những năm gần đây. Rất ít sách và chỉ một số nhỏ các bài báo chuyên ngành đề cập trực tiếp đến ý nghĩa của bệnh đối với mối tương quan giữa một tâm hồn với Thiên Chúa. Sự khan hiếm những chỉ dẫn thần học và mục vụ này có thể đưa đến một ấn tượng sai lầm rằng, bệnh suy giảm trí nhớ là một dạng của cái chết tâm linh và xã hội.
Thuyết nhân vị Kitô giáo
Thuyết nhân vị là một trường phái suy luận triết học và thần học tập chú đến tính độc nhất vô hạn và chiều sâu của mỗi con người. Trong thế kỷ qua, những vị như Dorothy Day, Gabriel Marcel, Martin Luther King, và Karol Wojtyla (Giáo hoàng Gioan Phaolô II sau này) được cho là theo thuyết nhân vị; tuy nhiên, phong trào này vẫn chưa được biết đến nhiều ngoài phạm vi thần học Kitô giáo. David Brooks – một nhà bình luận của tờ New York Times viết, thuyết nhân vị bắt đầu bằng cách vẽ ra ranh giới giữa con người và những loài vật khác:
Con chó của bạn thì tuyệt, nhưng mỗi phẩm tính người mang một chiều sâu, độ phức tạp và phong phú vượt trội, khiến con người ấy có phẩm giá độc đáo và vô hạn. Những người theo thuyết nhân vị tin rằng con người là “một tổng thể mở”. Họ tìm thấy sự viên mãn của chính mình trong sự hiệp thông với những nhân vị toàn vẹn khác. Những câu hỏi quan trọng trong cuộc sống không phải là về “cái gì” – tôi phải làm “cái gì”? Mà là những câu hỏi về “ai” – tôi theo “ai”, tôi phục vụ “ai”, tôi yêu “ai”?
Điều quan trọng đối với người theo thuyết nhân vị không phải là tài năng, năng suất hay thành công của một người, mà đúng hơn là những gì họ cam kết nơi thâm tâm của họ.
Có lẽ, Đức Karol Wojtyla là người theo thuyết nhân vị nổi tiếng nhất. Trong tác phẩm Love and Responsibility (Tình Yêu và Trách Nhiệm), Wojtyla viết “con người là duy nhất, độc đáo và không thể trùng lặp, họ được nghĩ tới và được chọn từ muôn đời, được mời gọi và xác định đích danh”. Nói cách khác, mỗi người đều có một căn tính khiến họ trở nên độc đáo và tách biệt như một con người trong mắt Thiên Chúa. Con người đặc biệt vì chúng không thể bị trùng lặp, có khả năng tiếp nhận và trao ban tình yêu thương. Wojtyla lập luận rằng, tiếng gọi và nguồn gốc nền tảng cho sự viên mãn của con người là trao phó bản thân cho Thiên Chúa và yêu thương tha nhân: “con người là một loại thực thể mà tình yêu là cách thế duy nhất vừa thích hợp vừa tương xứng để nối kết lẫn nhau”. Nói cách khác, yêu thương chính là chức năng để xác định con người.
Quan trọng là, yêu thương không phải là thứ tình cảm nhất thời. Đối với người theo thuyết nhân vị, yêu thương là cam kết với ai bằng chính thâm tâm con người mình. Điều này được thể hiện qua một cuộc đời phục vụ và hy sinh cho những người thân yêu, cũng như trung thành với những lý tưởng làm nên con người bạn. Điều này cũng giúp làm rõ tại sao chủ đề trung thành lại xuất hiện rất nhiều trong cuộc đời và sự nghiệp của Wojtyla hay những người khác theo thuyết nhân vị.
Thần học nhân vị về bệnh suy giảm trí nhớ
Bằng cách nào thuyết nhân vị có thể giúp chúng ta hiểu về bệnh suy giảm trí nhớ? Một trong những thách thức lớn nhất gắn liền với bệnh suy giảm trí nhớ là sự kỳ thị của xã hội. Đó là ý tưởng cho rằng, những người mắc bệnh suy giảm trí nhớ không còn có địa vị lẫn phẩm giá của con người. Triết học duy lý và duy nghiệm hiện đại liên kết con người với ý thức, điều đó dễ dàng nhận thấy qua khái niệm Cogito (Tôi suy tư) của Rene Descartes hoặc khảo luận của John Locke khi xem con người như là “một hữu thể trí tuệ biết tư duy, có lý tính và suy tư cũng như có thể tự nhận biết chính mình”. Những triết lý này chủ trương rằng, khi một người mất ý thức và trí nhớ, họ cũng mất đi địa vị con người.
Tuy nhiên, thuyết nhân vị cho rằng bản chất của địa vị con người sâu xa hơn ý thức rất nhiều. Điều làm nên đặc tính người không phải là những trạng thái tinh thần, nhưng đúng hơn là năng lực yêu thương, tạo tương quan và trao ban bản thân. Tình yêu được phản ánh nơi thiên hướng tâm hồn của mỗi người – thành quả của một đời đấu tranh tinh thần hơn là một hành vi nhận thức riêng biệt hay một ý tưởng nào đó trong tâm trí.
Nhìn từ góc độ này, những người mắc bệnh suy giảm trí nhớ vẫn có khả năng có mối tương quan quà tặng – trao ban quà tặng tình yêu – đó là chức năng để xác định một con người. Dù suy giảm khả năng nhận thức, họ vẫn có thể trao ban bản thân cho người khác và cho Thiên Chúa.
