2021
Yêu thương và phục vụ
2.1.2021 Thánh Cả Basil và Grêgôriô Nazianzen, Gmtsht
1 Ga 2:22-28; Tv 98:1,2-3,3-4; Ga 1:19-28
YÊU THƯƠNG VÀ PHỤC VỤ
Phụng vụ hôm nay nhắc cho chúng ta chân dung của hai vị thánh xuất thân từ Đông Phương, thánh Basiliô (sinh năm 330 tại Xêdarê, miền Capađôcia) và thánh Grêgôriô (sinh năm 330, tại Na-zi-an). Cả hai vị, tuy theo hai con đường để đi tìm chân lý, nhưng đều có chung một đích điểm: hai vị là bạn và là những người có khát vọng đi tìm sự khôn ngoan của Thiên Chuá.
Hai Thánh Basiliô cả và Grêgôriô Nazian đều được sinh ra tại Cappadoce, thuộc hai gia đình quí phái, danh tiếng, có địa vị vững chắc trong xã hội lúc đó.
Ngay trong ca nhập lễ các Thánh Giám mục đã có viết: “Ta sẽ kiểm điểm đoàn chiên của Ta và đặt một mục tử chăn dắt chúng. Còn Ta, Ta sẽ là Thiên Chúa của chúng” (lời Chúa phán). Thánh Basiliô cả và Grêgôriô Nazian là các vị mục tử tốt lành Chúa đã đặt lên để chăn dắt đoàn chiên của Ngài.
Hai Thánh Basiliô cả và Grêgôriô Nazian đều được sinh ra tại Cappadoce, thuộc hai gia đình quí phái, danh tiếng, có địa vị vững chắc trong xã hội lúc đó. Hai vị Thánh đều học cùng trường tại Athènes Hy Lạp, thành đạt trong việc học, hai Ngài đều cùng về quê hương và sống với nhau trong một mái nhà tu viện. Dù rằng tính khí mỗi người khác nhau, nhưng hai vị Thánh đã sống nghĩa thiết chan hòa, sống theo gương mục tử nhân hậu hiền lành noi theo Chúa Giêsu. Thánh Basiliô có tài lãnh đạo, có óc tổ chức, chỉ huy, điều khiển. Thánh Grêgôriô Nazian lại thích chiêm niêm, sống âm thầm và là một tu sĩ sáng ngời các nhân đức.
Cả hai vị Thánh đều được chọn làm Giám mục của hai Giáo phận. Thánh Basiliô được đặt làm Giám mục năm 370 tại Césarée de Cappadoce. Thánh Giám mục Basiliô là một mục tử can trường, đầy dũng khí, hiên ngang. Nhờ lòng dũng cảm: lời giảng dậy, chữ viết và nhờ tài khéo léo, can thiệp trực tiếp của Ngài với Chính quyền, Ngài đã đem lại cho Hội Thánh một chỗ đứng vững chắc, tách quyền Giáo Hội ra khỏi thế quyền. Ngài giúp cho những người nghèo lấy lại phẩm giá của mình và bảo vệ đức tin của đoàn chiên cách sâu xa, vững chắc.
Thánh Grêgôriô Nazian được tấn phong Giám mục Sasime năm 371, và vào năm 380, Thánh nhân được cử làm Giám mục Constantinople giữa sóng gió do bè rối Ariô gây nên. Ngài có tài hùng biện, mọi người đều theo Ngài. Thánh nhân được đặt cho một cái tên hết sức thân thương: “Cha của những kẻ khốn cùng”.
Thánh Basiliô qua đời ngày 01/1/379 và Thánh Grêgôriô Nazian tạ thế ngày 25/1/390.
Cả hai vị Thánh đã sống hiền lành, khiêm nhượng theo gương Chúa Giêsu Cứu Thế. Cuộc sống của các Ngài đã họa lại gương mặt đầy yêu thương của Chúa. Thánh Grêgôriô đã để lại câu nói bất hủ: “Nếu vì tôi mà bão táp này (bè rối Ariô) nổi dậy, hãy ném tôi xuống biển, để anh em khỏi bị khổ sở”.
Giáo Hội Chính Thống đã đặt ba vị Thánh Basiliô cả, Grêgôriô Nazian và Gioan Kim Khẩu lên hàng đầu giữa các bậc tiến sĩ trong Giáo Hội Chúa Kitô. Vì những công nghiệp, tài đức và nhân đức của các Ngài, Hội Thánh còn gọi các Ngài bằng tên rất đẹp, ấn tượng và thân thương: “đuốc thiêng của Hội Thánh”.
Tin Mừng ngày hôm nay cũng cho chúng ta thấy một mẫu gương khiêm tốn là thánh Gioan Tẩy Giả. Một nơi khác trong Tin Mừng, đã có lần Đức Kitô khen ngợi thánh Gioan là vị ngôn sứ cao trọng nhất trong số các ngôn sứ (Mt 11,11). Nhưng thái độ của Gioan trong Tin Mừng hôm nay (Ga 1,19-28) cho thấy sự khiêm nhường tuyệt vời của vị Tiền Hô: “Tôi đây làm phép rửa torng nước. Nhưng có một vị đang ở giữa các ông mà các ông không biết. Người sẽ đến sau tôi, và tôi không đáng cởi quai dép cho Người.” (Ga 1,26-27).
