2021
Bài Học Kiên Nhẫn
27 18 X Thứ Ba Tuần XVII Thường Niên.
Xh 33,7-11;34,5b-9.28; Mt 13,36-43.
Bài Học Kiên Nhẫn
Cứ vào mỗi độ mùa mưa dầm thấm đất, trên những cánh đồng mênh mông đã được cầy xới cẩn thận, nhà nông tay bưng thúng thóc, tay vung hạt vàng vãi đều trên mặt đất sình lầy còn áng lên đầy chất màu mỡ – người ta gọi đó là xạ lúa. Không như những ruộng lúa cấy luôn thẳng tắp thừng hàng, gọn gàng từng khóm, lúa xạ mọc chi chít trên khắp mặt ruộng có khả năng hạn chế cỏ mọc rất nhiều. Tuy nhiên chẳng đồng ruộng nào mà không có cỏ, hoặc ít, hoặc nhiều: cỏ lớn, cỏ bé, cỏ lá dài, cỏ lá tròn, lá đơn, lá kép, rễ cọc, rễ chùm… thôi thì đủ loại, nhưng đáng ngại nhất vẫn là cỏ lùng.
Dụ ngôn về cỏ lùng thoạt tiên gợi lên cho chúng ta một trong những thảm kịch lớn của nhân loại. Ở thời đại nào cũng có những người muốn thanh tẩy xã hội bằng các cuộc sàng lọc không tiếc xót: từ Tần Thủy Hoàng đến Hitler, Pônpốt qua các cuộc chiến hiện nay. Khi người ta muốn loại bỏ cỏ lùng, thì người ta cũng nhổ đi cả cây lúa tốt tươi.
Cỏ lùng có hình dáng chẳng khác gì cây lúa nên dù là nông dân “chính hiệu con nai vàng”, dạn dày kinh nghiệm cũng khó lòng mà phân biệt được. Cỏ cũng phát triển lớn lên, ôm đòng giống hệt cây lúa, và chỉ cho đến lúc trổ bông người ta mới biết được đâu là cỏ, đâu là lúa; nhưng như thế, để không làm tổn hại đến lúa, người ta chỉ còn cách chờ đến mùa gặt – lúa gặt được thì cho vào kho lẫm, còn cỏ thì phải đốt đi.
Trên cánh đồng trần gian, tình trạng cũng không khác mấy, người lành, kẻ xấu cùng sống cạnh nhau trên hành tinh này. Có đủ thứ loại người xấu mà người ta có thể nhận ra rõ ràng vì các hành động và thái độ sống không đẹp của họ; nhưng đáng ngại nhất vẫn là những người xấu mà khoác vẻ bề ngoài tốt lành với những công việc và cách sống rất ư là “đẹp”. Tuy nhiên, sự phá hoại và tội ác tiềm ẩn của họ rất ghê gớm mà khó ai có thể nhận ra; hoặc những hành động ‘đẹp’ của họ lại ẩn chứa những thói kiêu căng, tự mãn, hay nhắm kiếm cho mình một lợi ích cá nhân nào đó lớn hơn…. Vì sự khó nhận ra như thế nên việc xét đoán con người không thuộc thẩm quyền con người mà chỉ ở nơi Thiên Chúa, và điều duy nhất con người nên làm là kiểm điểm chính bản thân mình để loại đi cỏ dại ở nơi chính mình.
Mặt khác, dụ ngôn “cỏ lùng – lúa tốt” mà Đức Giê-su đưa ra trong trình thuật Tin mừng hôm nay nhắm đến một điều còn lớn hơn, đó là lòng từ bi, thương xót, kiên nhẫn, bao dung, quảng đại của Thiên Chúa. Chúng ta thường có khuynh hướng chung là muốn tiêu diệt sự dữ ngay tức khắc: “Sao Chúa không phạt cho nó méo miệng khi nó nói xấu bôi nhọ con trong khi con vô tội!” “cầu cho nó ra đường xe đụng bởi nó độc ác làm hại mọi người!”, hoặc “cái thứ xấu xa như ngữ ấy sống làm gì cho chật đất.”….Và dường như trong những tư tưởng, những mong ước xem ra rất là “hợp lý và tự nhiên” ấy lại tiềm ẩn một tư tưởng báo thù – ‘xin Chúa Trời báo oán!’ Nhưng Thiên Chúa là “Đấng từ bi và nhân hậu, Người đại lượng và chan chứa tình thương. Người không xử với ta như ta đáng tội và không trả cho ta theo lối của ta.” (Tv.) Và tư tưởng của Thiên Chúa thì khác xa với tư tưởng con người.