Thật vậy, giống như con người, bệnh suy giảm trí nhớ là một hiện tượng bí ẩn, bằng chứng là những người mắc bệnh nghiêm trọng cũng có những lúc minh mẫn và quan tâm vô vị lợi đến người khác mà không thể giải thích được. Các nghiên cứu đã ghi lại cách những người mắc bệnh suy giảm trí nhớ nghiêm trọng đã quan tâm lại những người chăm sóc họ. Khi bệnh nhân được đối xử cách tôn trọng với sự ân cần, trìu mến và bằng những cách thức giao tiếp không lời, họ sẽ đáp lại những cử chỉ này qua nụ cười, sự đụng chạm hay đơn giản là sẵn sàng hợp tác vì họ nhận ra người chăm sóc họ là một con người.
Những người mắc bệnh suy giảm trí nhớ cũng giữ được sự nhạy bén về tâm linh ngay cả khi các chức năng nhận thức và điều hành khác đã suy giảm. Một nghiên cứu định tính năm 2013 trên tạp chí Nursing Ethics mô tả tầm quan trọng của việc cầu nguyện và lập đi lập lại lời kinh đối với sức khỏe tinh thần của bệnh nhân suy giảm trí nhớ. Nghiên cứu mô tả một bệnh nhân luôn kết thúc ngày sống bằng việc cầu nguyện và hát thánh ca với nhân viên. Ngiên cứu này cũng nêu ra một trường hợp đáng chú ý, đó là một bệnh nhân đã được ban phép lành khi đang hấp hối và sau đó, anh khăng khăng rằng nhân viên chăm sóc cho anh cũng nhận được sự chúc lành này.
Thật vậy, sách vở xác nhận mối liên hệ chặt chẽ giữa tâm linh và bản sắc riêng biệt cá nhân. Một nghiên cứu năm 2003 đã khám phá đời sống tâm linh của những người suy giảm trí nhớ thông qua 28 cuộc phỏng vấn không hoàn toàn sắp xếp sẵn. Một người tham gia phỏng vấn nói rằng, tư cách đạo đức và các mối tương quan của họ đã phong phú hơn nhờ trải nghiệm bệnh suy giảm trí nhớ:
Tôi kết luận rằng mọi thứ đều có mục đích; Đức Chúa nhân lành biết điều gì là tốt nhất cho chúng ta. Có lẽ chứng bệnh này là để tôi sống chậm lại mà tận hưởng cuộc sống, vui với gia đình và những gì bên ngoài. Và ngay bây giờ, tôi có thể nói rằng tôi là một người khá hơn đối với chứng bệnh này.
Những suy tư như vậy xác nhận rằng những người trải nghiệm bệnh suy giảm trí nhớ thực sự vẫn là con người và là những hữu thể tâm linh sâu sắc dẫu phải chịu những ảnh hưởng của việc suy giảm nhận thức. Thật vậy, nhân vị được phong phú hơn nhờ sự chú tâm hiện sinh mà bệnh tật đưa vào cuộc sống con người.
Bệnh suy giảm trí nhớ và Chúa Ba Ngôi
Nhưng những người đang trải nghiệm các dạng suy giảm trí nhớ nghiêm trọng nhất thì sao? Những người mắc “bệnh suy giảm trí nhớ giai đoạn cuối” thậm chí không thể nhận ra nét mặt hay phản ứng lại trước một cái chạm nhẹ hoặc âu yếm. Những người trong tình trạng như vậy có thực sự đã đánh mất địa vị con người và sự gắn kết với Thiên Chúa không?
Các học giả lập luận rằng “không”. Hai đóng góp tương đối gần đây vào văn phẩm thần học về bệnh suy giảm trí nhớ làm nổi bật mối tương quan giữa những người mắc chứng bệnh này và Chúa Ba Ngôi (Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần – hiệp nhất nhờ tình yêu) theo cách mà chúng ta cảm nhận được ý nghĩa và giá trị cuộc sống của những người mắc bệnh suy giảm trí nhớ giai đoạn cuối.
Cuốn sách xuất bản năm 2012 của John Swinton: Dementia: Living In the Memories of God (Bệnh suy giảm trí nhớ: Sống trong ký ức của Thiên Chúa) giúp phát triển một thần học thực tiễn về bệnh suy giảm trí nhớ khi ông khảo sát hai câu hỏi chính: “Tôi là ai khi tôi quên mất mình là ai?”, và “Yêu Chúa và được Chúa yêu có ý nghĩa là gì khi tôi quên mất Chúa là ai?” Swinton rút ra một phép loại suy từ Chúa Ba Ngôi, xét như “được cấu thành bởi tương quan”, để đưa vào quan điểm xem con người cũng được cấu thành như vậy. Ông lập luận rằng, điều này không nhấn mạnh đến sự tự nhận thức cá nhân, nhưng định vị nhân tính của một người trong cộng đồng mà họ thuộc về. Bằng cách tái định nghĩa bệnh suy giảm trí nhớ dưới ánh sáng của câu chuyện tương phản có sức biến đổi, là Tin mừng, Swinton có thể đưa ra lời giải thích cảm động nhưng mạnh mẽ về lý do tại sao những người đã suy giảm trí nhớ nặng vẫn nên được đối xử như những nhân vị và tâm hồn có sự kết hiệp sâu xa cùng Đức Kitô.
Tương tự, Peter Kevern cố gắng định hình lại sự hiểu biết của chúng ta về bệnh suy giảm trí nhớ bằng cách mô tả chứng bệnh như phương thức độc đáo để tham dự vào thập giá Đức Kitô. Trong bài viết “Sharing the Mind of Christ” (Chia sẻ tâm trí Đức Kitô), Kevern lập luận rằng, Đức Kitô “đã suy giảm trí nhớ” trên thập giá, và như thế đã kết hợp với nỗi đau của những người mắc bệnh này.