Đúng là sứ vụ của một ngôn sứ, tiên báo Đấng Mêsia sẽ đến: Thánh Gioan Tẩy giả đã đóng đúng vai trò của mình, ngài nhìn nhận sự thật về sứ vụ là dọn đường cho Đức Kitô đến, bằng việc dọn lòng cho dân chúng hoán cải và sẵn sàng tin vào Tin Mừng cứu độ mà Chúa Giêsu mang đến trong trần gian. Thắc mắc của những người được sai đến với ông Gioan đã được giải thích thoả đáng, một khát vọng mong chờ chung của Dân Hípri: Mong Đấng Mêsia xuất hiện. Gioan không phải là Đấng Kitô, nhưng phép rửa mà Ngài thực hiện mang tính duy nhất, đúng hơn là mang tính cánh chung, để kêu gọi lòng dân trở lại với đường ngay nẻo chính; chuẩn bị cho dân đón nhận một Phép Rửa trong nước và thần khí mà Đức Kitô sẽ thực hiện.
Sứ vụ của Gioan, cũng như tấm gương của hai vị thánh mà Giáo Hội kính nhớ hôm nay cho chúng ta suy nghĩ về thái độ sống của chúng ta, với danh nghĩa là Kitô hữu. Chúng ta nghe nói nhiều đến sứ vụ ngôn sứ của Dân Thiên Chuá, và cũng là của từng Kitô hữu chúng ta (GLCG, số 785), một sứ vụ mời gọi chúng ta sống làm sao để trở nên nhân chứng của Đức Kitô giữa lòng đời vốn có nhiều biến chuyển này.
Trước hết, thiết nghĩ mỗi người chúng ta nên suy tư về việc đào sâu đời sống Đức tin của mình, cùng với cảm thức siêu nhiên của Đức Tin. Khi chúng ta có một cảm thức Đức Tin về Thiên Chuá, Đấng yêu thương và cứu chuộc chúng ta, như Đức Thánh Cha nói đến trong Tông huấn “Niềm Vui Tin Mừng”, chúng ta có thể mạnh mẽ ác tín và hăng say làm chứng cho tình yêu Thiên Chuá trong cuộc đời: “Động lực đầu tiên cho việc loan báo Tin Mừng chính là tình yêu của Đức Giêsu mà chúng ta đón nhận được, cảm nghiệm được Chúa Giêsu cứu độ thúc giục chúng ta yêu mến Người ngày một hơn. Nhưng tình yêu đó là gì nếu không chỉ dừng lại ở việc cần thiết phải nói về Ngài, giới thiệu về Ngài và làm cho người khác biết Ngài?”.
Nhìn chung, cách sống đạo của Kitô hữu tại Việt Nam rất phong phú, nhưng thiết nghĩ một tinh thần ham học hỏi để đào sâu đời sống Đức tin cần được khai triển và sống cụ thể hơn trong đời sống thường ngày, hơn là chỉ dừng ở những hoạt động đạo đức. Việc đạo đức thì luôn tốt, nhưng sẽ phong phú và sinh ích lợi nhiều hơn nếu chúng ta đi vào chiều sâu của đời sống Đức tin, qua việc hăng say học Giáo Lý, tập chia sẻ Tin Mừng, và ngay cả chia sẻ những cảm nghiệm Đức Tin trong nhóm đạo đức mà chúng ta đang tham gia. Dĩ nhiên, việc chia sẻ này bao hàm cả hai chiều kích: Tôi muốn chia sẻ cảm nhận về tình thương Chuá đã dành cho tôi, và những bạn bè trong nhóm cũng sẵn lòng để lắng nghe những cảm nhận đó với lòng tôn trọng.
Hơn nữa, thái độ khiêm tốn luôn là điều đáng khích lệ cho mỗi người tín hữu chúng ta. Khiêm tốn là nhìn nhận đích thực những gì mình có, như thánh Gioan Tẩy Giả đã chứng tỏ cho chúng ta thấy.
Đó không phải là nhìn nhận những gì mình có để vênh vang, tự cao tự đại; nhưng là để biết tạ ơn Chuá vì mọi ơn chúng ta có được đều là do ơn lành Chúa ban, chứ tự thân, con người không thể tự có được. Đồng thời ý thức rằng ơn Chuá ban là để làm cho mình nên tốt hơn, và để phục vụ Giáo Hội cùng xã hội. Hai điều này luôn phải đi đôi với nhau. Một đàng, mỗi người ý thức thân phận yếu hèn của mình để luôn cảnh giác với những thói hư tật xấu vốn có thể ngấm ngầm làm cho chúng ta ra kiêu ngạo, tự mãn. Đàng khác, phục vụ điều thiện, phục vụ công ích, mà tiên vàn là phục vụ những người thân cận của mình, là bổn phận và sứ mạng của mỗi Kitô hữu. Thái độ phục vụ cũng là điều đáng để chúng ta suy nghĩ để rồi chúng ta tìm cách phục vụ tha nhân.
