2022
Đức Thánh Cha chia buồn về sự ra đi của cựu tổng thống Angola
Đức Thánh Cha chia buồn về sự ra đi của cựu tổng thống Angola
Trong một điện thư chia buồn về sự ra đi của ông José Eduardo dos Santos, cựu tổng thống Angola, được ký bởi Đức Hồng Y Pietro Parolin, Quốc vụ khanh Toà Thánh, Đức Thánh Cha viết: “Cựu tổng thống là một chính khách đã làm việc chăm chỉ để xây dựng quốc gia”.
Là con trai của một thợ nề, ông José Eduardo dos Santos lớn lên trong một khu phố nghèo của Sambizanga ở Luanda. Từ khi còn rất trẻ ông đã tham gia Phong trào Nhân dân Giải phóng Angola (MPLA). Vì thế ông đã phải sống lưu vong vì sự đàn áp của chính phủ. Dù phải sống xa quê hương ông vẫn tiếp tục cộng tác với Phong trào và nhanh chóng trở thành phó chủ tịch của tổ chức. Năm 1962, ông được chuyển đến Congo thuộc Pháp và sau đó được cử đi hoàn thành khóa đào tạo tại Liên Xô với bằng kỹ sư tại Baku. Năm 1970, ông trở lại Angola, tiếp tục hoạt động và có một vai trò quan trọng trong cuộc đấu tranh vũ trang giành độc lập của đất nước cùng với nhà lãnh đạo dân tộc lịch sử Agostinho Neto. Sau tuyên bố độc lập của Angola (năm 1975), ông trở thành bộ trưởng ngoại giao trong chính phủ Neto.
Ông José Eduardo dos Santos đóng một vai trò quan trọng trong việc công nhận ngoại giao của chính phủ mới vào năm 1975-1976. Năm 1977, ông được tái bầu vào Ủy ban Trung ương của Phong trào Nhân dân Giải phóng Angola và một năm sau đó, ông giữ vai trò Bộ trưởng Bộ Kế hoạch. Sau khi ông Agostinho Neto qua đời vào ngày 10/9/1979, ông kế vị và mười ngày sau đó nhậm chức tổng thống Angola. Khi Chiến tranh Lạnh kết thúc và Liên Xô sụp đổ, ông Dos Santos đã đảo ngược hoàn toàn chính sách: Nếu trong nước, ông hiện đại hóa các thể chế, loại bỏ chủ nghĩa Mác trong quá khứ, thì trong chính sách đối ngoại, ông thiết lập một liên minh vững chắc với Hoa Kỳ.
Ông José Eduardo dos Santos đã lãnh đạo Angola từ năm 1979 đến 2017.
Trong điện thư gửi tới ông João Manuel Gonçalves Lourenço, tổng thống Angola, Đức Thánh Cha bảo đảm sự gần gũi với gia đình của cựu tổng thống, với chính quyền và người dân Angola. Đức Thánh Cha nhắc đến cựu tổng thống là một chính khách là người đã làm việc chăm chỉ để xây dựng đất nước.
Đức Thánh Cha cầu xin Thiên Chúa Toàn Năng ban sự bình an đời đời cho linh hồn cựu tổng thống và ơn ủi an cho những ai thương khóc sự ra đi của ông. Đức Thánh Cha còn cầu nguyện xin Chúa ban “lòng can đảm không mệt mỏi cho tất cả những ai hoạt động vì sự thống nhất và tiến bộ của quốc gia”.
Ngọc Yến
2022
Đức Thánh Cha Phanxicô: Sự gần gũi của mục tử với người dân là kênh chuyển trao nguồn nước hy vọng sống động
Đức Thánh Cha Phanxicô: Sự gần gũi của mục tử với người dân là kênh chuyển trao nguồn nước hy vọng sống động
Ngỏ lời với các giám mục, giáo sĩ và giáo dân của Giáo hội Công giáo Đông phương Ucraina quy tụ tại nhà thờ chính toà thánh Gioan Tẩy Giả ở Przemysl, Ba Lan, nhân dịp khai mạc Thượng Hội đồng Giám mục của các Giám mục Giáo hội Công giáo Đông phương Ucraina, Đức Thánh Cha mời gọi các vị lãnh đạo của Giáo hội gần gũi với người dân, vì đó là kênh chuyển trao nguồn nước hy vọng sống động.
