2022
Một vị Chuẩn tướng trong quân đội trở thành một linh mục ở tuổi 61
Một vị Chuẩn tướng trong quân đội trở thành một linh mục ở tuổi 61
Việc cha Henri Pillot được chịu chức là điều bất thường, và cuộc đời của cha đã trở thành nguồn cảm hứng cho cộng đoàn mà ngài phục vụ.
Henri Pillot đã có một sự nghiệp phi thường, ông từ học viện quân sự ở Saint-Cyr Pháp gia nhập vào Đại chủng viện Lyon. Cha đã từng đóng quân ở các dãy núi Algeria, trong cánh đồng vắng Coëtquidan (bãi huấn luyện quân sự ở Brittany) và dãy núi Alps. Cha Henri Pillot được tấn phong bởi Giám mục Decoutray vào năm 1992, làm dấy nên một chấn động. Năm 61 tuổi, ông là một vị tướng được gia nhập vào hàng giáo phẩm của Giáo phận Lyon.
Một linh mục đã phục vụ gương mẫu
Mặc dù tuổi tác, cuộc sống và thói quen của một sĩ quan cao cấp thật khác biệt với đời sống của một linh mục, nhưng sức lôi cuốn của ngài đã nhanh chóng đưa ngài phục vụ những người trẻ với tư cách là một tuyên úy của các tu sĩ Carthusia và của các hướng đạo sinh.
Những người được cha Henri phục vụ không biết nhiều về đời binh nghiệp của cha vì cha ít nói về cá nhân ngài: Nói về cấp bậc của cha đủ để làm cho mọi người kính nể, với hàng ngàn huy chương, khiến người đời phải trố mắt khâm phục. Chắc chắn, cuộc sống thường ngày, với một cái bắt tay mạnh mẽ, bộ ria mép chải chuốt, mà ngài đã từng chải chuốt trong đời binh nghiệp trước đây…
Cha Henri thích cười to tiếng
Cha Pillot thích cười. Cha ấy cười rất nhiều, và cười to tiếng. Cha đã phục vụ đất nước trong đời quân ngũ và giờ đây cha phục vụ Giáo hội theo gương của Chúa Kitô vị mục tử nhân lành. Với vai trò là Chuẩn tướng, ngài đã phục vụ quê hương và là linh mục của Chúa Giêsu Kitô, cha đã sống cuộc đời còn lại “như một người hướng đạo trở về nhà sau một chuỗi hành trình…”
Thanh Quảng sdb
2022
Ơn toàn xá trong Ngày Thế giới Ông bà và Người Cao tuổi
Ơn toàn xá trong Ngày Thế giới Ông bà và Người Cao tuổi
Nhân Ngày Thế giới ông bà và Người Cao tuổi lần thứ Hai, Toà Ân giải Tối cao ban ơn toàn xá cho ông bà, người cao tuổi, và tất cả các tín hữu tham dự Thánh Lễ do Đức Thánh Cha chủ sự hoặc những cử hành khác ở khắp nơi trên thế giới với tinh thần sám hối và bác ái.
Quan tâm đến ông bà và người cao tuổi (Vatican Media)
Ngày 30/5, Toà Ân giải tối cao, với năng quyền Đức Thánh Cha Phanxicô, đã ra sắc lệnh về việc ban ơn toàn xá này thể theo lời thỉnh cầu của ĐHY Kevin Joseph Farrell, Bộ Trưởng Bộ Giáo dân, Gia đình và Sự sống, nhân Ngày Thế giới Ông bà và Người Cao tuổi lần thứ hai, được ĐTC Phanxicô thiết lập, được cử hành vào Chúa Nhật thứ tư của tháng Bảy.