2021
Thứ Bảy 2.1.2021
Thứ Bảy
Ca nhập lễ
Gl 4,4-5
Thiên Chúa đã sai Con mình tới,
do một người phụ nữ sinh ra,
để chúng ta nhận được ơn làm nghĩa tử.
Lời nguyện nhập lễ
Lạy Thiên Chúa toàn năng hằng hữu, Chúa đã thương chiếu giãi một luồng sáng mới cho trần gian được nhận biết Chúa khi Con Một Chúa sinh vào đời. Vì Người đã chia sẻ kiếp sống phàm nhân mà trở thành Con của Ðức Trinh Nữ, xin Chúa cũng cho chúng con được cùng sống với Người trong Nước Trời vinh phúc. Người là Thiên Chúa hằng sống và hiển trị cùng Chúa, hiệp nhất với Chúa Thánh Thần đến muôn thuở muôn đời.
Bài đọc 1
1 Ga 2,22-28
Ước chi điều anh em đã nghe từ đầu ở lại trong anh em.
Bài trích thư thứ nhất của thánh Gio-an tông đồ.
22Anh em thân mến,
ai là kẻ dối trá, nếu không phải là kẻ chối rằng
Đức Giê-su là Đấng Ki-tô ?
Kẻ ấy là tên Phản Ki-tô,
là kẻ chối Chúa Cha và Chúa Con.
23Ai chối Chúa Con thì cũng không có Chúa Cha ;
kẻ tuyên xưng Chúa Con thì cũng có Chúa Cha.
24Phần anh em,
ước chi điều anh em đã nghe từ lúc khởi đầu
ở lại trong anh em.
Nếu điều anh em đã nghe từ lúc khởi đầu
ở lại trong anh em,
thì chính anh em sẽ ở lại trong Chúa Con và Chúa Cha.
25Và đây là điều
mà chính Đức Ki-tô đã hứa ban cho chúng ta :
sự sống đời đời.
26Tôi viết cho anh em những điều ấy
để nói về những kẻ tìm cách làm cho anh em đi lạc đường.
27Phần anh em,
dầu mà anh em đã lãnh nhận từ Đức Ki-tô
ở lại trong anh em,
và anh em chẳng cần ai dạy dỗ nữa.
Nhưng vì dầu của Người dạy dỗ anh em mọi sự
-mà dầu ấy dạy sự thật chứ không phải sự dối trá-,
thì theo như dầu ấy đã dạy anh em,
anh em hãy ở lại trong Người.
28Giờ đây, hỡi anh em là những người con bé nhỏ,
anh em hãy ở lại trong Người,
để khi Người xuất hiện,
chúng ta được mạnh dạn, chứ không bị xấu hổ,
vì phải xa cách Người trong ngày Người quang lâm.
Đáp ca
Tv 97,1.2-3ab.3cd-4 (Đ. c.3cd)
Đ.Toàn cõi đất này đã xem thấy
ơn cứu độ của Thiên Chúa chúng ta.
1Hát lên mừng Chúa một bài ca mới,
vì Người đã thực hiện bao kỳ công.
Người chiến thắng nhờ bàn tay hùng mạnh,
nhờ cánh tay chí thánh của Người.
Đ.Toàn cõi đất này đã xem thấy
ơn cứu độ của Thiên Chúa chúng ta.
2Chúa đã biểu dương ơn Người cứu độ,
mặc khải đức công chính của Người trước mặt chư dân ;3abNgười đã nhớ lại ân tình và tín nghĩa
dành cho nhà Ít-ra-en.
Đ.Toàn cõi đất này đã xem thấy
ơn cứu độ của Thiên Chúa chúng ta.
3cdToàn cõi đất này đã xem thấy
ơn cứu độ của Thiên Chúa chúng ta.4Tung hô Chúa, hỡi toàn thể địa cầu,
mừng vui lên, reo hò đàn hát.
Đ.Toàn cõi đất này đã xem thấy
ơn cứu độ của Thiên Chúa chúng ta.
Tung hô Tin Mừng
Hr 1,1-2
Ha-lê-lui-a. Ha-lê-lui-a. Thuở xưa, nhiều lần nhiều cách, Thiên Chúa đã phán dạy cha ông chúng ta qua các ngôn sứ ; nhưng vào thời sau hết này, Thiên Chúa đã phán dạy chúng ta qua Thánh Tử. Ha-lê-lui-a.
Tin Mừng
Ga 1,19-28
Người sẽ đến sau tôi.
✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Gio-an.