Các giám mục Công giáo Đông phương Ucraina (ANSA)
Đức Tổng Giám mục Salvatore Pennacchio, Sứ thần Tòa thánh tại Ba Lan, đã nhân danh Đức Thánh Cha, ngỏ lời với tất cả cộng đoàn quy tụ trong Phụng vụ Thánh do Đức tổng giám mục trưởng Sviatoslav Schevchuk chủ sự tại nhà thờ chính toà Thánh Gioan Tẩy Giả.
Mở đầu bài diễn văn, Đức Thánh Cha lưu ý rằng do cuộc chiến tranh đang diễn ra tại Ucraina, Thượng Hội đồng, từ ngày 7-15 tháng 7 năm 2022, không thể được tổ chức ở Kiev như đã được lên kế hoạch.
Các thánh tử đạo Ucraina bảo vệ dân tộc Ucraina
Nhắc lại việc Giáo hội Công giáo Đông phương Ucraina cử hành lễ kính Thánh Tử đạo Mykola Charnetsky và các tân tử đạo Ucraina khác hôm 27 tháng 6 năm 2022, Đức Thánh Cha nói: “Trong thời điểm này, chúng ta hiểu rõ hơn về bối cảnh mà các vị tử đạo này đã sống và chết, trong số đó có các giám mục, linh mục, tu sĩ, nữ tu và giáo dân đã trở thành nạn nhân của chế độ cộng sản Xô Viết. Hôm nay, từ thiên đàng, các ngài bảo vệ dân tộc đang đau khổ của các ngài. Tôi phó thác tất cả các thành viên của Thượng Hội đồng cho sự chăm sóc của các ngài.”
Đức Thánh Cha khẳng định rằng ngay cả hiện nay, ngài cũng hiệp nhất trong tinh thần với những người dân Ucraina đang đau khổ, đảm bảo với họ việc cầu nguyện và dấn thân của ngài.
Gặp gỡ giữa các mục tử và các tín hữu
Nói về chủ đề “Tính hiệp hành và tính Công giáo”, Đức Thánh Cha nói rằng Thượng Hội đồng nên nhắm đến thiện ích của Giáo hội và cá nhân các tín hữu. Đức Thánh Cha nhắc lại những lời ngài đã nói với Đức tổng giám mục Sviatoslav và các tổng giám mục của Giáo hội Công giáo Đông phương Ucraina trong cuộc họp chung vào tháng 7 năm 2019 được tổ chức tại Roma: “Sự gần gũi của các mục tử với các tín hữu là con kênh được xây dựng từng ngày và mang dòng nước hy vọng sống động. Con kênh này được xây dựng qua các cuộc gặp gỡ với các linh mục hiểu biết và lưu tâm đến những lo lắng của mọi người, và với các tín hữu, những người nhờ sự quan tâm chăm sóc mà họ nhận được, sống theo tin vui Phúc âm được các mục tử truyền đạt. Họ cảm nhận được điều đó nếu các mục tử nỗ lực dâng hiến cho Thiên Chúa: hiến thân, gần gũi với tư cách là chứng nhân của Thiên Chúa hy vọng, Đấng đã trở thành xác thịt để bước trên con đường của nhân loại, để Giáo hội là nơi mọi người kín múc nguồn hy vọng.” (Web UCCC 09/07/2022)
Hồng Thủy
2022
Công Giáo Đức giữa cuộc khủng hoảng
Công Giáo Đức giữa cuộc khủng hoảng
Dư luận Công Giáo tại Đức đang bị rúng động trong những ngày này. Những thống kê mới nhất cho thấy cộng đoàn Giáo Hội tại đây tiếp tục lâm vào tình trạng khủng hoảng nặng nề và người ta chưa thấy tia sáng hy vọng nào chứng tỏ tình trạng này sẽ được vượt thắng.
Những con số mới nhất
Hôm 27/6/2022, viện thống kê quốc gia Đức và Hội Đồng Giám Mục Công Giáo Đức công bố thông cáo cho biết: trong năm 2021 số tín hữu Công Giáo làm đơn xin ra khỏi Giáo Hội đạt tới con số kỷ lục, gần 340 ngàn người (339.338), tức là tăng 26% so với năm 2020 trước đó (272.771). Nếu tính cả số người qua đời, thì trong năm 2021, Công Giáo Đức mất đi nửa triệu tín hữu.