Sắc lệnh viết: Ơn Toàn xá này được ban “theo các điều kiện thông thường (xưng tội, rước lễ và cầu nguyện theo ý Đức Giáo Hoàng) cho ông bà, người cao tuổi và tất cả các tín hữu, được thúc đẩy bởi tinh thần sám hối và bác ái thực sự, vào ngày 24 tháng 7 năm 2022, nhân Ngày Thế giới Ông bà và Người cao tuổi lần thứ hai, sẽ tham dự Thánh Lễ trọng thể do Đức Thánh Cha Phanxicô chủ sự tại Đền thờ Vatican, hoặc các cử hành khác nhau diễn ra trên toàn thế giới. Ơn toàn xá này có thể như một sự cầu bầu dành các linh hồn trong Luyện ngục.”
Ơn Toàn xá này cũng được ban cho những tín hữu sẽ dành thời gian thích đáng, bằng sự hiện diện hoặc qua phương tiện truyền thông, để thăm viếng những người cao tuổi đang cần hoặc đang gặp khó khăn (chẳng hạn như người bệnh, người bị bỏ rơi, tàn tật).
Ơn Toàn xá cũng được ban, với điều kiện tránh xa tội lỗi và ý hướng thực hiện ba điều kiện thông thường, cho những người già đau yếu và tất cả những người không thể rời khỏi nhà vì một lý do nghiêm trọng, với tinh thần tham dự vào các cử hành thiêng liêng của Ngày Thế giới Ông bà và Người cao tuổi, dâng những lời cầu nguyện, những đau khổ trong cuộc sống của họ lên Thiên Chúa Thương xót, đặc biệt trong khi theo dõi các cử hành của Đức Thánh Cha hoặc các cử hành khác qua các phương tiện truyền thông.
Sắc lệnh cũng mời gọi các linh mục, theo năng quyền thích hợp, sẵn sàng và quảng đại cử hành bí tích Hoà giải cho các tín hữu.
Văn Yên, SJ
2022
Tân hồng y Marengo: một sứ vụ tôi sẽ sống trong niềm vui, khiêm tốn và trong đối thoại
Tân hồng y Marengo: một sứ vụ tôi sẽ sống trong niềm vui, khiêm tốn và trong đối thoại
Tu sĩ Dòng Truyền giáo Consolata, Giám quản Tông tòa ở Oulan-Bator, Mông Cổ, người gốc Cuneo, nhưng bây giờ là Turin, giám mục Giorgio Marengo là một trong các tân hồng y sẽ được Đức Phanxicô phong vào cuối tháng 8. Cảm xúc của ngài trong cuộc phỏng vấn với Vatican News ngay sau khi biết tin.
Điểm nổi bật của các vùng ngoại vi Giáo hội công giáo, nơi giáo dân chiếm thiểu số và chỉ sống dựa vào Phúc âm là phục vụ khiêm tốn và đối thoại. Điều này dẫn đến việc giám mục Giám quản Tông tòa Giorgio Marengo, 48 tuổi được Đức Phanxicô chọn đưa vào Hồng y đoàn của ngài. “Ngạc nhiên, biết ơn và dấn thân” là những lời đầu tiên của giám mục Marengo, nhà truyền giáo Consolata sau khi nghe tin.
Sau khi học triết học và lấy bằng tiến sĩ về thần học tại Rôma, Giorgio Marengo khấn vĩnh viễn ngày 24 tháng 6 năm 2000 trong Dòng truyền giáo Consolata, ngài chịu chức năm 2001. Từ đó ngài đi châu Á, phục vụ trong nhiều cương vị khác nhau ở Arvaiheer, Mông Cổ, nhà truyền giáo đầu tiên của Dòng Đức Mẹ Vô Nhiễm Consolata; là Ủy viên Hội đồng Khu vực Châu Á, bề trên lãnh thổ Mông Cổ và cha xứ giáo xứ Đức Mẹ Nhân từ ở Arvaiheer. Hai năm trước, Đức Phanxicô bổ nhiệm giám mục làm Giám quản Tông Tòa Oulan-Bator (Mông Cổ) và bây giờ ngài nâng lên hàng hồng y chỉ vài ngày sau khi giám mục đang ở Rôma, ngài cùng với phái đoàn chính quyền Phật giáo Mông Cổ kỷ niệm ba mươi năm quan hệ ngoại giao với Tòa thánh và sự hiện diện của người công giáo ở đất nước Á châu này. Giám mục Marengo nói: “Chính với họ mà tôi chia sẻ niềm vui, dù ‘ở đây’ tiếng nói còn vang hơn trong cộng đồng nhỏ bé của tôi ở Mông Cổ, nơi tôi sẽ mang tin vui lớn lao này về cho họ.”
