2021
Hãy Ðến Với Chúa
15 06 Tr Thứ Năm Tuần XV Thường Niên.
Thánh Bô-na-ven-tu-ra, Giám mục, Tiến sĩ Hội Thánh, lễ nhớ.
Thánh Phê-rô Nguyễn Bá Tuần, Linh mục (U1838); và Thánh An-rê Nguyễn Kim Thông (Năm Thuông), Thầy giảng (U1855), Tử đạo.
Xh 3,13-20; Mt 11,28-30.
Hãy Ðến Với Chúa
Thánh Bonaventura cùng với Duns Scotus và Thomas thành Aquino hợp thành ba nhà tiến sĩ nổi danh của thần học kinh viện.
Ngài sinh năm 1221 tại Bagnoreggio gần Viterbo, nước Ý. Tên gọi của ngài là Gioan; khi còn bé ngài bị bệnh nặng và nhờ thánh Phanxico cứu cho, nên có tên là Bonaventura.
Ngài học triết lý và thần học tại Paris cùng với giáo sư Alexandre thành Hales.Khoảng năm 1243, ngài gia nhập dòng Anh Em Hèn Mọn. Ngài làm giáo sư tại Paris từ năm 1248 đến năm 1257.Từ năm 1257 ngài được bầu làm Bề Trên Cả của dòng cho đến khi qua đời năm 1274.Trong thời gian đó, Dòng phát triển cách lạ lùng và có đến 20.000 tu sĩ.
Trong 17 năm dưới sự dìu dắt của thánh Bonaventura, Dòng đã trải qua một thời gian vừa phẳng lặng vừa sâu sắc, khiến thánh nhân đã được coi như vị sáng lập thứ hai của Dòng. Là người có trí biện biệt chín chắn và vững vàng, ngài đã dung hòa được các khuynh hướng đối lập trong Dòng.
Thánh Bonaventura theo đường lối tu đức như thánh Benado. Theo ngài: “Con người mang trong mình hình ảnh của Thiên Chúa; càng biết rõ mình người ta càng nhận thấy hình ảnh cao quý ấy. Tất cả sinh hoạt của đời sống trọn lành tùy thuộc quan niệm riêng biệt người ta có đối với linh hồn của mình.” Thánh nhân là người đầu tiên trong lịch sử khoa tu đức, đã trình bày rõ rệt ba giai đoạn trọn lành: thanh đạo, minh đạo và hiệp đạo.
Ngoài ra thánh Bonaventura còn huấn luyện các tu sĩ biết chú trọng đến đức vâng lời và khiêm nhường.Muốn đạt tới hai nhân đức ấy, ngài dạy các thầy phải suy niệm và chiêm nghưỡng đời sống Chúa Kitô, nhất là cuộc tử nạn của Người.
Một trong các công việc chính thời còn làm Bề Trên Cả là việc xuất bản tập “Hiến Chương Narbome” mà sau này tất cả mọi bản Hiến Chương mới đều dựa trên đó. Ngài cũng đã viết bộ “Legenda major” là cuốn sách tiểu sử thánh Phanxico rất phổ biến.
Thánh nhân để lại tất cả 45 tác phẩm thần học về đủ mọi phương diện.Các học thuyết của ngài chịu ảnh hưởng rất nhiều của thánh Augustino. Theo quan niệm của ngài, thần học phải dẫn đến nhiệm hiệp tôn giáo, đến cảm nghiệm.
Vào năm 1265, ngài xin từ chối chức Tổng Giám Mục thành York nhưng ngày 18/05/1273 ngài phải nhận chức Hồng Y để đại diện cho Đức Thánh Cha Gregorio X đi dư Công Đồng chung Lyon. Tại công đồng, ngài là một thành viên tích cực tham gia vào các cuộc hội thảo đại kết với Anh Em Hy Lạp. Bản ký kết, thánh nhân qua đời ngày 15/07/1274 tại tu viện Anh Em Hèn Mọn ở Lyon, hưởng thọ 53 tuổi.
Đức Thánh Cha Sictus IV nâng ngài lên bậc hiển thánh vào năm 1482; Đức Sixtus V nâng ngài lên hàng Tiến Sĩ Hội Thánh vào năm 1588 với tước hiệu là “Doctor Seraphicus” (Tiến Sĩ Chí Ái).
Trước những khó khăn, gánh nặng của cuộc sống hàng ngày, con người rất cần được nghỉ ngơi, thư giãn, bồi dưỡng cho thân xác, trí óc và tâm hồn. Nếu không họ rất dễ bị quá tải, suy nhược thần kinh, bị stress và đã có những người đã tự tử vì không đủ sức để tiếp tục sống. Tin mừng theo Thánh Matthêu (Mt 11, 28-30), Chúa Giêsu mời gọi tất cả những ai đang vất vả mang gánh nặng nề, hãy đến cùng Chúa, Người sẽ cho nghỉ ngơi bồi dưỡng và hãy học với Chúa vì Người có lòng khiêm nhường và hiền hậu.