Tổng cộng số tín hữu Công Giáo tại Đức hiện nay là hơn 21 triệu 600 ngàn người, tương đương với 26% dân số toàn quốc và là cộng đoàn Kitô đông nhất tại nước này. Cách đây 10 năm, 2011, số tín hữu Công Giáo tại Đức là 24 triệu 675 ngàn người.
Tình trạng Tin Lành tại Đức cũng không khá hơn. Theo thống kê công bố hồi tháng 3 năm nay, Tin Lành tại Đức trong năm 2021 có 19 triệu 720 ngàn tín hữu thuộc 20 Giáo Hội khác nhau, chiếm 23,7% dân số toàn quốc. Trong năm 2021, có 280 ngàn tín hữu Tin Lành làm đơn ra khỏi các Giáo Hội liên hệ, một con số kỷ lục từ trước đến nay.
Phản ứng
Đức Cha Georg Baetzing, Giám Mục giáo phận Limburg, Chủ tịch Hội Đồng Giám Mục Công Giáo Đức, bình luận rằng sự suy giảm trên đây là dấu hiệu một sự khủng hoảng sâu đậm của Giáo Hội Công Giáo tại Đức. Ngài nói: “Thật không phải là điều hay, đẹp khi nói về điều này… Tôi cảm thấy bị rúng động sâu đậm vì con số người ra khỏi Giáo Hội cực kỳ cao như vậy”.
Theo Đức Cha Baetzing, “Con đường Công nghị” của Công Giáo Đức là điều đúng, và Giáo Hội tại Đức tiếp tục tiến bước theo đường hướng con đường công nghị đã được đề ra. Qua “Con đường công nghị” này, Đức Cha Baetzing cùng với 2/3 các GM Đức, và Ủy ban trung ương giáo dân Công Giáo Đức cổ võ cải tổ Giáo Hội sau những vụ Giáo sĩ lạm dụng tính dục trẻ vị thành niên trong những thập niên trước đây.
“Con đường công nghị” này muốn cải tổ trong 4 lãnh vực: thực thi quyền bính trong Giáo Hội, cụ thể là dân chủ hóa; vai trò của phụ nữ trong Giáo Hội, trong đó có việc cho phụ nữ chịu thánh chức, cải tổ luân lý tính dục của Giáo Hội cho hợp thời và sau cùng là thay đổi luật độc thân giáo sĩ. Khóa họp toàn thể của Công nghị có 230 đại biểu, đa số là giáo dân.
Theo Đức Cha Baetzing, phần lớn những người xin ra khỏi Giáo Hội là những người từ lâu không còn tiếp xúc hay liên hệ với giáo xứ của họ nữa và Đức Cha hy vọng nhờ con đường Công nghị, giáo dân sẽ xích lại gần hơn với các giáo xứ của họ.
Vấn đề đã có từ lâu
Thật ra vấn đề tín hữu Công Giáo và Tin Lành Đức làm đơn xin ra khỏi Giáo Hội liên hệ đã có từ lâu và các vị lãnh đạo Giáo Hội cũng đã tìm những phương thế để lật ngược trào lưu này.
Nhiều người đã đưa ra những giải thích về nguyên nhân. Ví dụ Giáo sư Ulrich Riegel, thuộc đại học Riegen, cho rằng 2 lý do chính khiến các tín hữu đi tới quyết định xin ra khỏi Giáo Hội vì họ cảm thấy xa lạ, thiếu liên hệ với Giáo Hội. Đàng sau cảm tưởng đó có sự kiện họ cảm thấy Giáo Hội là một tổ chức quan tâm đến quyền lực và tinh quái. Họ cho rằng Giáo Hội không đáng tin vì có sự cách biệt giữa điều Giáo Hội dạy và đường lối cư xử của một vài vị lãnh đạo hoặc đại diện Giáo Hội, những vụ xì căng đan giáo sĩ lạm dụng tính dục trẻ em. Nghĩa vụ phải đóng thuế cho Giáo Hội không phải là lý do chính, nhưng chỉ là một nhân tố đẩy mạnh trong một tiến trình gồm nhiều tác nhân khác nhau.