19 Đây là lời chứng của ông Gio-an, khi người Do-thái từ Giê-ru-sa-lem cử một số tư tế và mấy thầy Lê-vi đến hỏi ông : “Ông là ai ?” 20 Ông tuyên bố thẳng thắn, ông tuyên bố rằng : “Tôi không phải là Đấng Ki-tô.” 21 Họ lại hỏi ông : “Vậy thì thế nào ? Ông có phải là ông Ê-li-a không ?” Ông nói : “Không phải.” – “Ông có phải là vị ngôn sứ chăng ?” Ông đáp: “Không.” 22 Họ liền nói với ông : “Thế ông là ai, để chúng tôi còn trả lời cho những người đã cử chúng tôi đến ? Ông nói gì về chính ông ?” 23 Ông nói : Tôi là tiếng người hô trong hoang địa : Hãy sửa đường cho thẳng để Đức Chúa đi, như ngôn sứ I-sai-a đã nói. 24 Trong nhóm được cử đi, có mấy người thuộc phái Pha-ri-sêu. 25 Họ hỏi ông : “Vậy tại sao ông làm phép rửa, nếu ông không phải là Đấng Ki-tô, cũng không phải là ông Ê-li-a hay vị ngôn sứ ?” 26 Ông Gio-an trả lời : “Tôi đây làm phép rửa trong nước. Nhưng có một vị đang ở giữa các ông mà các ông không biết. 27 Người sẽ đến sau tôi và tôi không đáng cởi quai dép cho Người.” 28 Các việc đó đã xảy ra tại Bê-ta-ni-a, bên kia sông Gio-đan, nơi ông Gio-an làm phép rửa.
Lời nguyện tiến lễ
Lạy Thiên Chúa uy linh cao cả, Chúa làm cho chúng con biết nhiệt thành phụng sự Chúa và sống hoà thuận thương yêu nhau. Ước chi của lễ này giúp chúng con tôn thờ Chúa cho phải đạo: và ước chi tiệc thánh chúng con cùng nhau chia sẻ thúc đẩy chúng con nên ý hợp tâm đầu. Chúng con cầu xin …
Lời Tiền Tụng Giáng Sinh
Lạy Chúa là Cha chí thánh, là Thiên Chúa toàn năng hằng hữu, chúng con tạ ơn Chúa mọi nơi mọi lúc, thật là chính đáng, phải đạo và đem lại ơn cứu độ cho chúng con.
Vì nhờ mầu nhiệm Ngôi Lời nhập thể, một luồng sáng mới từ vinh quang Chúa chiếu rọi vào tâm trí chúng con, để khi nhận biết Thiên Chúa xuất hiện hữu hình, và nhờ Người lôi cuốn, mà chúng con yêu mến Ðấng vô hình.
Vì thế cùng với các Thiên thần và tổng lãnh thiên thần, các Bệ thần và Quản thần, cùng toàn thể đạo binh thiên quốc, chúng con không ngừng hát bài ca chúc tụng vinh quang Chúa rằng:
Thánh! Thánh! Thánh! …
Ca hiệp lễ
Ga 1,16
Từ nguồn sung mãn của Đức Ki-tô, tất cả chúng ta đã nhận được hết ơn này đến ơn khác.
Lời nguyện hiệp lễ
Lạy Chúa, dân thánh Chúa luôn cần được muôn ơn trợ lực, xin rộng lượng ban phát hôm nay và mãi mãi, nhờ đó, khi được hưởng dùng những của cải đời tạm này, chúng con càng tin tưởng tìm kiếm những phúc lộc vĩnh cửu. Chúng con cầu xin …
2020
Tín điều Đức Mẹ là Mẹ Thiên Chúa có nguồn gốc Kinh Thánh không?
Tín điều Đức Mẹ là Mẹ Thiên Chúa có nguồn gốc Kinh Thánh không?

Trả lời:
1- Trong Kinh Tin Kính Nicene ( đọc ngày Chúa nhật và các ngày Lễ trọng) và Kinh Tin Kính của các Thánh Tông Đồ, Giáo Hội đều tuyên xưng Chúa Giê-su Kitô, “ chết, sống lại, lên trời và ngự bên hữu Chúa Cha”.
Lời tuyên xưng này bắt nguồn từ chính lời Chúa Giê su trả lời cho viên thượng tế Cai pha và trước toàn thể thượng Hội Đồng thương tế , kỳ mục và kinh sư Do Thái họp nhau lại để tìm cách buộc tội Chúa với án tử hình. Viên thượng tế đã hỏi Chúa xem có phải Người là Đấng Kitô, Con Thiên Chúa không.
Chúa đã trả lời như sau: “ Phải chính thế. Rồi các ông sẽ thấy Con Người ngự bên hữu Đấng Toàn Năng và ngự giá mây trời mà đến.”( Mt 26: 64; Mc 14: 62; Lc 22: 69)
Như thế lời tuyên xưng của Giáo Hội về chỗ ngồi của Chúa Kitô, bên hữu Chúa Cha trên Nước Trời có nguồn gốc vững chắc là chính lời Chúa Giê su đã nói và được ghi lại trong các Tin Mừng, như bằng chứng trên đây.