Điều đó có nghĩa là, Đức Kitô chịu đóng đinh đã trải qua sự mất nhận thức, theo đó “Ngài chỉ có thể hoạt động chút ít về tinh thần, lờ mờ nhận thức môi trường xung quanh, sứ mạng và bản thân”. Ít nhất, Đức Kitô đã “mê man” và “có vẻ như trong những phút cuối đời trên thập giá, Ngài đã không còn nhận thức đầy đủ.” Kevern viết, Đức Kitô suy giảm trí nhớ “đã liên đới với những người suy giảm trí nhớ, hôn mê và thiểu năng trí tuệ”. Ông khẳng định: “Thế giới của những người suy giảm trí nhớ không phải là một vùng phi-ân-sủng”.
Kevern cũng lập luận rằng con người không được định nghĩa bằng việc biết tự nhận thức, nhưng đúng hơn bằng “câu chuyện của cả cuộc đời” và những lựa chọn được thực hiện trong suốt cuộc sống. Trong trường hợp Đức Kitô, chúng ta không cần quá nhấn mạnh đến hành vi tự hiến hoàn toàn tỉnh táo và đầy đủ ý thức của Ngài cho đến giây phút cuối cùng trên thập giá. Đúng hơn, việc cứu chuộc kéo dài suốt cả cuộc đời Đức Kitô và tiếp tục bên kia nấm mồ. Với quan niệm như thế, Kevern lập luận rằng:
Ngay cả khi một Kitô hữu suy giảm trí nhớ mất đi khả năng tự nhận thức đến mức không còn bất kỳ ký ức nào về việc từng có đức tin, thì việc họ là sự nối dài mang tính lịch đại và nhân quả của người đã từng nhận thức mình có đức tin, cũng đủ tạo tin tưởng về tình trạng của họ trước mặt Thiên Chúa.
Nói cách khác, việc thiếu khả năng tự nhận thức của những người mắc bệnh suy giảm trí nhớ không được xem là gây tổn hại đến mối tương quan của họ với Thiên Chúa. Đúng hơn, họ vẫn có thể kết hợp mật thiết với Đức Kitô nếu thiên hướng nền tảng của cuộc đời họ là hướng về Thiên Chúa. Điều này chắc chắn khác xa với ý tưởng cho rằng, những người mắc bệnh suy giảm trí nhớ nặng thì “đã chết về mặt tâm linh”.
Kết luận
Thật ngạc nhiên khi có rất ít suy luận thần học về bệnh suy giảm trí nhớ. Tuy nhiên, thuyết nhân vị Kitô giáo đưa ra một lăng kính độc đáo mà qua đó chúng ta có thể khám phá ý nghĩa của bệnh suy giảm trí nhớ và những gợi ý cho tâm hồn và tương quan của một người với Thiên Chúa do chứng bệnh này gây ra. Ngay cả những người mắc bệnh này nghiêm trọng, họ vẫn giữ được dạng thức cơ bản nhất của tác nhân tinh thần – khả năng yêu thương. Mặc dù bệnh suy giảm trí nhớ là một tập hợp các tình trạng gây tổn thương, làm giảm đáng kể khả năng thực hiện các hoạt động thông thường trong cuộc sống, nhưng chứng bệnh này không tước đi phẩm giá nền tảng của một người cũng như không làm suy yếu mối tương quan giữa họ với Thiên Chúa.
Có lẽ, chúng ta gần gũi Thiên Chúa nhất khi cái tôi của bản thân hạ xuống mức thấp nhất và hơn bao giờ hết, khi chúng ta hoàn toàn cởi mở trước hành động của ân sủng? Chí ít điều này cũng đúng: điều quan trọng nhất không phải là trạng thái của tâm trí mà là thiên hướng nền tảng của cõi lòng chúng ta.
Nhóm Sao Biển chuyển ngữ từ Church Life Journal | University of Notre Dame (03/12/2021)
2022
Giáo hội Hiệp Hành: Giáo hội nhìn từ bên trong
Giáo hội Hiệp Hành: Giáo hội nhìn từ bên trong
GIÁO HỘI HIỆP HÀNH: GIÁO HỘI NHÌN TỪ BÊN TRONG
(Bài chia sẻ dành cho các tu sĩ về Giáo hội hiệp hành)
Linh mục Giuse Nguyễn Văn Am, SDB
Dẫn nhập
Cám ơn anh chị em đã hưởng ứng tích cực trước những hướng đi của Đức Phanxicô và qua đó của toàn Giáo hội (GH), trong đó có GH tại VN. Chúng ta đã luôn cầu nguyện và hiệp thông với GH hoàn vũ, được cụ thể hoá nơi vị Đức Phanxicô, đại diện Vị Chủ Chăn Tối Cao và Nhân lành của GH, Đức Giêsu Kitô.
Đó chính là công trình của Thánh Thần nơi tất cả chúng ta. Đó là cảm thức đức tin, là bản năng đức tin mà dầu Thánh Thần luôn đảm bảo cho chúng ta trong chân lý Tin mừng. Chúng ta hãy can đảm tiến bước.
Hôm nay, xin được chia sẻ với anh chị em, cách riêng các tu sĩ, về GH hiệp hành. Nhưng với chủ đề khác: Hãy nhìn, hãy sống, hãy là GH từ bên trong.
Xin anh chị em hiểu cho, bài này tôi hướng tầm nhìn cách riêng tới các tu sĩ nam nữ. Nhưng không phải như một giới riêng biệt. Song đúng hơn, như những tín hữu, như những môn đệ Đức Kitô được thôi thúc để sống ơn gọi thánh tẩy một cách sung mãn và tròn đầy hơn. Nó không tạo cho các tu sĩ nam nữ như một thành phần ưu tuyển cho bằng là một chứng từ sống động để nói rằng ơn gọi thánh tẩy, ơn gọi theo Đức Kitô cách triệt để là có thể được trong ơn sủng của Thiên Chúa, đấng hoàn thành những gì tốt đẹp ngài đã khởi sự nơi các tín hữu Đức Kitô.