Nhưng theo một số nhà nghiên cứu khác, đối với nhiều tín hữu Tin Lành, nguyên nhân muốn tiết kiệm, xin ra khỏi Giáo Hội để khỏi phải trả tiền thuế cho Giáo Hội chiếm tới 71% các trường hợp rời Giáo Hội. Số tiền thuế này tương đương với 8 hoặc 9% thuế lợi tức đóng cho Nhà Nước. Khi không thuộc Giáo Hội hoặc tôn giáo nào thì đương sự không phải đóng thuế cho Giáo Hội hoặc tôn giáo của họ (Kathpress 10/3/2022)
Đức Cha Vorderholzer
Đứng trước lập trường của những người Công Giáo thuộc phe cấp tiến cho rằng để chặn đứng hoặc giảm bớt sự rời bỏ Giáo Hội, Giáo Hội cần phải tỏ ra cởi mở hơn, bãi bỏ luật độc thân giáo sĩ, cho phụ nữ đảm nhận tất cả các chức vụ trong Giáo Hội, như làm linh mục hoặc giám mục, cải tiến luân lý tính dục, chấp nhận hôn nhân đồng tính, cho những cặp ly dị tái hôn và lãnh nhận các bí tích, v.v. Đức Cha Rudolf Vorderholzer, giám mục giáo phận Regensburg ở miền nam Đức, cảnh giác các tín hữu đừng nuôi ảo tưởng như thế.
Cách đây 5 năm, trong bài giảng ngày 27/7/2017 tại Đền Thánh nữ Anna Schaeffer thuộc giáo phận Regensburg, Đức Cha kêu gọi các tín hữu đừng nghĩ rằng chỉ cần thay đổi một số cơ cấu và qui luật là giải quyết tình trạng sa sút của Giáo Hội Công Giáo tại đây.
Đức Cha nói: “như một phương dược để lật ngược những xu hướng giảm sút nói trên cũng như để bảo tồn tầm quan trọng của chúng ta, người ta liên tục khuyên chúng ta hãy ‘cởi mở và loại bỏ những tín điều bảo thủ cứng nhắc’. Trong trường hợp này, người ta khuyên chúng ta:
– hãy bãi bỏ luật độc thân của các linh mục;
– loại bỏ những trách vụ khác nhau và việc bổ nhiệm người nam và người nữ trong Giáo Hội, cũng như đón nhận phụ nữ vào trong sứ vụ tông đồ;
– chấp thuận yêu cầu bình đẳng hoàn toàn về luật pháp của những cặp đồng phái với hôn nhân;
– chấp nhận cho bất kỳ ai được rước lễ, v.v.
“Cũng như tôi, anh chị em biết rõ danh sách những đòi hỏi ấy.
“Anh chị em thân mến! Chúng ta sẽ thấy rõ bản chất của những lời khuyên ấy có vấn đề nếu chúng ta liếc qua thống kê về Giáo Hội Tin Lành Luther. Giả sử việc áp dụng những lời khuyên được kể trên đây thực sự là phương thế để cải tiến tình trạng Giáo Hội, thì nó phải được thấy rõ trong Giáo Hội Tin Lành Luther.
“Nhưng những con số thống kê về Giáo Hội Luther cho thấy gì? Nó cho thấy số người rời bỏ Giáo Hội Tin Lành đông hơn số tín hữu rời bỏ Công Giáo – và tiếp tục như thế từ nhiều năm rồi, ngoại trừ năm 2014, mặc dù trong Giáo Hội Tin Lành Luther tất cả những đòi hỏi nói trên đều được đáp ứng đầy đủ và tất cả những điều gọi là cản trở đối với Giáo Hội không còn nữa. Nhưng đại đa số quần chúng nói chung không biết đến điều đó, mặc dù những con số thống kê về hai Giáo Hội được công bố cùng một ngày. Phải chăng người ta cố tình không biết tới sự kiện ấy vì nó cho thấy sự yếu thế tỏ tường, sự vô lý và không có chất lượng của những lời ‘khuyên bảo’ gọi là tốt mà người ta muốn dành cho Giáo Hội Công Giáo?!