Giám mục Marengo chia sẻ những cảm xúc đầu tiên khi nghe tin.
Cha nhận tin phong 21 vị tân hồng y, có phải là một bất ngờ với cha không?
Đó là một bất ngờ rất lớn với tôi. Tôi nhận được tin vào cuối thánh lễ ngày chúa nhật với các các nữ tu truyền giáo Consolata trong ngôi nhà mẹ của họ, và đó là giây phút trong tình huynh đệ và rất bất ngờ. Suy nghĩ đầu tiên của tôi là Đức Phanxicô đã quan tâm rất nhiều đến Giáo hội thuộc một thiểu số tuyệt đối như Giáo hội ở Mông Cổ. Vì thế chúng tôi rất biết ơn ngài, ngài đã quan tâm đến các cộng đồng nhỏ bé, sống bên lề. Ngạc nhiên và biết ơn là những điều rất có ý nghĩa cho Giáo hội nhỏ bé chúng tôi ở đất nước này.
Trước hết, Đức Phanxicô xin các tân hồng y tiếp tục hỗ trợ ngài trong cương vị giám mục giáo phận Rôma vì lợi ích cho dân Chúa. Cha nghĩ chúng ta có thể làm gì?
Tôi không biết tôi có thể cống hiến được gì nếu không phải là sự tận tụy của tôi, tiếp tục đi trên con đường Phúc Âm như trường truyền giáo của tôi đã dạy chúng tôi làm, trong cương vị là người phục vụ Giáo hội, luôn hòa hợp với giáo hoàng. Tôi nghĩ đó là một công việc đòi hỏi rất cao, nhưng đồng thời tôi muốn đặt công việc này trong tay Mẹ Thiên Chúa để Mẹ có thể hướng dẫn tôi. Tôi nghĩ nếu mỗi người chúng ta đều làm bổn phận Chúa yêu cầu mình, thì chúng ta có thể luôn phục vụ Giáo hội, làm cho Tin Mừng luôn minh bạch, làm cho mọi người biết Chúa Giêsu đang ở đâu.
Một hồng y khiêm tốn và phục vụ, nhưng cha là một trong những người trẻ tuổi nhất…
Đó là điều bất ngờ làm cho tôi càng cảm thấy nhỏ bé hơn khi biết mình ở trong Hồng y đoàn, nơi có những người giàu kinh nghiệm hơn tôi rất nhiều, với trí tuệ và kiến thức tuyệt vời. Vì vậy, trong tôi có một thôi thúc muốn học hỏi ở những người có nhiều kinh nghiệm. Với tôi, sống ơn gọi này có nghĩa là tiếp tục đi trên con đường nhỏ bé, khiêm nhường và đối thoại. Tôi đang ở Rôma trong những ngày này với một nhà lãnh đạo phật giáo Mông Cổ, và điều quan trọng là chúng tôi đã vui mừng cùng nhau trước tin này, điều này chứng tỏ Giáo hội Mông Cổ là một thực tại 360 độ, cố gắng bước đi với tất cả những người thiện chí và những người cam kết đối thoại. Vì thế tôi tin tất cả những điều này sẽ được tiếp tục và có thể tăng thêm hữu ích cho những gì Giáo hội đã làm.
Cha về Mông Cổ với tin vui này với một sự đơn giản như thường lệ?
Đúng rồi, vì cộng đồng chúng tôi rất nhỏ, các tin này không có ý nghĩa như ở những nơi khác trên thế giới, nơi các công việc của Giáo hội được biết đến nhiều hơn. Nhưng sẽ là một thông điệp vui mừng chia sẻ với giáo dân và những người bạn không theo đạo của chúng tôi, sống trong sự giản dị nhất.