- ĐỊNH VỊ NGƯỜI TU SĨ
Một cách sơ lược, chúng ta biết rằng đời sống tu sĩ được phát sinh từ đời sống thánh tẩy trong đó có một nhịp độ kép: thoát ra khỏi lối sống và hành động của thế gian và hoàn toàn hiến mình cho Thiên Chúa.
Vatican II đã muốn canh tân đời tu sĩ bằng cách kêu gọi trở về nguồn, bỏ đi những gì không làm sáng tỏ giá trị cội nguồn của đoàn sủng và thích ứng, nghĩa là, can đảm trình bày đoàn sủng ấy một cách mới mẻ trong sự trung thành. Đó không phải chỉ là một sự thay đổi suông, như thể đi mỹ viện. Phải hơn, đó là một cuộc hoán cải mang tính GH ngay trong hoàn cảnh hôm nay của mỗi tu sĩ, xét như cộng đoàn, hội dòng và cá nhân. Công đồng đảm bảo rằng giá trị đời tu không nằm ở chỗ quyền bính, phẩm trật trong GH, nhưng liên quan đến sự thánh thiện của một GH hoàn toàn đam mê Thiên Chúa và đam mê những con người. Và đó là một trong những chọn lựa cao quý nhất mà một người tín hữu có thể làm được.
Ơn gọi tu sĩ có thể coi như triều thiên của cộng đoàn đức tin. Ơn gọi đó không đến cách ngẫu hứng hay bất chợt. Nó luôn có chỗ rất lớn dành cho công nghiệp, cầu nguyện, chứng tá của cộng đoàn GH. Song không phải lúc nào ta cũng thấy được điều đó. Nó xuất phát từ GH, sống và tăng trưởng trong GH và vì GH.
Đức Phaolô VI, Gioan Phaolô II, và Bênêđictô XVI, Đức Phanxicô lại cho thấy rằng người tu sĩ ở tận sâu trong lòng GH. Trực giác đó, chị Têrêsa Hài đồng, diễn đạt rất đúng: trong GH tôi muốn là tình yêu. Nếu vậy, ta phải xác định mạnh mẽ rằng: từ tình yêu mãnh liệt đối với Đức Giêsu nhất thiết phát sinh tình yêu mến dành cho GH, bất chấp GH có là gì đi nữa. Ta không được để hai tình yêu đó tách rời hay cao thấp. Người tu sĩ cùng lúc hiến thân tuyệt đối cho Đức Kitô, thì cũng cùng lúc sống chết cho GH, Hiền thê của Ngài. Trực giác này không diễn đạt bằng lời, song bằng đời sống: một chị Teresa Calcutta, một Maximilian Kolbe, một Phanxicô Assisi, một Gioan Bosco, một Ignatio hay Anphongso. Ta chỉ kể ra một số rất nhỏ.
Vậy: người tu sĩ phải ở trong lòng GH cách mãnh liệt, phải cùng nhau bộc lộ GH là gì và GH sống cho điều gì. Ta có thể nói không sợ sai, song thật mạnh mẽ và thách đố rằng người tu sĩ, cá nhân cũng như cộng đoàn, giống như là một GH thu nhỏ để nói cho thế giới biết rằng Đức Kitô là trên hết, Thiên Chúa tình yêu lấp đầy mọi khát vọng yêu thương và tự do của con người và phụng sự Thiên Chúa trong GH là một niềm vui khôn tả.
Tại sao phải đặt mình ở trong: GH nhìn từ bên ngoài, ta cũng chỉ thấy những mảnh lắp ghép của cơ sở, thể chế, hiệp hội, hội đoàn. Và chúng chẳng là gì cà, nếu đúng là thể. Nhưng điều ấy mới chỉ là một mảnh của sự thật. Trong Giáo hội, chúng ta đang ở trong bình diện đức tin. “tôi tin có Hội thánh duy nhất…” Giống như ở ngoài nhà thờ chính toà, các tấm kiếng màu chỉ như là những tấm kiếng thô kệch, không đồng nhất. Chỉ khi ở trong chúng ta mới nhận ra vẻ đẹp của bức tranh xuyên qua những tấm kính khác nhau đó. Đó chính là điều đức Giêsu trong Tin mừng Marcô nói về người ở bên trong và bên ngoài đối với những dụ ngôn của ngài.
- ĐỊNH VỊ NGƯỜI TU SĨ, CÁ NHÂN VÀ CỘNG ĐOÀN, TRONG THƯỢNG HỘI ĐỒNG GIÁM MỤC 2021-2023
Câu hỏi thường đặt ra: chúng tôi, các tu sĩ, đóng góp gì cho Thượng Hội đồng Giám mục? Trong đó, ta có thể thấy ít nhất hai điều này: tôi và cộng đoàn tôi đóng góp cho Thượng Hội đồng Giám mục sắp tới một vài ý kiến, một số thách đố, một số vấn đề mà Giáo hội đang gặp phải tại địa phương tôi. Và thứ đến, Thượng Hội đồng Giám mục thật xa với chúng tôi. Bất quá chúng tôi chờ mong kết quả của những vị chuyên viên đưa ra, cũng như tông huấn hậu Thượng hội đồng Giám mục đó. Rồi thêm vào kho thư viện của chúng tôi. Nói tắt, Thượng Hội đồng Giám mục không phải của chúng tôi. Chúng ta đã từng làm như thế. Các Thượng Hội đồng Giám mục có tác động gì mấy trên chúng ta đâu. Không phải là nhiều chuyện khác gần chúng ta hơn hay sao?