“Chúng ta phải nhìn rộng hơn trong toàn thể cuộc thảo luận. Các con số thống kê tỏ cho thấy có sự tục hóa đang lan rộng từ nhiều năm nay rồi, tín hữu không cảm thấy mình thuộc về Giáo Hội nữa, và sau cùng là suy yếu đức tin, không còn ý thức về Thiên Chúa. Đó là lý do tại sao chúng ta thiếu linh mục, nhưng đúng hơn, đó là một sự suy yếu cơ bản về đức tin. Tình trạng thiếu linh mục là một triệu chứng, giống như cơn sốt. Cơn sốt tự nó không phải là bệnh, nhưng nó cho thấy sự hiện diện của một tình trạng bị viêm. Tôi chắc chắn rằng cơn sốt thiếu linh mục cho thấy bệnh thiếu đức tin. Giáo Hội Tin Lành Luther từ lâu đã chịu tình trạng thiếu mục sư, có rất ít người trẻ học thần học và muốn dấn thân phục vụ Tin Mừng; mặc dù trong Giáo Hội này không có luật độc thân giáo sĩ, và các phụ nữ cũng có thể làm mục sư! Sự kiện này phải giúp chúng ta thấy rõ đâu là những lý do đích thực khiến cho Giáo Hội bị sa sút…”
Đức giám mục giáo phận Regensburg cũng nhắc nhở rằng: Chúng ta đừng quan tâm nhiều tới con số và thống kê. Điều phải làm cho chúng ta quan tâm là Tin Mừng có thể thắp sáng môi trường của chúng ta, qua đời sống đức tin của chúng ta. Hễ nơi nào chúng ta làm lu mờ Tin Mừng vì thiếu quan tâm, thiếu tình thương, vì sự cứng cỏi, thì chúng ta được kêu gọi hoán cải và dành nhiều chỗ hơn cho Chúa.
Thay vì liên tục thay đổi cơ cấu, đặc biệt các cơ cấu bí tích của Giáo Hội, thay vì làm tan loãng sứ điệp Tin Mừng và thay vì công bố một sứ điệp không còn yêu sách của Chúa Giêsu, công cuộc loan báo Tin Mừng được kêu gọi làm cho xã hội được tràn đầy Thánh Linh của Chúa Giêsu. Và bước tiến đầu tiên, quan trọng nhất trên con đường này là hằng ngày cố gắng nên thánh, hằng ngày lắng nghe Lời Chúa và sẵn sàng bắt đầu cuộc cải tổ Giáo Hội bằng chính bản thân. Cuộc cải tổ là: canh tân đức tin, tái lập hình ảnh Chúa Kitô được ghi vào lòng chúng ta trong bí tích Rửa tội và Thêm sức. Nơi nào điều này được bảo đảm cho chúng ta trong lòng thương xót của Thiên Chúa, nơi nào chúng ta thành công như vậy, thì chúng ta sẽ làm cho con người thời đại chúng ta tái tò mò về đức tin đang nâng đỡ chúng ta. Và khi ấy chúng ta cũng có thể giải thích về niềm hy vọng nơi chúng ta.”
Giuse Trần Đức Anh, O.P
2022
Đức Thánh Cha chủ sự Thánh lễ với cộng đoàn các tín hữu Congo ở Roma
Đức Thánh Cha chủ sự Thánh lễ với cộng đoàn các tín hữu Congo ở Roma
Lúc 9 giờ 30 giờ sáng Chúa nhật 03/7/2022, tại bàn thờ Ngai toà trong đền thờ Thánh Phêrô, Đức Thánh Cha đã chủ sự Thánh lễ với cộng đoàn các tín hữu Congo ở Roma. Trong bài giảng ngài nói đến sự gần gũi của Chúa làm tâm hồn các tín hữu tràn ngập niềm vui, mang lại bình an và thúc giục các môn đệ ra đi loan báo Tin Mừng. Ngài còn giải thích về ba điều ngạc nhiên trong khi thi hành sứ vụ: Hành trang là người anh chị em; sứ điệp hoà bình; phong cách người môn đệ “như chiên con đi vào giữa bầy sói”
Đức Thánh Cha chủ sự Thánh lễ với cộng đoàn các tín hữu Congo ở Roma (Vatican Media)
Vì Đức Thánh Cha bị đau đầu gối nên Đức Tổng Giám Mục Paul Richard Gallagher, Ngoại trưởng Toà Thánh, thay ngài cử hành Thánh lễ tại bàn thờ.