Không có ai dám kêu gọi người ta đến với mình để được an ủi đỡ nâng khi người đó biết mình sắp lìa cõi thế, ngoại trừ một mình Chúa Giê-su; mà lý do để làm thế là vì Ngài “hiền lành và khiêm nhường.” Hiền lành và khiêm nhường, đó là căn tính của Vị Thiên Chúa Làm Người: Ngài chiếu tỏa dung nhan hiền hậu của Chúa Cha, Đấng đầy lòng thương xót. Tin Mừng hôm nay vừa tiên báo cái chết đau thương của Con Chiên hiền lành bị đem đi xén lông và làm thịt, vừa là lời mời gọi mỗi người tin tưởng vào tình yêu của Chúa giữa cảnh đời buồn nhiều hơn vui, vất vả nhiều hơn sung sướng và khổ đau nhiều hơn hạnh phúc này.
Những ai đang phải vất vả mang gánh nặng nề: Gánh nặng của nỗi buồn đau và vấp ngã trong quá khứ; gánh nặng của trách nhiệm và yếu đuối hiện tại; gánh nặng phải mang vì người khác, gánh nặng của kiếp nhân sinh, gánh nặng của ơn gọi đi theo Chúa trong đời sống thánh hiến hay đời sống gia đình và cả gánh nặng của tội lỗi nữa, hãy mang tất cả đến cùng Chúa. Chúa luôn chờ đón để an ủi, xoa dịu những khổ đau cho chúng ta. Đến cùng Chúa chắc chắn chúng ta sẽ được nâng đỡ rất nhiều. Chúng ta tin tưởng bởi Chúa thành tín và giàu yêu thương. Mọi bệnh nhân đến với Chúa đều được Chúa cứu giúp; mọi tội nhân đến với Chúa đều được Chúa thứ tha; và tất cả những người khổ đau nghèo đói đến với Chúa đều được Chúa an ủi, trợ giúp.
Đến cùng Chúa không những chúng ta được trút bỏ những gánh nặng mà còn được học với Chúa, gương mẫu của sự hiền hậu và khiêm nhường. Học với Chúa chúng ta cần lắng nghe Lời của Ngài, Lời Chúa chính là lương thực nuôi sống chúng ta, là ngọn đèn soi cho chúng ta bước, là ánh sáng chỉ đường cho chúng ta đi (Tv 119, 105). Hơn nữa, chúng ta cũng cần tìm đến và ở lại với Người trong lời cầu nguyện, suy ngắm và đặc biệt là nơi bí tích Thánh Thể. Bởi Chúa Giêsu đã khiêm nhường trở nên tấm bánh nuôi sống đoàn chiên và ở lại với đoàn chiên của Người.
Học với Chúa để trở nên hiền hậu và kiêm nhường cần thiết biết bao trong cuộc sống. Bởi những cơn giận bộc phát giữa vợ chồng có thể bào mòn tình yêu chân thật. Sự mất kiên nhẫn bực bội, nóng nảy, thù ghét oán hờn làm cho những mối tương quan trở nên căng thẳng, lãnh đạm, lạnh nhạt và mất tin tưởng. Sự hiền hòa và khiêm nhường theo gương mẫu Chúa Giêsu sẽ giúp cho chúng ta làm chủ được bản thân, sáng suốt trong những chọn lựa, đối xứ với mọi người với trái tim yêu thương, thông cảm và tha thứ. Niềm vui, bình an và hạnh phúc sẽ đến với mỗi người, mỗi gia đình và những người xung quanh.
“Những người đang vất vả mang gánh nặng nề”, trước tiên, là những ai đang mệt mỏi và chịu sức ép bởi giáo huấn của những con người “khôn ngoan và thông thái” đã được nói đến ở Mt 11,25. Chúa Giêsu tự giới thiệu về mình như là vị Tôn Sư, nhưng khác với thói đời tầm thường và chắc chắn khác với các kinh sư đương thời, Ngài không tìm cách thống trị hay chi phối các môn đồ. Ngài đi ngược lại xu hướng kiêu ngạo của các bậc thầy trong dân Israel bấy giờ. Những ai đón nhận giáo huấn của Ngài sẽ được Ngài cho nghỉ ngơi bồi dưỡng.
Chúa Giêsu kêu gọi các đồ đệ mang lấy ách của Ngài. “Mang lấy ách” của Chúa Giêsu tức là chấp nhận những đòi hỏi phát xuất từ giáo huấn của Ngài. Ách của Ngài nhẹ nhàng và êm ái, hoàn toàn khác với ách của Lề Luật mà những kẻ “khôn ngoan và thông thái” bắt buộc người ta phải mang. Thay vì những luật lệ không mang lại niềm vui, Đức Giêsu đề nghị sự phục vụ trong niềm vui và trong tình bạn (9,15).
Trong Chúa Giêsu, những tâm hồn bé nhỏ sẽ được bình an và hạnh phúc như chính Ngài đã khẳng định: “Tâm hồn anh em sẽ được nghỉ ngơi bồi dưỡng. Vì ách tôi êm ái, và gánh tôi nhẹ nhàng” (Mt 11,29b-30).