Thái độ sống đó đúng là thái độ “chúng tôi đã từng làm như vậy mà”. Nhưng đó lại là điều mà Đức Phanxicô xác quyết: Không được nữa rồi. Nó chỉ bộc lộ một thái độ xa lạ, nếu không nói là dửng dưng, đối với Giáo hội thiết thân với ý nghĩa và đời sống của tôi.
Chính điều này cho chúng ta thấy: GH vẫn còn là một thực thể xa với chúng ta cách nào đó. Thực tại GH vẫn chưa phải là mối quan tâm canh cánh bên lòng chúng ta. Và điều này, chúng ta muốn thay đổi, canh tân.
Trong nhiệm vụ xây dựng Giáo hội, Đức Phanxicô mời gọi dân Chúa, và dĩ nhiên, các tu sĩ hăng hái, sẵn lòng và quảng đại để làm cho Thượng Hội đồng Giám mục này trước hết và tiên vàn là cho từng cộng đoàn: gia đình, dòng tu, giáo xứ, giáo phận, vùng miền, hoàn vũ. Nghĩa là nó muốn mang lại một sức năng động mới cho đời tin, cậy, mến nơi mỗi cộng đoàn.
Thật không vậy? Hay chỉ là “tưởng tượng”, nếu không nói là bịa đặt. Rất thật là thế. Trong tài liệu làm việc, chúng ta thấy đưa ra những điều cốt lõi để duyệt xét.
Những đề tài ấy là như sau:
1) Những người bạn đồng hành: “Trong Hội thánh và xã hội, chúng ta sát cánh bên nhau trên cùng một nẻo đường”. Điều này có quả thực đang được sống trong các cộng đoàn giáo hội: gia đình, các hội đoàn, giáo xứ. Toàn nhóm giáo hội chân thành và can đảm duyệt lại và nhận diện xem những ai đang là những người ở bên lề cuộc đời của chúng ta, như cá nhân và như cộng đoàn GH. Những thành phần nào trong giáo xứ, trong giáo hội không có chỗ trong chúng ta; nếu có, bức tranh về một GH hiệp hành quả là chưa tròn.
2) Lắng nghe: “là bước đầu tiên, đòi hỏi khối óc và con tim rộng mở, không thành kiến.” Điều GH hiệp hành được gọi để làm không gì khác hơn là LẮNG NGHE. Đã có một thời gian ecclesia discens và ecclesia docens tách lìa nhau đến độ phẩm trật là THẦY DẠY, còn giáo dân là HỌC TRÒ. Ta đã đánh mất một điều quan trọng: Toàn GH đều là học trò/môn sinh. Và chỉ khi nào GH hoàn toàn là môn sinh, GH mới có thể là thầy dạy. Mãi mãi GH là người môn đệ. Nếu đúng là như vậy, thì chúng ta lắng nghe được gì từ các thành phần Dân Chúa, từ những người ở xa và bị loại bỏ? Có một loại ‘diễn đàn’ cho họ không? Nhưng ý nghĩa không phải là thực hành một kiểu cách dân chủ “vox populi, vox dei”, nhưng là để lắng nghe Thần khí tự do đang thổi nơi các Giáo hội.
3) Phát biểu: “mọi người được mời gọi can đảm (parrhesia) lên tiếng” cách tự do, trong chân lý và bác ái. Tài liệu chuẩn bị mời gọi mọi phần tử GH chia sẻ những nghĩ suy của mình, theo như Thần khí thúc đẩy và khởi hứng. Chính trong sự bạo dạn của đức tin này, nguyên lý được Đức Gioan XXIII nhắc lại từ Augustinô phải được hiện thực một cách mới mẻ: “Trong những điều cốt yếu, ta hiệp nhất; trong những gì không cốt yếu, ta được tự do, và trong mọi sự, có đức ái.” Như thế, sự bạo dạn ở đây không có nghĩa là đấu tranh đảng phái, lập trường, nhưng là sự bạo dạn của đức ái, một đức ái hy vọng mọi sự, tin tưởng mọi sự, tha thứ mọi sự. Như thế, làm sao để nói lên được điều quan trọng đối với chúng ta?
4) Cử hành. Chính trong ánh sáng đó, sự tụ họp của Giáo hội hiệp hành không phải là một sự tụ họp xã hội, giao lưu. Không. Đúng hơn, đây là một cuộc cử hành, cuộc canh tân giao ước, giống như Dân Israel quy tụ ở Sinai, ở Giêrusalem sau thời lưu đày (x. Nkm 81-9:37; Er 6:19-22). Tụ họp để cử hành Thiên Chúa ở giữa chúng ta.[1] Chính vì thế, cùng nhau tiến bước trong GH không chỉ tuỳ vào thiện chí của con người mà thôi. Nó phải khởi sự và dẫn vào cầu nguyện dựa trên Lời Chúa và trung tâm là Thánh Thể. Lời Chúa và Thánh Thể phải chi phối những quyết định quan trọng của cộng đoàn để phục vụ Nước Thiên Chúa giữa những con người đau khổ.
5) Đồng trách nhiệm trong sứ vụ. Chúa không trao cho mỗi người chúng ta một sứ mệnh riêng biệt. Không phải. Toàn GH chỉ nhận lãnh một sứ mệnh của chính Đức Giêsu.[2] Chính Đức Giêsu cho toàn GH chia sẻ sứ mệnh của ngài: “Như Cha đã sai Thầy, Thầy cũng sai anh chị em.” Không có một sứ mệnh cá nhân trong GH. Chính vì thế, tất cả đều đồng trách nhiệm trong việc thực thi sứ vụ, dẫu với những hình thức hay dạng thức khác nhau theo ơn gọi riêng của mình. Chính trong GH-môn đệ truyền giáo, mỗi người chúng ta là môn đệ truyền giáo, chứ không chỉ làm việc truyền giáo.[3] Chúng ta hiệp hành để thành cộng đoàn giáo hội truyền giáo. Nhất thiết cần làm cho mọi tín hữu thấy trách nhiệm chia sẻ, loan báo Tin mừng khi mình được tin mừng hoá, như một chứng nhân.