Bầu khí Phụng vụ Thánh lễ sinh động, mang màu sắc truyền thống của dân tộc Congo với những điệu múa và bài hát Congo.
Bài giảng của Đức Thánh Cha
Đức Thánh Cha bắt đầu bài giảng như sau:
Lời Chúa làm tràn ngập niềm vui
Niềm vui: Lời Chúa chúng ta vừa nghe làm cho chúng ta tràn đầy niềm vui. Tại sao, thưa anh chị em? Vì như Chúa nói trong Tin Mừng “Triều Đại Thiên Chúa đã đến gần các ông” (Lc 10, 11). Đến gần: nghĩa là chưa đến, một phần còn bị ẩn khuất, nhưng gần với chúng ta. Và sự gần gũi của Thiên Chúa này ở trong Chúa Giêsu, là Chúa Giêsu, là suối nguồn niềm vui của chúng ta: chúng ta được yêu thương, và Chúa không bỏ mặc chúng ta. Tuy nhiên niềm vui đến từ sự gần gũi của Chúa, trong khi trao ban bình an lại không để chúng ta trong bình an. Niềm vui đặc biệt này tạo một sự thay đổi trong chúng ta: làm tràn ngập sự ngạc nhiên, thay đổi đời sống. Đây là điều xảy ra cho các môn đệ trong Tin Mừng: để loan báo về sự gần gũi của Thiên Chúa, các ông đi đến những nơi xa xôi, đi thi hành sứ vụ. Bởi vì ai đón tiếp Chúa Giêssu, cảm thấy mình phải bắt chước Người, làm như Người đã làm, nghĩa là đã bỏ trời cao để phục vụ chúng ta trên trái đất, và ra khỏi chính mình. Vì vậy, nếu chúng ta tự hỏi nhiệm vụ của chúng ta trên thế giới là gì, chúng ta phải làm gì với tư cách là một Giáo hội trong lịch sử, thì câu trả lời của Tin Mừng rất rõ ràng: sứ vụ.
Ba điều ngạc nhiên trong công cuộc loan báo Tin Mừng
Là Kitô hữu, chúng ta không thể hài lòng với lối sống tầm thường. Đây là một căn bệnh; nhiều Kitô hữu và cả chúng ta có nguy cơ sống tầm thường, chỉ bận tâm đến những cơ hội và thuận lợi của chúng ta, sống cho qua ngày. Không, chúng ta là những nhà truyền giáo của Chúa Giêsu. Nhưng anh chị em có thể nói: “Tôi không biết phải làm thế nào, tôi không có khả năng!”. Tin Mừng vẫn còn làm cho chúng ta ngạc nhiên, chỉ cho chúng ta thấy Chúa sai các môn đệ ra đi nhưng không đợi các ông đã sẵn sàng và được huấn luyện kỹ lưỡng: họ ở với Chúa chưa lâu, nhưng Người đã sai họ đi. Các ông chưa học thần học, nhưng Chúa vẫn sai các ông đi. Và cách Chúa sai các ông đi cũng làm cho chúng ta đầy ngạc nhiên. Như thế, chúng ta thấy được trong công cuộc loan báo Tin Mừng có ba điều ngạc nhiên mà Chúa Giêsu dành cho các môn đệ và cho mỗi người chúng ta.
Ngạc nhiên đầu tiên: Hành trang là người anh em
Để thực hiện một sứ vụ ở những nơi chưa biết, người ta cần phải mang theo một số thứ, chắc chắn là những thứ cần thiết. Trái lại, Chúa Giêsu không nói điều phải mang theo, nhưng Người nói những thứ không mang theo: “Đừng mang theo túi tiền, bao bị, giày dép” (câu 4). Như vậy thực tế là không mang theo gì: không hành lý, không có sự an toàn, không có sự trợ giúp. Chúng ta thường nghĩ rằng các sáng kiến của Giáo hội không hoạt động hiệu quả vì chúng ta thiếu cơ cấu, tiền bạc và phương tiện: điều này không đúng. Chính Chúa Giêsu phủ nhận điều này. Anh chị em thân mến, chúng ta đừng tin tưởng vào sự giàu sang và chúng ta không sợ sự nghèo khó vật chất và con người của chúng ta. Chúng ta càng tự do và đơn sơ, nhỏ bé và khiêm nhường, thì Chúa Thánh Thần càng hướng dẫn sứ vụ và làm cho chúng ta trở thành những người nắm giữ vai chính trong những điều kỳ diệu của Người.