2021
Thứ Năm Tuần XV – Mùa Thường Niên
Thứ Năm Tuần XV – Mùa Thường Niên
Ca nhập lễ
Tv 16,15
Phần con đây,
nhờ sống công minh chính trực,
nên sẽ được trông thấy mặt Ngài ;
khi thức giấc,
được thoả tình chiêm ngưỡng thánh nhan.
Lời nguyện nhập lễ
Lạy Chúa, Chúa cho kẻ lầm lạc thấy ánh sáng chân lý của Chúa để họ được trở về nẻo chính đường ngay; xin ban cho những người xưng mình là Kitô hữu biết tránh mọi điều bất xứng và theo đuổi những gì thích hợp với danh nghĩa của mình. Chúng con cầu xin …
Bài đọc
Ta là Đấng Hiện Hữu. Đấng Hiện Hữu sai tôi đến với anh em.
Bài trích sách Xuất hành.
13 Ngày ấy, khi nghe tiếng Đức Chúa phán từ giữa bụi cây, ông Mô-sê thưa với Người : “Bây giờ, con đến gặp con cái Ít-ra-en và nói với họ : Thiên Chúa của cha ông anh em sai tôi đến với anh em. Vậy nếu họ hỏi con : ‘Tên Đấng ấy là gì’, thì con sẽ nói với họ làm sao ?” 14 Thiên Chúa phán với ông Mô-sê : “Ta là Đấng Hiện Hữu.” Người phán : “Ngươi nói với con cái Ít-ra-en thế này : “Đấng Hiện Hữu sai tôi đến với anh em.” 15 Thiên Chúa lại phán với ông Mô-sê : “Ngươi sẽ nói với con cái Ít-ra-en thế này : Đức Chúa, Thiên Chúa của cha ông anh em, Thiên Chúa của Áp-ra-ham, Thiên Chúa của I-xa-ác, Thiên Chúa của Gia-cóp, sai tôi đến với anh em. Đó là danh Ta cho đến muôn thuở, đó là danh hiệu các ngươi sẽ dùng mà kêu cầu Ta từ đời nọ đến đời kia.”
16 “Ngươi hãy đi triệu tập các kỳ mục Ít-ra-en và nói với họ : Đức Chúa, Thiên Chúa của cha ông anh em, Thiên Chúa của Áp-ra-ham, của I-xa-ác, của Gia-cóp, đã hiện ra với tôi và phán : Ta đã thật sự quan tâm đến các ngươi và cách người ta đối xử với các ngươi bên Ai-cập. 17 Ta đã phán : Ta sẽ cho các ngươi thoát cảnh khổ cực bên Ai-cập mà lên miền đất người Ca-na-an, Khết, E-mô-ri, Pơ-rít-di, Khi-vi và Giơ-vút, lên miền đất tràn trề sữa và mật. 18 Họ sẽ nghe tiếng ngươi ; rồi ngươi sẽ đi với các kỳ mục Ít-ra-en đến cùng vua Ai-cập, các ngươi sẽ nói với vua ấy rằng : Đức Chúa, Thiên Chúa của người Híp-ri, đã cho chúng tôi được gặp Người. Giờ đây, xin cho chúng tôi đi ba ngày đường vào sa mạc để tế lễ Đức Chúa, Thiên Chúa chúng tôi. 19 Ta thừa biết rằng vua Ai-cập sẽ không cho các ngươi đi, trừ phi là có một bàn tay mạnh mẽ can thiệp. 20 Ta sẽ ra tay, sẽ làm mọi thứ phép lạ giữa dân Ai-cập để đánh nó, và sau đó vua ấy sẽ cho các ngươi đi.”
Đáp ca
Tv 104,1 và 5.8-9.24-25.26-27 (Đ. c.8a)
Đ.Giao ước đã lập ra, muôn đời Chúa nhớ mãi.
1Hãy tạ ơn Chúa, cầu khẩn danh Người,
vĩ nghiệp của Người, loan báo giữa muôn dân.
5Hãy nhớ lại những kỳ công Người thực hiện,
những dấu lạ và những quyết định Người phán ra.
Đ.Giao ước đã lập ra, muôn đời Chúa nhớ mãi.
8Giao ước lập ra, muôn đời Người nhớ mãi,
nhớ lời đã cam kết đến ngàn thế hệ !
9Đó là điều đã giao ước cùng Áp-ra-ham,
đã đoan thệ cùng I-xa-ác.
Đ.Giao ước đã lập ra, muôn đời Chúa nhớ mãi.
24Chúa cho Dân Người tăng thêm gấp bội,
cho họ mạnh hơn cả đối phương.
25Người khiến chúng thay lòng đổi dạ, mà đâm ra thù ghét,
dùng mưu mô chống lại các tôi tớ Người.
Đ.Giao ước đã lập ra, muôn đời Chúa nhớ mãi.
26Chúa phái tôi tớ Người là Mô-sê,
phái A-ha-ron, kẻ Người tuyển chọn,
27đến loan báo những điềm thiêng dấu lạ
trong toàn cõi đất Kham.
Đ.Giao ước đã lập ra, muôn đời Chúa nhớ mãi.