2– Tín điều Đức Mẹ là Mẹ là Mẹ Thiên Chúa có nguồn gốc Kinh Thánh không?
Trước khi trả lời câu hỏi này, xin được nhắc lại một lần nữa là vào thế kỷ thứ 4 sau Chúa Giáng Sinh, có một linh mục tên là Arius thuộc Tòa Thượng Phụ Alexandria ( Ai Cập) đã lạc giáo ( heretic) khi cho rằng Chúa Giê-su Kitô có hai bản tính riêng rẽ là nhân tính( humanity) và thần tính ( Divinity) khi xuống trần gian làm Con Người. Vì thế Đức Mẹ Maria chỉ là Mẹ của Chúa Giêsu về phần nhân tính mà thôi. Quan điểm lạc giáo này đã bị Công Đồng Nicaea năm 325 A.D lên án và bác bỏ hoàn toàn vì đi ngược với niềm tin của Giáo Hội về sự đồng nhất bản thể của Ba Ngôi Thiên Chúa ( Trinity) và về hai bản tính không tách rời nhau của Chúa Cứu Thế Giêsu.Nghĩa là, Chúa Giê-su Kitô là Thiên Chúa thật và là Con Người thật, Chúa vừa có Thần tính ( Divinity) như Chúa Cha và Chúa Thánh Thần, vừa có nhân tính ( humanity) như mọi con người , và hai bản tính này không hề tách rời nhau. Arius đã lạc giáo khi cho rằng Chúa Kitô có hai bản tính tách rời nhau, nên Mẹ Maria chỉ là Mẹ Chúa Giêsu trong phần nhân tính mà thôi. chứ không thể là Mẹ Thiên Chúa ( Theotokos) như các Giáo Phụ dạy và Giáo Hội sơ khai đã tin .Quan điểm sai lầm trên đến đầu thế kỷ thứ 5, (428 A.D) lại được tán đồng bởi Thượng Phụ Nestorius thành Constantinople, là người cũng cho rằng Đức Mẹ chỉ là Mẹ phần xác ( nhân tính) của Chúa Giê su-Kitô để phủ nhận điều các Giáo Phụ từ thời tiên khởi đã dạy rằng : Đức Trinh Nữ Maria là Mẹ Thiên Chúa ( Deipara= Theotokos= God bearer =Đấng cưu mang Thiên Chúa.
Các Công Đồng Nicaea ( 325) và Ê-phê sô ( 431) đều lên án tư tưởng lạc giáo của Arius và Nestorius để khẳng định rằng Chúa Giê-su đồng bản tính ( bản thể= substance) với Chúa Cha và Chúa Thánh Thần. Lại nữa, Chúa Kitô có hai bản tính không hề tách rời nhau là nhân tính ( Humanity và Thiên tính ( Divinity). Do đó, Đức Mẹ là Mẹ thật của Chúa Kitô, cũng là Thiên Chúa thật, nên Mẹ được tuyên xưng là Mẹ Thiên Chúa=( Deipara=Theotokos= God bearer) như Giáo Hội đã dạy không sai lầm
Sau đây là bằng chứng Kinh Thánh :
Khi Đức Mẹ đến viếng thăm người chị em họ là bà Ê-i-sa-bét ( Elizabeth), thì bà này đã được tràn đầy Thánh Thần, liền kêu lớn tiếng và nói rằng: “Em được diễm phúc hơn mọi người phụ nữ, và người con em đang cưu mang cũng được chúc phúc. Bởi đâu tôi được Thân Mẫu của Chúa ( Mother of my Lord) đến với tôi thế này Lc 43: 39- 43)
Bà Eli-sa-bét chắc chắn đã được Chúa Thánh Thần soi sáng nên đã thốt ra những lời trên để ca tụng Đức Mẹ. Như thế đủ cho thấy Giáo Hội ,từ đầu, đã không sai lầm khi tuyên xưng Đức Trinh Nữ Mara là Mẹ Thiên Chúa, vì là Mẹ thật của Chúa Giê su-Kitô, cũng là Thiên Chúa thật, đồng bản tính ( bản thể= Substance) với Chúa Cha và Chúa Thánh Thần trong Mầu Nhiệm Ba Ngôi một Thiên Chúa ( Holy Trinity).
Nhưng cho dầu với địa vị cao trọng làm vậy, Đức Mẹ cũng không cao hơn Thiên Chúa mà chỉ được tôn kính( veneration) ở mức Hyperdulia trong khi Thiên Chúa được tôn thờ ( adoration) ở mức Latria trong phụng vụ thánh của Giáo Hội.Nghĩa là chúng ta chỉ phải thờ lậy ( adore), ngượi khen, vinh danh một mình Thiên Chúa mà thôi, chứ không thờ lậy Đức Mẹ, mà chỉ tôn kính ( venerate) Mẹ cách đặc biệt ( hyperdulia) hơn các Thánh nam nữ khác, được tôn kính ở mức Dulia.