Đối với Chúa Kitô, hành trang cơ bản là một điều khác: đó là người anh em. Tin Mừng nói: “Người sai các ông cứ từng hai người một đi trước” (câu 1). Các ông không đi một mình, nhưng luôn có người anh em bên cạnh. Luôn phải có người anh em bên cạnh, vì không có sứ vụ nào mà không có sự hiệp thông. Không có lời loan báo nào có kết quả mà không quan tâm đến người khác. Vì vậy, chúng ta có thể tự hỏi: là Kitô hữu, tôi suy nghĩ nhiều hơn về những gì tôi thiếu để có cuộc sống đầy đủ, hay tôi nghĩ về việc gần gũi hơn với anh chị em tôi, về việc quan tâm đến họ không?
Ngạc nhiên thứ hai: Sứ điệp bình an
Chúng ta đến với điều ngạc nhiên thứ hai của sứ vụ: sứ điệp. Thật hợp lý khi nghĩ rằng, để chuẩn bị cho việc loan báo, các môn đệ phải học những gì cần nói, nghiên cứu kỹ nội dung, chuẩn bị những bài phát biểu thuyết phục và rõ ràng. Thay vào đó, Chúa Giêsu chỉ đưa ra cho họ hai câu ngắn gọn. Câu đầu tiên dường như không cần thiết, đó là một lời chào: “Vào bất cứ nhà nào, trước tiên hãy nói: Bình an cho nhà này!” (câu 5). Điều này có nghĩa là ở bất cứ nơi nào, người môn đệ phải giới thiệu mình như những đại sứ hoà bình. Kitô hữu luôn mang đến sự bình an. Đây là dấu hiệu phân biệt: Kitô hữu là người mang sự bình an, bởi vì Chúa Kitô là sự bình an. Từ điều này, người ta sẽ nhận ra chúng ta là môn đệ của Chúa. Trái lại, nếu chúng ta loan truyền những lời đàm tiếu và ngờ vực, chúng ta tạo ra sự chia rẽ, chúng ta cản trở sự hiệp thông, chúng ta lệ thuộc nhiều thứ, thì chúng ta không hành động nhân danh Chúa Giêsu. Ai gây hận thù, kích động lòng căm thù, thì là những người không làm việc vì Chúa Giêsu, không mang lại sự bình an của Người. Anh chị em thân mến, hôm nay, chúng ta cầu nguyện cho hoà bình và hoà giải ở Congo, nơi có nhiều thương tích và bóc lột. Chúng ta hiệp nhất trong các Thánh lễ được cử hành trong đất nước theo ý chỉ này và chúng ta cùng cầu nguyện để các tín hữu trở thành những chứng tá hoà bình, có khả năng vượt qua mọi oán hận và trả thù, cám dỗ mà không thể hoà giải, vượt qua mọi sự gắn bó với nhóm của mình, điều không đưa đến điều tốt nhưng chỉ dẫn đến việc xem thường người khác.
Anh chị thân mến, hòa bình bắt đầu từ chúng ta; từ anh chị em và từ tôi, từ tâm hồn mỗi người. Nếu anh chị em sống trong bình an của Chúa Giêsu, Người sẽ đến và gia đình, xã hội của anh chị em sẽ thay đổi. Gia đình và xã hội thay đổi nếu trước tiên tâm hồn anh chị em không có chiến tranh, không được trang bị vũ khí oán hận và tức giận, không bị chia rẽ và giả dối. Đặt hòa bình và trật tự trong lòng, xoa dịu lòng tham, dập tắt hận thù và oán giận, thoát khỏi tham nhũng, gian dối và xảo quyệt: đây là nơi hòa bình bắt đầu. Chúng ta luôn muốn gặp những người hiền lành, tốt bụng, bắt đầu từ những người thân và hàng xóm của chúng ta. Nhưng Chúa Giêsu nói: “Các con hãy mang sự bình an cho ngôi nhà của các con, các con hãy bắt đầu tôn trọng người vợ của mình và yêu thương cô ấy bằng trái tim, tôn trọng và quan tâm trẻ em, người già và người lân cận. Hãy sống trong bình an, hãy khơi dậy hòa bình và hòa bình sẽ cư ngự trong nhà các con, trong Giáo hội, trong đất nước các con”.