Tung hô Tin Mừng
Mt 11,28
Ha-lê-lui-a. Ha-lê-lui-a. Chúa nói : Tất cả những ai đang vất vả mang gánh nặng nề, hãy đến cùng tôi, tôi sẽ cho nghỉ ngơi bồi dưỡng. Ha-lê-lui-a.
Tin Mừng
Mt 11,28-30
Tôi có lòng hiền hậu và khiêm nhường.
✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mát-thêu.
28 Khi ấy, Đức Giê-su cất tiếng nói : “Tất cả những ai đang vất vả mang gánh nặng nề, hãy đến cùng tôi, tôi sẽ cho nghỉ ngơi bồi dưỡng. 29 Anh em hãy mang lấy ách của tôi và hãy học với tôi, vì tôi có lòng hiền hậu và khiêm nhường. Tâm hồn anh em sẽ được nghỉ ngơi bồi dưỡng. 30 Vì ách tôi êm ái, và gánh tôi nhẹ nhàng.”
Lời nguyện tiến lễ
Lạy Chúa, Hội Thánh Chúa thành tâm cầu nguyện và dâng lên Chúa lễ vật này; xin thương đoái nhìn và làm cho trở nên của ăn bổ dưỡng giúp chúng con vững bước trên đường nên thánh. Chúng con cầu xin
Lời Tiền Tụng
Lạy Chúa là Cha chí thánh, là Thiên Chúa toàn năng hằng hữu, chúng con tạ ơn Chúa mọi nơi mọi lúc, thật là chính đáng, phải đạo và đem lại ơn cứu độ cho chúng con.
Chúng con biết rằng: vì vinh quang vô biên của Chúa, Chúa dùng thần tính mà cứu giúp chúng con là những kẻ phải chết. Hơn nữa, Chúa còn dự liệu linh dược để chữa lành bản tính phải chết của chúng con và giải thoát tất cả những ai vì mang bản tính đó mà bị hư mất, nhờ Ðức Ki-tô, Chúa chúng con.
Nhờ Người, đạo binh các Thiên thần thờ lạy uy linh Chúa, muôn đời hoan hỷ trước Tôn Nhan. Xin cho chúng con được đồng thanh với các ngài hân hoan tung hô rằng:
Thánh! Thánh! Thánh! …
Ca hiệp lễ
Tv 83,4-5
Lạy Chúa Tể càn khôn,
là Đức Vua, là Thiên Chúa con thờ,
ngay chim sẻ còn tìm được mái ấm,
cánh nhạn kia cũng làm tổ đặt con
bên bàn thờ của Chúa.
Phúc thay người ở trong thánh điện
họ luôn luôn được hát mừng Ngài.
Lời nguyện hiệp lễ
Lạy Chúa, chúng con vừa lãnh nhận hồng ân Chúa ban, xin cho chúng con mỗi khi cử hành bí tích này được hưởng dồi dào ơn cứu độ. Chúng con cầu xin …
2021
Thánh Kateri Tekakwitha – Bông huệ của dân Mohawk
Thánh Kateri Tekakwitha – Bông huệ của dân Mohawk
Một cô gái da đỏ bán khai sống ở Bắc Mỹ vào thế kỷ 17 có một sứ điệp gửi cho chúng ta sống trong thế kỷ 21?
1656-1680
Tìm Chúa
Ngày 21-10-2012 tại Rôma, Đức Thánh Cha Bênêđictô XVI đã tuyên thánh cho một thiếu nữ 24 tuổi người da đỏ ở Bắc Mỹ, hoa trái của hoạt động truyền giáo của các thừa sai và tử đạo Dòng Tên.
Tiểu sử của chị được hai cha Dòng Tên người Pháp là Pierre Cholenec và Claude Chauchetière, phụ trách giáo điểm Kahnawake, soạn thảo ngay sau khi chị qua đời. Chị sinh năm 1656 tại làng Ossernenon, ngày nay là Auriesville, trong thung lũng Mohawk, tiểu bang New York, Hoa Kỳ.
|
Thung lũng Mohawk (đỏ) Miền bắc tiểu bang New York của Hoa Kỳ, phía đông hồ Ontario, gần biên giới Canada |
Vào thời của chị Tekakwitha, hầu hết các dân tộc bản địa ở khu vực Bắc Mỹ còn bán khai. Chẳng hạn họ giết và ăn thịt người. Cha chị là Kenneronkwa, một thủ lãnh Mohawk, thuộc sắc dân Iroquois, thù nghịch với sắc dân Algonquin sống trên lãnh thổ Canada ngày nay, và rất ghét đạo. Mẹ chị là Tagaskouita thuộc sắc dân Algonquin, theo đạo Công giáo, sinh trưởng và được học với các thừa sai Dòng Tên ở vùng Trois-Rivieres, trên đất Canada hiện nay. Trong một trận tấn công của dân Mohawk, bà bị bắt đem về làng Ossernenon cùng với một số người khác. Tại đây, bà kết hôn với viên thủ lãnh ngoại giáo. Hai người sinh được một con gái (là Tekakwitha) và một con trai. Lúc còn rất nhỏ, chị được mẹ kể chuyện về Chúa Giêsu và dạy đọc kinh. Năm chị 4 tuổi, một cơn dịch giết chết nhiều người trong vùng, trong đó có cha mẹ và em trai của chị. Bản thân chị bị rỗ mặt và mắt rất kém. Mồ côi, chị được cậu và hai dì nuôi dưỡng, theo thói quen mẫu hệ của dân Mohawk.