Do đó, trong thực hành, người tín hữu phải cầu xin Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần, nhờ Đức Mẹ và các Thánh chuyển giúp cầu thay, chứ không cầu xin Mẹ hay bất cứ Thánh Nam nữ nào như nguồn ban phát mọi ơn phúc.Chỉ có Chúa là cội nguồn của mọi ơn phúc mà chúng ta phải cầu xin cho được an vui trong cuộc sống trên trần gian này , và nhất là biết sống xứng đáng là con cái của Cha trên trời để được cứu rỗi nhờ công nghiệp Chúa Kitô và sự phù giúp đắc lực của Đức Mẹ và các Thánh Nam nữ đang vui hưởng Thánh Nhan Chúa trên Thiên Đàng.
Lại nữa, khi vào nhà thờ hay nhà nguyện nào, thì phải bái lậy trong tâm tình thờ lậy Chúa trong nhà tạm ( Tabernacle) trước khi bái kính ảnh tượng Đức Mẹ , Thánh Cà Giuse, hay Thánh nam nữ nào khác.Phải nói điều này vì có một số người, khi vào nhà thờ, đã chạy ngay đến nơi có thánh thượng Đức Mẹ để cầu xin mà quên bái quỳ thờ lậy Chúa Kitô đang hiện diện thực sự trong nhà tạm.
Tóm lại, sùng kính Đức Mẹ là việc đạo đức rất tốt đẹp và đáng khuyến khích cho mọi tín hữu, nhưng đừng quên là trên hết phải thờ lậy Chúa là Đấng mà Mẹ Maria cũng phải tôn thờ cùng các Thánh nam nữ và các Thiên Thần, mặc dù Mẹ có địa vị cao trọng là Mẹ Chúa Kitô và cũng là Mẹ Thiên Chúa như Giáo Hội dạy.
3- Mẹ Maria có nhận công nghiệp cứu chuộc của Chúa Kitô không ?
Theo giáo lý của Giáo Hội, chúng ta phải tin Mẹ được diễm phúc thụ thai không mắc tội nguyên tổ ( immaculate Conception) và mọi tội khác như mọi người trong nhân loại, cũng như được tuyên xưng là Mẹ Thiên Chúa, vì là Mẹ thật của Chúa Kitô, cũng là Thiên Chúa thật đồng bản thể với Chúa Cha và Chúa Thánh Thần như đã nói ở trên. Nhưng Mẹ không cao hơn Chúa và không cùng một bản thể ( substance) với Ba Ngôi Thiên Chúa, nên Mẹ vẫn phải nhận ơn cứu chuộc của Chúa Kitô như chính Mẹ đã tuyên xưng như sau:
“ Linh hồn tôi ngượi khen Đức Chúa
Thần trí tôi hớn hở vui mừng
Vì Thiên Chúa Đấng cứu độ tôi.…” ( My Savior)
( Bài ca Ngượi khen Magnificat, Lc 1: 46-55)
Vì là Mẹ Chúa Kitô, nên Mẹ được diễm phúc khỏi tội tổ tông và mọi tội cá nhân từ khi được thụ thai cho đến khi về trời cả hồn xác. Mẹ được sinh ra như mọi tạo vật khác, trừ đặc ân được giữ gìn khỏi mọi vết nhơ của tội lỗi để xứng đáng làm Mẹ Ngôi Lời nhập thể.
Nhưng việc nhận ơn cứu chuộc của Chúa Giêsu ,Con của Mẹ, không làm thương tổn địa vị cao trọng của Mẹ là Mẹ Ngôi Hai và là Mẹ Thiên Chúa. Ngược lại, Mẹ đã vinh danh Chúa Cứu Thế Giêsu khi nhận ơn cứu chuộc của Chúa, vì “ ngoài Người ra, không ai đem lại ơn cứu độ; vì dưới gầm trời này, không có một danh nào khác được ban cho nhân loại, để chúng ta phải nhờ vào danh ấy mà được cứu độ.” ( Cv 4 :12)
Như thế khi nhận ơn cứu độ của Chúa Kitô, Mẹ đã tôn vinh Chúa là Đấng cứu thế duy nhất đã hòa giải con người với Thiên Chúa qua vâng phục và hy sinh chịu chết trên thập giá năm xưa, mặc dù Mẹ không có tội lỗi nào cần phải được tha thứ nhờ công nghiệp cứu chuộc vô giá của Chúa.
Chúng ta cảm tạ Mẹ Maria thật nhiều vì Mẹ đã “ xin vâng” với Thiên Chúa để làm Mẹ Chúa Cứu Thế Giêsu, và cộng tác với Con của Mẹ trong sứ mệnh cứu chuộc cho nhân loại khỏi phải chết vì tội. Vai trò của Mẹ thật quan trọng trong Chương Trình cứu chuộc loài người của Thiên Chúa nhờ Chúa Kitô, Con của Mẹ.
Vậy chúng ta hãy siêng năng chạy đến với Mẹ để nhờ Mẹ nguyện giúp cầu thay cho chúng ta được mọi ơn cần thiết của Chúa trong cuộc lữ hành về quê Trời giữa bao khốn khó , gian nan vì cản trở và đánh phá của ma quỷ , cám dỗ của thế gian với đầy rẫy gương xấu, dịp tội và vì bản chất yếu đuối nơi mỗi người chúng ta.