6) Đối thoại trong Hội thánh và xã hội. Thách đố rất lớn trong GH tiền Vatican II liên quan đến đối thoại. Thách đố ấy đã được Vatican II giải gỡ bằng cách dứt khoát đến với thế giới, đi vào thế giới và đối thoại với mọi người, kể cả anh chị em vô thần. Vatican II đã nhận ra đối thoại chính là phương cách của Thiên Chúa cứu độ con người và quy tụ nhân loại. Chính dựa trên chân lý này mà GH buộc phải đi vào đối thoại như phương cách thiết yếu để mời gọi con người đến với tình yêu cứu độ. Phương cách này làm cho GH trở thành người bạn đồng hành với thế giới.[4] Nếu đó là sự thật, thì đối thoại có chỗ đứng nào trong các cộng đoàn GH và từ đó trong các cộng đoàn xã hội. Các tín hữu Chúa Kitô đối thoại thế nào với các thực tại văn hoá, kinh tế, chính trị, xã hội, người nghèo? đấy là cách sống một GH hiệp hành vậy.
7) Với các hệ phái Kitô hữu khác. Toàn GH đều nhận ra sự chia rẽ trong lịch sử GH đã làm cho chiếc áo không đường may của Chúa Kitô đã bị rách nát. Nó đã thành muôn mảnh. Đó là sự phản chứng nặng nề. Và vì thế, Vatican II đều đặt đại kết trở thành một nghị sự thiết yếu, một đích tới cho mình.[5] Dẫu còn dài đến mấy, thì con đường đại kết mà Vatican II nêu ra và tiến bước không thể ngừng lại nữa. Nếu thế, một GH hiệp hành mới có khả năng hiệp nhất với anh chị em Kitô hữu khác để cùng tiến bước về Thiên Chúa trên những nẻo đường nhân sinh. Chính Công đồng Vatican II đã mở ngỏ rằng đang khi việc đại kết theo khía cạnh giáo lý còn một đường xa lắm, thì GH vẫn có thể cùng với anh chị em hệ phái Kitô hữu khác cộng tác trong việc biến đổi xã hội, truyền giáo, bác ái… Một GH hiệp hành sẽ tìm được lối đi đại kết của mình.
8) Thẩm quyền và tham gia. Chúa Giêsu không thiết lập một GH “cá đối bằng đầu”. Ngài đã thiết lập một Tông đồ đoàn trong đó Phêrô kiện cường anh em mình. Ngài muốn có một Giám mục đoàn trong đó Giám mục Roma như nguyên lý và nền tảng hữu hình của sự hiệp nhất của GH. Nhưng điều đó không huỷ bỏ, trái lại, còn đẩy mạnh sự tham gia. Sự hiệp thông không thể chỉ ngừng lại trên lý thuyết, song phải được hiện thực và tỏ lộ mạnh mẽ trong sự tham gia. Thẩm quyền và tham gia không phải là hai cực đối kháng nhau. Đó là hai thực tại tương thuộc nhau, vốn vẫn luôn thường căng thẳng với nhau. Chính vì thế, một GH hiệp hành cũng là một GH hình thành được tiến trình lấy quyết định mà trong đó mọi người đều cảm nhận được tham gia, cho dù những quyết định được lấy không hoàn toàn được nghe theo. GH hiệp hành không thể là một GH bị cào bằng hay “cá mè một lứa”, song cũng không phải là một GH “vô ngã”, một tập thể không người chịu trách nhiệm cuối cùng.
9) Phân định và quyết định. Tiến trình hiệp hành ta theo đuổi không chỉ lắng nghe. Đó chỉ là bước đầu. GH còn phải phân định và đi tới quyết định hiện thực những gì Chúa tác động ở đây và lúc này vì những con người.[6] Thánh Phaolô không chỉ nói các cộng đoàn GH không dập tắt các thần khí, song còn phải phân định các Thần khí. Vatican II nói đến việc đọc dấu chỉ thời đại để biết được ý định của Thiên Chúa. Thần học hiện đại luôn đặt mình trong bối cảnh nhân sinh để suy niệm điều Chúa nói cho các Giáo hội. Làm sao để tiến trình phân định và quyết định xuất phát và làm hiển hiện “sự vâng phục Thần khí của cả cộng đoàn.” Ta cần tìm ra phương cách hiện thực điều này.
10) Tự đào tạo trong tiến trình hiệp hành. Thiên Chúa luôn kiên trì huấn luyện các tông đồ và môn đệ Ngài. Ngày nay, Ngài cũng tiếp tục huấn luyện các tín hữu qua tiến trình hiệp hành. Khi chia sẻ chân thành ngự trị trong một cộng đoàn, các thành phần được đào tạo sâu xa, vì nó đi vào nội tâm. Tiến trình cùng nhau phân định và quyết định lại là cách Thiên Chúa huấn luyện con cái mình, là cách người tín hữu đào tạo chính mình để nên người môn đệ lắng nghe ngày một hơn và nhờ đó trở thành vị thầy linh đạo. Tiến trình này là cách thức Thiên Chúa đang biến đổi trái tim của người môn đệ thành trái tim của Chúa Giêsu. Đó là trái tim mới của người môn đệ vậy.
Mười chủ đề cốt lõi này làm lộ hiện một GH không chấp nhận quy chiếu về chính mình, khi biết rằng đó là cám dỗ thường hằng của mình. Chúng cho thấy một GH chỉ lấy Chúa Kitô và cung cách của Ngài làm tiêu chuẩn hành động và sống cho mình. Chúng cho thấy một GH không sống theo kiểu hoài cổ với chuẩn mực “trước kia chúng tôi đã từng làm như thế.