Sau trận dịch, cậu chị thay cha làm thủ lãnh, đưa dân làng đến định cư ở Caughnawaga, cách làng cũ gần 10 km, hiện nay là Fonda. Như các thiếu nữ Mohawk khác, chị được học may vá thêu thùa, kể cả làm dây thắt lưng bằng da thú. Chị học dệt chiếu, đan giỏ và hộp bằng sậy hay cói. Chị thông thạo chế biến thức ăn từ thú săn được hay từ nông sản. Chị cũng tham gia trồng tỉa hay nhổ cỏ theo thời vụ. Tóm lại, chị được dạy để trở nên một phụ nữ đảm đang trong gia đình. Có một điều hơi khác thường: người ta thấy cô bé Tekakwitha thường hay vào rừng một mình, không biết tại sao. Chị không quên những gì mẹ đã dạy: chị thích ở một mình để nhớ lại những điều mẹ kể và đọc các kinh mẹ dạy. Năm 13 tuổi, theo thói quen trong làng, chị được thúc giục lấy chồng, nhưng chị không chịu. Đây là điều lạ thường đối với các cô gái Mohawk.
Thời ấy dân Mohawk vừa thù nghịch với dân Algonquin vừa thù nghịch với người Pháp ở Canada. Tuy nhiên, họ suy yếu sau nhiều cuộc chiến và nhiều trận dịch. Năm 1673, Cha Lamberville đến dựng một nhà nguyện ở đó, vừa để giúp những người đã có đạo vừa để truyền giáo cho những người chưa theo đạo. Cậu của chị vốn ghét đạo nhưng phải chấp nhận vì sợ người Pháp. Chị đến nhà nguyện đọc kinh, dự lễ và học giáo lý. Lễ Phục Sinh năm 1674, chị được rửa tội với thánh danh Kateri, tức là thánh nữ Catarina.
Sau khi gia nhập Hội Thánh, chị bị chống đối mạnh mẽ từ gia đình đến dân làng. Hằng ngày chị bị trẻ em chế giễu và nhiều khi bị ném đá. Vì chị dành ngày Chúa Nhật để đi lễ và học giáo lý, không làm việc, nên gia đình không cho ăn. Chị bị đe doạ nếu không bỏ đạo sẽ bị đánh và giết. Vừa để tránh những hoạt động thù nghịch, vừa muốn hoàn toàn dâng mình cho Chúa, theo lời khuyên của cha phụ trách giáo điểm, 6 tháng sau ngày được rửa tội, chị cùng với mấy người quen trốn khỏi nhà, đi bộ hơn 2 tháng, vượt rừng vượt suối, băng qua hơn 320km đến giáo điểm Thánh Phanxicô Xaviê ở Sault Saint-Louis theo cách gọi của người Pháp, hay Kahnawake theo cách gọi của thổ dân, ngay cạnh thành phố Montreal. Giáo điểm này được các thừa sai Dòng Tên thành lập để truyền giáo cho dân Algonquin. Vào lúc thánh Kateri Tekakwitha đến, đời sống đạo ở giáo điểm đã khá ổn định. Chị đến ở nhà dài của bà Anastasia Tegonhatsiongo, một người bạn thân của mẹ chị, bên bờ sông Saint-Laurent. Cùng ở với bà Anastasia có một vài thiếu nữ khác: họ sống với nhau như một cộng đoàn nữ tu, nhưng không có tổ chức chi hết.
|
Kahnawake (đỏ) ở phía nam sông Saint-Laurent, phía đông hồ Saint-Louis bên kia sông là Montreal, thành phố đông dân thứ nhì ở Canada hiện nay |
Ngài Thuộc trọn về Chúa
Ở Kahnawake, ngay lập tức đời sống của chị được mọi người khen ngợi. Chị chăm chỉ đến nhà thờ đọc kinh dự lễ, nhiều khi ở một mình trước Chúa Giêsu Thánh Thể lâu giờ. Chị siêng năng lần hạt Mân Côi và lúc nào cũng đeo tràng hạt ở cổ. Chị hiền lành, ít nói, chăm làm, hay giúp đỡ người khác. Lễ Giáng Sinh năm 1677, chị được rước lễ lần đầu.
Khẩu hiệu của chị Kateri là: “Ai sẽ cho tôi biết điều gì đẹp lòng Chúa nhất để tôi thực hiện?” Ngoài các việc đạo đức, chị thường xuyên thăm viếng và giúp đỡ những người già cả và đau yếu trong làng. Chị cũng chỉ bảo các em bé về giáo lý và cầu nguyện theo như chị hiểu. Một thú vui của chị là trồng những cây Thánh Giá bằng gỗ trong rừng để nhắc nhở mình cũng như mọi người về việc cầu nguyện.