Lm. Phanxicô Xaviê Ngô Tôn Huấn.
2020
Lắng nghe và thực hành lời Chúa như Mẹ
1.1.2021 Mẹ Thiên Chúa
Lc 2:16-21
LẮNG NGHE VÀ THỰC THI LỜI CHÚA NHƯ MẸ
Chúa có một người Mẹ thật tuyệt vời. Một người Mẹ cho Chúa dòng sữa, cho Chúa tình thương. Một người Mẹ đã nói lời xin vâng bằng cả cuộc đời dấn thân cho chương trình Thiên Chúa Cha được nên trọn. Một người Mẹ hằng đẹp lòng Thiên Chúa Cha và được mọi ân huệ lớn lao đến nỗi là người có phúc hơn mọi người nữ.
Người Mẹ đó Chúa đã tặng ban cho nhân loại chúng con. Qua Môn đệ Gioan, Mẹ Maria đã nhận chúng con là con cái của mẹ. Mẹ đã đi vào trong từng cuộc đời chúng con. Mẹ vẫn đang đồng hành để chia sẻ buồn vui trong kiếp người chúng con. Chúng con xin cám ơn Chúa đã ban Mẹ Maria cho chúng con. Xin cho chúng con luôn chạy đến cùng Mẹ, luôn nương nhờ ơn phước của Mẹ, để nhờ Mẹ chúng con được đón nhận ơn lành của Chúa.
Sau khi được sứ Thần Thiên Chúa loan báo về thân thế của Hài Nhi Giêsu và dấu chỉ cho biết người là Đấng Cứu Thế đã sinh ra trong thành vua Đavít, các mục đồng hối hả chạy đến hang đá và họ đã chính mắt thấy Chúa Giêsu, Mẹ Maria và Thánh Giuse, y như lời Thiên Thần đã báo trước. Điều nầy cho thấy, Đức Giêsu đã được sinh ra từ lòng mẹ là Đức Maria như mọi bà mẹ khác và Đức Maria chính là Mẹ Thiên Chúa, vì Hài Nhi Giêsu là Thiên Chúa (2, 11).
Khi tuyên xưng Đức Ma-ri-a là Mẹ Thiên Chúa, chúng ta khẳng định niềm tin của chúng ta vào Chúa Giêsu, Đấng Cứu Độ duy nhất của chúng ta, Ngài thật sự là Con Thiên Chúa nhưng cũng thật sự là Con của Đức Trinh Nữ Ma-ri-a trong biến cố Nhập Thể. Lễ kính trọng thể “Đức Ma-ri-a, Mẹ Thiên Chúa” có gốc tích rất lâu đời và được phổ biến trên khắp thế giới.
Trong lịch canh tân Phụng Vụ, lễ kính trọng thể Đức Ma-ri-a, Mẹ Thiên Chúa này được cử hành vào ngày mồng 1 tháng giêng, trùng với ngày bát nhật Giáng Sinh, ngày kính nhớ việc cắt bì và đặt tên cho Chúa Giê-su, nhưng cũng trùng với ngày Tân Niên, ngày đầu năm mới cầu cho hòa bình thế giới. Đức Phao-lô VI viết: “Ngày lễ trọng ấy này được đặt vào mồng một tháng giêng theo như tập tục xa xưa của Phụng Vụ Rô-ma. Lễ này được dành riêng ca tụng việc Đức Ma-ri-a góp phần vào mầu nhiệm cứu độ và tán dương tước vị cao quý đặc biệt do phần đóng góp ấy đem lại cho Người Mẹ rất thánh, Đấng có công giúp chúng ta đón tiếp Tác Giả của sự sống”
Cùng với Giáo Hội, hôm nay chúng ta mừng kính đặc ân cao trọng nhất trong 4 đặc ân Đức Mẹ đã lãnh nhận : Mẹ Thiên Chúa. Những tưởng rằng trong ngày đại lễ này Giáo Hội sẽ cho chúng ta nghe những bài Tin Mừng nói về vai trò quan trọng của Đức Mẹ trong cuộc đời Chúa Giêsu, nhất là những khi Ngài làm phép lạ với đầy uy quyền (hóa bánh ra nhiều, chữa lành mọi thứ bệnh tật, tại tiệc cưới Cana …)hoặc khi Chúa phục sinh vinh quang …vv…vì Con đầy quyền năng thì Mẹ cũng được vinh dự. Thế nhưng Giáo Hội lại cho chúng ta chiêm ngắm Mẹ nơi hang đá máng cỏ, một nơi chẳng có gì là hoành tráng và danh dự, một nơi có vẻ như không xứng hợp với tước vị Mẹ Thiên Chúa của Ngài?! Rồi trong chính trình thuật này, Thánh Luca cũng không cho thấy Mẹ nói một lời nào, chỉ nhìn, lắng nghe và suy niệm trong lòng……
Với lời xin vâng, ta thấy Mẹ tin tưởng vào Thiên Chúa: Việc này Mẹ đã làm ngay từ khi thụ thai Con Thiên Chúa, chính Bà Isave đã khen ngợi Mẹ về điều đó “ Em thật có phúc vì đã tin rằng Chúa sẽ thực hiện những gì Ngài đã nói với em” (Lc 1,45). Đường lối và cách hành động Của Thiên Chúa thật khó hiểu không phài vì phi lý hoặc vô lý, nhưng vì đường lối và cách thức hành động ấy không nằm trong khung suy tư của con người. Thiên Chúa có lý của Ngài. Con người chỉ có thể nhận ra cái lý của Thiên Chúa với lòng tin, với đức mến và sự cậy trông.