Thượng Hội đồng Giám mục này mong đợi cộng đoàn tu sĩ sẽ tỏ lộ được một cộng đoàn môn đệ được thương mến của Đức Kitô khi thực sự lấy TIÊU CHUẨN: CÙNG NHAU ĐI TRÊN CON ĐƯỜNG ĐỨC GIÊSU KITÔ Là cách sống và hành động của mình: lắng nghe – phân định – tiến bước cùng nhau. Không phải một thành phần nào kéo lê mọi phần khác. Trái lại, mọi người lấy tư cách vai chính của mình.
III. ĐỊNH VỊ NGƯỜI TU SĨ TRONG GIẤC MƠ CỦA TOÀN GH ĐỂ XÂY DỰNG MỘT GH HIỆP HÀNH
- CÙNG MƠ VỀ MỘT GH DÙNG TOÀN BỘ NHỮNG GÌ MÌNH CÓ VÀ MÌNH LÀ CHO SỨ MỆNH LOAN BÁO Nước Thiên Chúa
Ước mơ của Vatican II là trình bày một GH dân Thiên Chúa, tất cả cùng nhau tiến về sự thánh thiện của Tin mừng. Không một ai trong GH không được kêu gọi tới đó. Điều ấy toàn GH đã nỗ lực và bộ mặt GH với Vatican II đã để lại những vẻ đẹp không thể chối cãi.
Nhưng thời gian với những lo lắng sự đời có thể làm phai nhạt sự nóng cháy này. Tất cả chúng ta đều kinh nghiệm như thế, y hệt như các tín hữu sơ khai, chẳng hạn tín hữu Thessalonica đã mỏi mệt chờ mong Chúa đến. Và Thiên Chúa không mệt để nhắc lại và thúc đẩy chúng ta một lần nữa. Ngài không mệt để quay trở lại với chúng ta, động viên chúng ta, như đã từng tăng sức và động viên cho Elia trên đường dài tới núi Horeb trong cơn bị bách hại do hoàng hậu Izabel. Ngài là vị mục tử nhân lành, có những lúc đi đầu đoàn chiên, có những lúc đi giữa đoàn chiên, và có những lúc đi cuối cùng đoàn chiên để đảm bảo rằng “những gì Cha đã ban cho tôi, tôi không để mất một ai”.
Đức Phanxicô cho thấy rằng Vatican II cũng muốn cả một sự hoán cải trong cơ cấu, trong mục vụ, chứ không chỉ trong thiêng liêng và thần học mà thôi. Mạnh mẽ hơn, ngài còn nói đến một sự hoàn cải của quyền giáo hoàng (conversion of papacy), để mang tính tập đoàn hơn nữa, để bộc lộ GH đúng là dân Thiên Chúa hơn nữa, vì GH và Synodos, cùng đi với nhau cho sứ mệnh, thì đồng nghĩa.
Chính vì thế, ngài xác quyết Thiên Chúa muốn GH của thiên niên kỷ thứ ba phải trình bày được một diện mạo GH hiệp hành.
GH đó cùng chung tay dùng tất cả những gì mình có và mình là cho việc truyền giáo, không được hiểu như một sự chiêu mộ tín đồ, cho bằng là “không thể không nói lên điều tai nghe mắt thấy” về chính Đức Giêsu và tình yêu của ngài dành cho con người. GH không còn làm một vài việc tông đồ hay việc truyền giáo, song toàn GH là môn đệ truyền giáo. Không một ai trong GH được miễn khỏi sứ mệnh này. Trực giác này được chị Têrêsa diễn đạt khi được tuyên phong là bổn mạng các vùng truyền giáo. Tất cả các bệnh nhân trong GH đều tham dự vào sứ mệnh này bằng cách biết rằng những đau khổ của họ mang một sắc thái mới, một ý nghĩa mới khi tham dự vào mầu nhiệm khổ nạn của Đức Kitô vì nhân loại. Một GH sống niềm vui đến độ dám ra khỏi vùng yên ổn và thoải mái của mình để làm bạn với những người bị đẩy ra ngoài lề; để băng bó vết thương cho những người thương tổn như thể mình thật sự là kẻ bị thương; để khóc với nhân loại đang khóc dưới mãnh lực xâu xé của THẦN TÀI.
Băng bó vết thương có nghĩa là DÁM ĐẶT MÌNH VÀO TÌNH TRẠNG BỊ NGUY CẤP ĐỂ CHO NGƯỜI BỆNH ĐƯỢC SỐNG. Đó là cách nhập thể lối sống của chính Đức Giêsu đến để chết cho người khác.
- DỰA TRÊN KINH NGHIỆM HIỆP THÔNG CHÚA BAN CHO CÁC TU SĨ
Mọi ngày trong cộng đoàn tu sĩ, những con người cùng một chí hướng luôn gặp nhau; mỗi tháng đều tụ họp lại để phân định Ý Chúa. Như thế, xét trên nguyên tắc, sự hiệp thông được tỏ lộ như bầu khí các tu sĩ sống, làm việc, hoạt động và cử hành.
Như chúng ta đã rõ: hình ảnh lý tưởng được Luca vẽ ra trong sách Công vụ về cộng đoàn tín hữu sơ khai một lòng một chí quanh Chúa Giêsu được đại diện bởi các tông đồ được hiện thực một mức nào đó trong cộng đoàn tu sĩ. Các vị sáng lập dòng đều lấy cảm hứng thần linh từ đó cho đặc sủng/đoàn sủng của mình.