Cả ở Kahnawake, áp lực về hôn nhân vẫn còn. Ngày 25-3-1679, sau khi hỏi ý kiến cha phụ trách, chị tuyên khấn trọn đời sống khiết tịnh. Đây là điều chưa từng có trong các thổ dân địa phương. Chị muốn thuộc riêng và thuộc trọn về Chúa Giêsu. Cha Cholenec thuật lại lời chị: “Con đã suy nghĩ kỹ rồi. Con đã quyết định từ lâu rồi. Con muốn hiến thân trọn vẹn cho Chúa Giêsu, con của Mẹ Maria. Con chọn Người làm chồng, và chỉ mình Người cưới con làm vợ thôi.” Các cha đề nghị với các phụ nữ đạo đức một vài việc hãm mình nhỏ, không ngờ họ đi xa hơn nhiều. Do lòng đạo đức và quan niệm riêng, bà Anastasia hướng dẫn chị cũng như những người khác làm nhiều việc khổ chế để đền tội cho dân tộc mình và cầu nguyện cho dân tộc mình theo đạo.
Trong số những người bạn cùng sống ở nhà dài với chị có Maria Têrêxa Tegaiaguenta. Hai người gặp nhau lần đầu vào mùa xuân năm 1678. Vì lòng đạo đức, cả hai cùng bắt đầu bí mật đánh tội. Cha Cholenec sau này cho biết là mỗi lần họ dùng dây tua đánh tội từ 1.000 đến 1.200 cái. Chị Kateri đã thực hành như vậy hằng ngày cho đến chết. Một chị khác tên là Maria Skarichions cho biết về đời sống và hoạt động của các nữ tu. Họ quyết định cùng nhau xin cha phụ trách cho lập một dòng nữ. Các cha Dòng Tên cho là chưa thích hợp nên ngăn cản. Khi chị Maria Têrêxa rời nhóm, chị Kateri trở thành “thủ lãnh” của nhóm. Chị thường khuyên: (1) hãy can đảm, bất chấp những lời nói của những người không có đạo; (2) vững tin là chúng ta sống đẹp lòng Chúa và tôi sẽ giúp chị khi tôi lên với Chúa; (3) đừng bao giờ bỏ việc khổ chế.
Làng Kahnawake hiện nay
|
Tượng thánh Kateri Tekakwitha ở đền Thánh Anna tại Baupré, Canada |
Vì thường xuyên hãm mình và khổ chế, sức khoẻ của chị Kateri suy giảm nhanh chóng. Đến Tuần Thánh năm 1680, chị kiệt sức. Cha Cholenec thuật lại buổi chiều Thứ Tư Tuần Thánh:
“3 giờ chiều, chuông nhà nguyện đổ để tập họp cộng đoàn, vì nhiều người muốn có mặt khi chị tắt thở. Chị thấy mọi người hiện diện đông đủ. Mọi người quỳ gối cầu nguyện. Sau nửa giờ ngắn ngủi, chị nói những lời cuối cùng: ‘Iesos! Wari!’ (Giêsu! Maria!) Rồi chị hơi nhép miệng bên phải. Chị ra đi như thể nhẹ nhàng chìm vào giấc ngủ và một lúc lâu chúng tôi chưa biết chị còn sống hay đã chết. Ít phút trước 4 giờ, khuôn mặt chị biến đổi trở nên rất xinh đẹp, tươi cười và rạng rỡ… Chị đã từ giã dân làng để lại hương thơm đức hạnh và thánh thiện. Mấy tiếng sau, trong lễ đưa chân, tôi nhắc mọi người về kho báu Chúa đã tặng cộng đoàn… Chị Kateri đã chết như chị đã sống, nghĩa là một vị thánh. Ai cũng tiên đoán một người đã sống như vậy thì sẽ chết thế nào, vì chị đầy ơn Chúa Thánh Thần…”.
Trên mộ chị Kateri, các cha phụ trách cho ghi dòng chữ: “Bông hoa xinh đẹp nhất xưa nay nở giữa dân da đỏ”. Cha Chauchetiere cho xây một nhà nguyện gần mộ chị. Từ năm 1684, khách hành hương bắt đầu đến cầu nguyện với chị.
Một cô gái da đỏ bán khai sống ở Bắc Mỹ vào thế kỷ 17 có một sứ điệp gửi cho chúng ta sống trong thế kỷ 21? Dường như giữa ngài với chúng ta không có một liên hệ nào. Tuy nhiên, trong một thế giới tục hoá, giữa bao nhiêu tiến bộ khoa học và ký thuật vẫn đầy mâu thuẫn này, hình như khuôn mặt đơn sơ và thánh thiện của ngài vẫn có thể thu hút và gợi hứng cho những người đang đi tìm một cuộc sống có ý nghĩa, xây dựng một thế giới công bình và hoà bình.