Trong khiêm nhường thẳm sâu, Mẹ đã hoàn toàn tin tưởng và phó thác nơi Thiên Chúa. Hơn thế nữa, Mẹ cũng khám phá ra rằng : Khi Thiên Chúa muốn thì không gì có thể cưỡng lại được, Ngài sẽ thực hiện mọi sự theo ý muốn của Ngài.
Mẹ vâng phục thánh ý Thiên Chúa: Mẹ không chỉ vâng phục thánh ý Thiên Chúa trên bình diện lý trí bằng sự tin tưởng và phó thác, mà trên bình diện thực tiễn, Mẹ đã tuân theo và thực hiện thánh ý đó trong cuộc sống, Mẹ chấp nhận những gian nan thử thách Chúa đang gửi đến trong âm thầm nhẫn chịu. Sự vâng phục đó không chỉ nhất thời, bây giờ và lúc này, nhưng trải dài trong suốt cuộc đời của Mẹ, khi bôn ba đây đó trong công cuộc truyền giáo, khi chia sẻ thân phận “không chỗ gối đầu” với người Con thân yêu của mình.
Và cao điểm nhất, khi Mẹ đứng dưới chân thập giá, khi phải tận mắt chứng kiến cái chết đau thương và hy sinh chính mạng sống của Con mình, chúng ta mới thấy được tuyệt đỉnh của sự vâng phục: Mẹ đã kết hợp sự vâng phục của Mẹ với sự vâng phục của Con. Có thể nói : nếu chúng ta dùng hình ảnh toán học để so sánh thì trong gia đình Thánh Gia, mẫu số chung của Chúa Giêsu, Mẹ Maria và Thánh Cả Giuse là sự vâng phục Thiên Ý, còn tử số là sự vâng phục theo cách riêng của mỗi người: Chúa Giêsu thực hiện bằng cái chết, Mẹ Maria thực hiện trong âm thầm chấp nhận còn Thánh Giuse thực hiện bằng thi hành ngay khi thánh ý ban ra.
Đức Maria là người đã lắng nghe và thực hiện Lời Chúa.
Hẳn ta còn nhớ, một hôm, trước những lời giáo huấn sâu sắc, mới mẻ, đầy tình yêu thương, thông cảm, tha thứ của Chúa Giêsu, một người phụ nữ đã lớn tiếng ca tụng Người Mẹ đã cưu mang và đã cho ngài bú. Nghe những lời đó, Chúa Giêsu mời người phụ nữ và những người chung quanh đi xa hơn nữa trong cái nhận định tốt đẹp đó. Đối với Chúa Giêsu, điều đáng trân trọng và quý giá, chính là niềm tin, lòng yêu mến và phó thác được thể hiện qua việc lắng nghe và thực hiện Lời Chúa.
Một lần khác, khi Chúa Giêsu đang giảng dạy, rất đông dân chúng bu quanh, thì có người báo cho biết là, có Mẹ và anh em ngài muốn gặp ngài. Nhân dịp này, Chúa Giêsu cũng khẳng định : những ai lắng nghe và thực hiện thánh ý Thiên Chúa là Mẹ và là anh em của ngài.
Lắng nghe Lời Chúa và thực thi thánh ý Chúa. Đó chính là cái cốt lõi cuộc sống, ơn gọi và hạnh phúc của con người. Đức Maria là người đầu tiên đã sống như thế. Và, Đức Maria xứng đáng được xưng tụng là Mẹ Thiên Chúa.
Nếu chúng ta noi gương Mẹ, nếu chúng ta gìn giữ và suy đi nghĩ lại trong lòng mình điều gì mà Chúa Giêsu nói với chúng ta và điều gì Ngài làm trong chúng ta, chúng ta thật sự bước trên đường thánh thiện Kitô giáo và chúng ta sẽ không bao giờ thiếu đạo lý của Ngài và ân sủng của Ngài. Cũng vậy, bằng việc chiêm niệm theo cách thức này giáo huấn Chúa Giêsu đã cho chúng ta, chúng ta sẽ đạt được một sự hiểu biết sâu xa về mầu nhiệm của Ngài. Có như vậy, ta sẽ thực sự trở thành con của Mẹ cách trọn hảo hơn.