Cộng đoàn tu sĩ được Đức Gioan Phaolô II định nghĩa như cộng đoàn hằng ngày bước theo linh đạo hiệp thông trong đó huấn luyện chúng ta thành những người có thể nhìn thấy Đức Giêsu Kitô nơi mọi người, nhất là những người bị bỏ ra bên lề.
Tuy nhiên, nhiều lần chúng ta nghĩ về người khác hơn là trong chính cộng đoàn mình: trong cộng đoàn tu sĩ có ai bị loại ra ngoài lề không? Cộng đoàn tu sĩ có thực sự cùng nhau phân định Thánh Thần đang nói cho mình hay không? Cộng đoàn dám đón nhận tiêu chuẩn sống truyền giáo hơn là “bo bo bảo tồn những cơ sở và cơ cấu” hay không? Nếu duyệt xét được như thế, thì đó đã là một đóng góp quý báu cho Thượng Hội đồng Giám mục 2021-2023 rồi. Như vậy chính tiến trình hình thành một GH hiệp hành trở thành “phần rỗi” cho cộng đoàn tu sĩ, vì cộng đoàn đó đang được Thánh Thần đào tạo thành cộng đoàn tu sĩ hiệp hành.
Hiệp hành là cấu tố của GH; cũng là “cấu tố” của cộng đoàn tu sĩ vậy. Nơi đó, quyền bính là một tác vụ, sự phục vụ chân thật. Hình ảnh “Kim tự tháp lộn ngược” nói gì cho cộng đoàn tu sĩ? Đơn giản: những người đứng ở dưới người khác như người tôi tớ. Và một điều tỏ lộ hơn hết: ecclesia docens và ecclesia discens không còn chia tách nữa. Phải hơn ecclesia docens sẽ sai lầm nếu trước đó không phải là ecclesia discens; học kép: Thiên Chúa và con người.
Lắng nghe, Phân định trong đối thoại là chuyện thường hằng chứ không phải tuỳ dịp. Không ảo tưởng được: đừng hòng có một GH hiệp hành, một cộng đoàn tu sĩ hiệp hành, một GH hiệp hành tại gia mà không có đối thoại. Không thể có GH ấy, nếu chỉ “bằng mặt chứ không bằng lòng”, không thể dám gặp nhau để thảo luận các vấn đề chung cũng như riêng; kinh nghiệm này, Đức Phanxicô đã nói nhiều lần bằng những hạn từ, thí dụ rất cụ thể và hiện sinh.
Sự lắng nghe, phân định và đối thoại đây không phải là chuyện tìm đa số theo kiểu chính trị dân chủ hay đảng phái. Nó bộc lộ ý nghĩa sâu xa của sự hiệp thông: hiệp thông với Thánh Thần, với các sự thánh và với các thánh. Nhưng nó còn diễn đạt sự hiệp thông phẩm trật (communio hierarchica), sự hiệp thông của các GH (communio ecclesiarum) và s75 hiệp thông các tín hữu (communio fidelium) và tất cả nói lên một sensus fidei fidelium: không thể sai lầm trong đức tin và phong hoá nhờ dầu Thánh Thần. Giống như LG chương hai bối cảnh hóa chương 3 (phẩm trật) và chương 4 (giáo dân) thì communio fidelium bối cảnh hoá communio ecclesiarum và communio hierarchica.
- GIÁO HỘI HIỆP HÀNH TRONG TRUYỀN GIÁO
Dân Chúa vui mừng vì trong đại dịch, anh chị em tu sĩ đã chung tay góp sức như một Giáo hội ra khỏi chính mình, chết cho chính mình để anh chị em chúng ta được sống, được an ủi, được yêu thương.
GH hiệp hành không có mục đích nào khác hơn là trở thành cộng đoàn môn đệ truyền giáo. Không chỉ là làm vài việc truyền giáo, song là trở thành GH truyền giáo. Điều này mới đảm bảo cho chúng ta truyền giáo không phải là chuyện chiêu dụ tín đồ.
Lắng nghe, phân định và đối thoại để thấy rõ ý định cứu độ của Thiên Chúa xuyên qua chúng ta: thanh tẩy và biến đổi chúng ta thành dụng cụ hữu hiệu của tình thương ngài.
Kết luận: Hạt nhân sinh động của tiến trình xây dựng một GH hiệp hành
Đòi hỏi ba điều: thời gian. Không thể vội vàng, một sớm một chiều sẽ có ngay một GH hiệp hành: ăn tô cháo nóng phải chậm chậm đi từ vành ngoài; một sự xây dựng lại, phục hồi không chỉ những truyền thống linh đạo của Giáo hội hay những cơ cấu Thượng Hội đồng Giám mục, nhưng là khôi phục nguồn mạch cảm thức đức tin (resourcement of the sensus fidelium), một sự phục hồi việc dân Chúa như cộng đoàn nhớ lại ơn sủng tuyệt vời được ban cho mình; và sứ mệnh: Dân chúa nhìn vào trong chính mình, qua những thực hành hiệp hành và cơ cấu, để sống trung thành giữa những bối cảnh đặc thù, nhưng còn học để sống tiếng gọi tông đồ là gặp gỡ người khác và chia sẻ tin mừng.
Nguồn: tgpsaigon.net (08.01.2022)
[1] X. Đức Phaolô VI, diễn từ khai mạc công đồng Vatican II khoá 4.
[2] X. Hội đồng Giám mục Việt Nam, Thư chung gởi hậu Đại hội Dân Chúa 2010.
[3] X. EG 23, 27, 40.
[4] X. Đức Phaolô VI, Ecclesiam Suam.
[5] X. Đức Gioan XXIII, Diễn văn khai mạc Công đồng Vatican II; Đức Phaolô VI, Ecclesiam Suam.
[6] X. EG 20, 27, 78-101.