Tượng thánh Kateri Tekakwitha ở
Vương Cung Thánh Đường Chính Tòa giáo phận Santa Fe, Mêhicô
+ Gm. Cosma Hoàng Văn Đạt, SJ
2021
Cần Trở Nên Bé Mọn
14 05 X Thứ Tư Tuần XV Thường Niên.
(Tr) Thánh Ca-mi-lô Len-li (Camillus de Lellis), Linh mục.
Xh 3,1-6.9-12; Mt 11,25-27.
Cần Trở Nên Bé Mọn
Tin Mừng hôm nay nằm trong loạt bài giảng về mầu nhiệm Nước Trời. Chúa Giêsu đã thực hiện nhiều phép lạ nhưng một số dân thành Caphanaum, Khôradin và Bếtxađa tỏ ra cứng tin và không chịu sám hối. Chúa Giêsu liền quở trách họ và khẳng định trong ngày phán xét đất Xơđôm là vùng của dân ngoại sẽ được xử khoan hồng hơn.
Sau đó Chúa Giêsu ngước mắt lên trời và cầu nguyện rằng: “Lạy Cha là Chúa Tể trời đất, con xin ngợi khen Cha, vì Cha đã giấu kín không cho bậc khôn ngoan thông thái biết những điều này, nhưng lại mặc khải cho những người bé mọn. Vâng, lạy Cha, vì đó là điều đẹp ý Cha. Cha tôi đã trao phó mọi sự cho tôi. Và không ai biết người Con là ai, trừ Chúa Cha, cũng như không ai biết Chúa Cha là ai, trừ người Con, và kẻ mà người Con muốn mặc khải cho”.
Trong lời cầu nguyện này, Đức Giêsu tỏ thái độ kính trọng và tôn vinh Chúa Cha là chủ thể sáng tạo. Người cũng là Đấng Khôn Ngoan Thượng Trí biết rõ ai là người xứng đáng lãnh nhận mầu nhiệm Nước Trời. Đây là lời cầu nguyện phát xuất từ trái tim, Chúa Giêsu luôn sống gắn bó mật thiết với Chúa Cha trong từng cử chỉ, lời nói, hành động và hoàn toàn vâng phục ý muốn của Chúa Cha.
Theo quan niệm của Do Thái, người khôn ngoan thông thái ở đây là những kinh sư kiêu căng tự cho mình là công chính, có nhiều kiến thức và am hiểu sách Luật. Họ như chiếc bình đóng kín nên không thể đổ thêm điều gì nữa.
Còn người bé mọn là ai? Họ chính là những người “vô danh tiểu tốt”, tầm thường không được ai biết đến. Họ là những bà góa không ai bảo vệ, những trẻ em mồ côi không nơi nương tựa, người thất học, bệnh tật bị xã hội bỏ rơi. Những người nghèo thường có thái độ đơn sơ khiêm tốn biết mình còn thiếu thốn, họ sẵn sàng mở lòng ra để lắng nghe tiếng Chúa. Họ như mảnh đất khô mong đợi những cơn mưa mùa hạ. Thánh Têrêsa Hài đồng Giêsu là vị thánh trổi vượt về tinh thần đơn sơ phó thác. Thánh nữ luôn tin tưởng tạ ơn Thiên Chúa trong mọi hoàn cảnh và đã xác tín rằng: “Tất cả những gì Thiên Chúa ban cho con, con đều ưa thích, ngay cả những sự xem ra không tốt lành và không đẹp đẽ bằng những điều Chúa ban cho người khác”.
Người bé mọn là người nhận thức được những giới hạn của chính mình trước ân huệ cao quý đến từ Thiên Chúa. Đây phải là thái độ cần có đối với những ai muốn lãnh nhận mầu nhiệm Nước Trời. Đức hồng y Henri Nouwen chia sẻ cho chúng ta một kinh nghiệm sống gắn bó với Thiên Chúa để lãnh nhận mặc khải Nước Trời: “Có những chuyện bạn hoàn toàn bất lực và không thể tự mình làm được. Hãy bắt đầu bằng việc thú nhận mình không thể tự chữa lành. Bạn phải hoàn toàn nhận mình bất lực để Thiên Chúa chữa lành. Khi chấp nhận mình bất lực là bắt đầu bạn để Thiên Chúa hành động. Hãy xem mình như một hạt giống nhỏ bé được gieo trong miếng đất màu mỡ. Tất cả những gì bạn phải làm là cứ ở đó tin tưởng rằng miếng đất có mọi thứ bạn cần để được lớn lên. Hãy bình tĩnh nhận mình bất lực và tin chắc có ngày bạn sẽ nhận được nhiều đến chừng nào”.