Sau lời chào bình an, tất cả phần còn lại của sứ điệp được giao phó cho các môn đồ được rút gọn thành vài từ mà chúng ta đã bắt đầu và Chúa Giêsu lặp lại hai lần: “Triều đại Thiên Chúa đã đến gần! […] Triều đại Thiên Chúa đã đến gần” (câu 9 và 11). Loan báo sự gần gũi của Chúa, đó phong cách của Người; phong cách của Chúa là: sự gần gũi, lòng trắc ẩn và dịu dàng. Loan báo sự gần gũi của Chúa là một điều thiết yếu. Niềm hy vọng và sự hoán cải đến từ đây: từ việc tin rằng Thiên Chúa đang ở gần và trông chừng bảo vệ chúng ta: Người là Cha của tất cả mọi người, Đấng muốn tất cả chúng ta là anh chị em. Nếu chúng ta sống dưới ánh nhìn này của Thiên Chúa, thế giới sẽ không còn là chiến trường, nhưng là một khu vườn hòa bình; lịch sử sẽ không phải là một cuộc chạy đua về đích đầu tiên, nhưng là một cuộc hành hương chung. Tất cả những điều này – chúng ta hãy nhớ kỹ – không đòi hỏi những bài diễn văn tuyệt vời, nhưng cần những bài diễn văn ít lời và nhiều chứng tá. Vì vậy, chúng ta có thể tự hỏi: những người gặp tôi có thấy nơi tôi một chứng tá của hoà bình và sự gần gũi của Thiên Chúa không, hay là một người đang bị kích động, giận dữ, bất khoan dung, hiếu chiến không? Tôi có làm cho họ thấy Chúa Giêsu hay tôi che giấu Người bởi những thái độ hiếu chiến?
Ngạc nhiên thứ ba: Phong cách của người môn đệ
Trước hết là hành trang và tiếp đến là sứ điệp, điều ngạc nhiên thứ ba của sứ vụ liên quan đến phong cách của chúng ta. Chúa Giêsu yêu cầu các môn đệ của Người đi vào thế giới “như chiên con đi vào giữa bầy sói” (câu 3). Lý luận của thế gian nói ngược lại: bạn hãy tự khẳng định, hãy vượt lên trên người khác! Trái lại, Chúa Kitô muốn chúng ta trở nên những chiên con, chứ không phải những con sói. Điều này không có nghĩa là trở nên ngây thơ, nhưng là ghê tởm mọi bản năng của quyền lực và sự áp bức, lòng tham và sự chiếm hữu. Ai sống như một con chiên, không tấn công, không tham ăn: người đó ở trong đàn, với những người khác, và tìm thấy sự an toàn nơi Mục tử của họ, không tìm sự an toàn nơi sức mạnh hay kiêu ngạo, lòng tham tiền bạc và vật chất, những điều gây ra nhiều tổn hại cho Congo. Người môn đệ Chúa Giêsu từ chối bạo lực, không làm hại ai và yêu thương mọi người. Và nếu điều này đối với môn đệ dường như là điều thua thiệt, hãy nhìn vào Vị Mục Tử, Chúa Giêsu, Chiên Thiên Chúa, Đấng đã chiến thắng thế gian, trên Thánh giá. Và tôi – chúng ta hãy tự hỏi mình một lần nữa – sống như một chiên con, như Chúa Giêsu, hay như một con sói, như tinh thần của thế gian dạy, tinh thần gây chiến tranh?
Xin Chúa giúp chúng ta trở thành những nhà truyền giáo hôm nay, bước đi cùng với các anh chị em; có trên môi miệng sự bình an và gần gũi của Chúa; mang trong lòng sự hiền lành và nhân hậu của Chúa Giêsu, Chiên Con gánh tội trần gian.
Ngọc Yến