Giuse Nguyễn Tùng Lâm dịch
2022
Nữ tu Shalini Mulackal dấn thân cho người Dalit ở Ấn Độ
Nữ tu Shalini Mulackal dấn thân cho người Dalit ở Ấn Độ
Sơ Shalini Mulackal là nữ chủ tịch đầu tiên của Hiệp hội Thần học Ấn Độ. Sơ đã viết nhiều bài báo tập trung vào việc trao quyền cho phụ nữ trong Giáo hội và trong xã hội, và rất quan tâm đến các vấn đề xã hội có ảnh hưởng đến người nghèo nói chung và phụ nữ nói riêng.
Phụ nữ chủ tịch đầu tiên của các thần học gia
Sơ Shalini là thành viên của Hội Thần học Ấn Độ và được chọn làm nữ chủ tịch đầu tiên của Hiệp hội nhiệm kỳ 2014-2017. Mặc dù trước đó đã có nhiều nữ tu đã hoàn thành các nghiên cứu như sơ nhưng đa số không tham gia vào các hoạt động công khai. Vì thế trong lĩnh vực nữ quyền của đất nước, số phụ nữ tham gia rất ít. Rất ít nữ giáo dân được đào tạo trong lĩnh vực thần học.
Nữ quyền
Theo sơ, một nhà nữ quyền là người nhận thức được tình trạng bị áp bức mà phụ nữ đang phải trải qua và là người làm một điều gì đó để thay đổi tình trạng này. Chính khi nghiên cứu thần học mà sơ nhận ra rằng phụ nữ Ấn Độ chỉ ở vị trí thứ yếu trong xã hội, cùng với những đối xử tàn bạo đối với phụ nữ và trẻ nữ. Xã hội và Giáo hội Ấn coi vấn đề phụ nữ phải phục tùng nam giới là “bình thường”. Qua việc giảng dạy và các bài viết, sơ tiếp tục nâng cao nhận thức, đặc biệt đối với những người đang theo học để trở thành linh mục và nữ tu.
Nghiên cứu về người Công giáo Dalit
Hiện nay, sơ là chủ tịch Trung tâm nghiên cứu Dalit ở New Delhi do tiến sĩ James Massey thiết lập. Dân số người Dalit khoảng 200 triệu, là những người không có đẳng cấp trong xã hội. Họ bị phân biệt đối xử ở mọi cấp độ. Cách đây vài năm có một sinh viên đã tự sát và đã để lại một lá thư trong đó nói rằng anh đến trần gian này là một định mệnh. Sai lầm duy nhất của anh là đã sinh ra làm người Dalit. Đã có một thời gian nhiều người Dalit chuyển sang Kitô giáo vì họ tin rằng Kitô giáo không tin vào chế độ đẳng cấp và mọi người được tôn trọng như nhau. Nhưng theo sơ, thực tế ở Ấn Độ vẫn còn những Kitô hữu vẫn chưa hoàn toàn giải thoát mình khỏi não trạng đẳng cấp, và như thế ở một số nơi người Dalit cảm thấy mình thuộc về hạng hai.
Trung tâm Nghiên cứu Dalit dưới sự điều hành của tiến sĩ James Massey đã thực hiện dự án chú giải tất cả các sách Kinh thánh, một bộ sách gồm hai mươi tập đã được hoàn thành. Sơ đã đóng góp hai tập. Chú giải Kinh thánh Dalit là cuốn đầu tiên thuộc loại này ở Ấn Độ. Mục đích là để đọc Kinh thánh từ quan điểm của thực tế Dalit và tìm cách trao quyền cho họ. Vì vậy, trong khi viết chú giải về ba cuốn sách Rut, Ester và Giuđitha, sơ tập trung vào phụ nữ Dalit và hoàn cảnh của họ. Sơ nhấn mạnh vào hành động của những người phụ nữ Dalit, như ba người phụ nữ trong Kinh thánh, những người đã chủ động cứu dân tộc của họ.