Chúa Giêsu chính là Ađam mới trong sự khiêm tốn vâng phục thánh ý Chúa Cha. Người là lời mặc khải yêu thương của Chúa Cha dành cho nhân loại. Người đã được Cha ưu ái giao phó cho sứ mạng cứu rỗi nhân loại. Đức Giêsu đã chọn con đường tự hủy ra không để kế hoạch của Thiên Chúa được thực hiện. Suốt những năm tháng đi rao giảng Tin mừng, Chúa Giêsu đã đến những người nghèo, đồng cảm với hoàn cảnh của bà góa, đưa về đàn con chiên đi lạc, thao thức tìm kiếm những gì đã hư mất. Một Madalêna tội lỗi, một Giakêu thu thuế, một Phêrô thất trung và một Giuđa phản loạn…tất cả đều được cứu chuộc theo lòng từ bi của Thiên Chúa. Đáng thương thay đôi lúc chúng ta lại không nhận mình là người tội lỗi. Chúng ta xây tháp Babel để được bằng Thiên Chúa, tự mãn với những thành công mà quên rằng không có Chúa, chúng ta không thể làm được điều gì.
Lời Chúa hôm nay mời gọi chúng ta sống tâm tình khiêm tốn, dám phó thác cuộc đời mình cho sự quan phòng yêu thương của Thiên Chúa. Hãy cám ơn Chúa vì niềm hạnh phúc lớn lao được làm con cái Chúa, được lãnh nhận mặc khải Nước Trời. Hãy đặt bàn tay nhỏ bé của ta trong bàn tay rộng lớn của Chúa để Người dẫn chúng ta đến bến bờ yêu thương, đến chân trời rộng mở và đến nguồn sống đích thực. Hãy xác tín một điều Thiên Chúa thấu hiểu chúng ta hơn chúng ta hiểu biết chính mình. Thiên Chúa quảng đại ban cho chúng ta những điều tốt đẹp hơn những gì chúng ta ước muốn và cầu xin.
Con người có thể khước từ Thiên Chúa, nhưng Thiên Chúa thì không bao giờ từ bỏ con người; Ngài luôn mời gọi con người trở về để lãnh nhận ân sủng và sự thật của Ngài. Thiên Chúa mời gọi mọi người, không phân biệt, nhưng từ phía con người có thể có một trong hai thái độ: thái độ của những kẻ bé mọn khiêm tốn để cho Chúa dạy dỗ; và thái độ của những kẻ thông thái, tự cao, cho mình thuộc một nhóm nhỏ tách rời khỏi đại đa số dân chúng.
Những kẻ thông thái được Chúa Giêsu trực tiếp nhắm đến trong Tin Mừng hôm nay là nhóm Biệt Phái đang đứng trong hành lãnh đạo sinh hoạt tôn giáo và chống đối Chúa. Họ đến với Chúa bằng con đường của sự thông hiểu về luật Môsê; họ cho rằng chỉ cần am tường lề luật Môsê trong Kinh Thánh cũng như trong truyền khẩu là con người có thể đến với Chúa: họ tự phụ mình biết Thiên Chúa, nhưng thực ra họ lìa xa Ngài.
Con đường Chúa Giêsu mạc khải để giúp con người đến với Thiên Chúa chính là Ngài, mà mỗi người chúng ta được mời gọi đón nhận với tâm hồn đơn sơ khiêm tốn: “Thầy là đường, là sự thật và là sự sống. Không ai đến được với Cha mà không qua Thầy”. Nếu cậy dựa vào sự khôn ngoan của mình, con người sẽ không gặp được Thiên Chúa, nhưng nếu để Chúa Thánh Thần hướng dẫn và nhờ qua Chúa Giêsu Kitô, con người có thể đạt tới sự thông hiệp với Thiên Chúa và được cứu rỗi: “Lạy Cha, con chúc tụng Cha, vì điều Cha đã giấu không cho bậc khôn ngoan thông thái biết, thì Cha lại mạc khải cho những người bé mọn”.
Chúng ta cần trở nên những người bé mọn theo tinh thần Tin Mừng, để cảm nếm và sống hòa hiệp với Thiên Chúa. Ðức tin Kitô giáo hướng dẫn chúng ta đến một con người cụ thể, một vị Thiên Chúa chấp nhận sống với con người, chứ không phải những lý lẽ thần học cao siêu. Một con người khiêm tốn có thể có đức tin sâu xa hơn một nhà thông thái. Ðức tin là một hồng ân cần được lãnh nhận hơn là kết quả của sưu tầm trí thức của con người. Thánh Têrêsa Avila, tuy không học hành nhiều, nhưng đã có kinh nghiệm sống động về Thiên Chúa và đã trình bày kinh nghiệm thiêng liêng của mình một cách tốt đẹp, đến nỗi đã được đặt làm tiến sĩ Hội Thánh, vì giáo huấn của thánh nữ để lại là kho tàng thiêng liêng quí báu giúp mọi thành phần Giáo Hội đến với mầu nhiệm Thiên Chúa.
Dĩ nhiên, Chúa Giêsu không có ý loại bỏ những bậc thông thái, nhưng chỉ có ý cảnh tỉnh những ai cậy dựa vào sự thông thái rằng họ sẽ không đến được với Chúa, không có đủ điều kiện để lãnh nhận mạc khải của Chúa. Tuy nhiên, không thiếu những trường hợp có sự hòa hợp giữa thông thái và đức tin Kitô giáo. Thánh Tôma Tiến sĩ là một điển hình. Nói chung, thái độ khiêm tốn để Chúa soi sáng hướng dẫn là điều căn bản cần phải có luôn.