Với sinh viên trong khu ổ chuột
Trường Cao đẳng Thần học Divya Jyoti, nơi sơ đã giảng dạy từ năm 1999, nhấn mạnh vào thần học bối cảnh. Khóa học đầu tiên dành cho sinh viên năm thứ nhất được gọi là “Thần học nhập môn và phân tích văn hóa xã hội”. Ngay từ đầu, sơ đã phụ trách môn này. Trong nội bộ, trường cung cấp cho sinh viên các chương trình liên hệ trực tiếp tại Delhi.
Sơ cho biết về dự án này như sau: Cho đến nay, chúng tôi không sống trong khu ổ chuột, nhưng tôi đã đưa học sinh đến các khu ổ chuột ở Delhi, đặc biệt những người kiếm sống ở bãi rác. Chúng tôi leo lên một cấu trúc hình ngọn đồi, thực ra là một đống rác. Khi chúng tôi lên đến đỉnh, điều ấn tượng nhất là nhìn thấy động vật và con người đang vật lộn và chiến đấu để giành lấy bất cứ thứ gì có thể lấy được khi rác thải mới được đổ ra từ các xe tải. Đó là một cảnh tượng khủng khiếp. Mùi hôi bốc lên từ chất thải thật không thể chịu nổi. Tuy nhiên, chúng tôi thấy nhiều người và cả trẻ em ở lại nơi đó cả ngày để kiếm sống. Chúng tôi cũng đến thăm một số ngôi nhà của họ nằm dưới chân ngọn đồi đó.
Không có từ ngữ nào để diễn tả sự khốn cùng mà họ đang sống. Buổi trải nghiệm để lại cho học sinh nhiều ấn tượng sâu sắc về nỗi khổ của người nghèo ở Ấn Độ. Và điều này trở thành điểm quy chiếu cho suy tư thần học của chúng tôi. Tôi cũng đưa họ đến Jantar Mantar, một nơi ở Delhi, nơi mọi người có thể đến và phản đối những sai trái khác nhau mà họ phải gánh chịu. Sinh viên tương tác với những người này. Họ có thể ở đó hàng tuần và hàng tháng để đòi hỏi quyền lợi chính đáng của họ từ chính phủ.
Gia đình và ơn gọi
Sơ Shalini Mulackal là con thứ ba trong số 10 anh chị em của một gia đình Công giáo nghi lễ Syro-Malabar ở Kerala, Ấn Độ. Tất cả lớn lên trong một gia đình đầm ấm, cùng với ông bà.
Kể về gia đình, sơ nói: “Ông tôi là một người đạo hạnh, mỗi tối ông hướng dẫn gia đình cầu nguyện, thường xuyên tham dự Thánh lễ, và nếu ngày nào không thể đi được ông cầu nguyện nhiều hơn. Tôi nhớ khi còn nhỏ, vào sáng sớm tôi thường nghe ông bà cầu nguyện với kinh Mân Côi.”
Mẹ tôi có một đức tin sâu sắc vào Chúa và một lòng sùng kính Đức Mẹ đặc biệt. Bà đã cố gắng để tất cả con cái được lớn lên trong đức tin này. Mùa Vọng và Mùa Chay, bà khuyến khích chúng tôi đi tham dự Thánh lễ mỗi ngày, và ăn chay vào ngày thứ Tư và thứ Bảy. Bà khắc ghi trong lòng chúng tôi các giá trị, đặc biệt sự thật và lòng trung thực. Chính từ nền giáo dục này đã cho tôi sự dịu dàng và lòng trắc ẩn đối với những người nghèo và đau khổ. Năm 15 tuổi, mục tiêu của tôi là trở thành bác sĩ để phục vụ những người cần giúp đỡ và nghèo khổ. Lúc đó tôi không muốn lập gia đình và có một gia đình riêng. Nhưng tôi cũng không muốn vào tu viện trở thành nữ tu.
Nhưng rồi Chúa đã có dự tính của Người trên cuộc đời tôi. Người đã chọn tôi để trong đời sống dâng hiến, tôi có nhiều cơ hội hơn phục vụ người nghèo. Khi tìm hiểu đặc sủng Dòng Đức Mẹ Dâng Mình tôi nhận ra đây là ơn gọi của tôi.
Ngọc Yến