Vì không như những cánh đồng trần gian, cỏ muôn đời là cỏ mà lúa vạn kiếp vẫn là lúa, nơi cánh đồng tâm linh con người, cỏ vẫn có khả năng cải tạo thành lúa tốt (gương những vị thánh như Maria Ma-đa-lê-na, Phao-lô, Au-gus-ti-nô, Inhaxio…) mà lúa cũng có thể biến thành cỏ dại. Do đó mà Thiên Chúa vẫn luôn chờ đợi, và Người luôn mong chờ nơi cánh đồng của Người một mùa gặt bội thu.
Thiên Chúa đã ban ân sủng cũng như Lời của Người cho con người. Tâm hồn con người như một cánh đồng bao la huyền nhiệm đón nhận ân sủng và hạt giống Lời Chúa. Hạt giống ấy có được phát triển phong nhiêu, sinh nhiều hoa thơm trái tốt hay không là tùy tình trạng của mảnh đất tâm hồn này. Mảnh đất tâm hồn con người có được cày xới, chăm chút bằng sự giáo dục đúng đắn của gia đình, của xã hội và của giáo hội, thì dù ma quỉ có gieo cỏ lùng là những gương xấu, những chủ trương, triết thuyết sai lầm lôi kéo…cũng không thể lấn át được sự phát triển của hạt giống tốt trong tâm hồn.
Vì vậy, mỗi Ki-tô hữu phải được bồi dưỡng, trang bị cho mình những kiến thức thánh kinh, luân lý và giáo huấn của Giáo hội, nuôi dưỡng bằng các bí tích và đời sống cầu nguyện để có một đức tin mạnh mẽ, lấy Lời Chúa làm kim chỉ nam, làm lẽ sống để lấn át và tiêu diệt cỏ lùng. Đồng thời xin Chúa ban cho chúng ta có được tấm lòng nhân hậu và trái tim đầy tình yêu thương của Chúa, để chúng ta biết mong muốn điều tốt lành nơi anh chị em mình, để chúng ta biết kiên nhẫn, biết thứ tha trước những lỗi lầm, khuyết điểm của tha nhân; và xin cho mỗi Ki-tô hữu là hạt giống tốt, nên như gương sáng, như muối, như men cho đời thêm phong phú đẹp tươi.
Cảm nghiệm sâu sắc về nỗi yếu hèn và khốn khổ của mình, con người mới cảm thấy cần cảm thông, kiên nhẫn và tha thứ cho người khác hơn. Ðó là bài học thực tiễn mà có lẽ mỗi người chúng ta cần đào sâu, đồng thời cầu xin để mỗi ngày chúng ta phát hiện ra những tia sáng tình thương của Chúa và chia sẻ tình yêu với những người xung quanh.
Ta mong muốn “cánh đồng” thân hữu của mình chỉ toàn những “lúa đồng” thuần chủng. Thế nhưng, sớm muộn rồi “cỏ lùng” cũng xuất hiện: một người bạn chơi xấu, một người thân phản bội… Thay vì chua chát, cay đắng hay trở nên tiêu cực, thất vọng, ta được mời gọi nhìn nhận một sự thật: thế giới là tình trạng “vàng thau lẫn lộn,” ánh sáng đan xen với bóng tối, người tốt ở chung với kẻ xấu. Hơn nữa, nếu thành thật với mình, ta cũng phải nhìn nhận ngay trong tâm hồn mình có tình trạng lúa tốt chen lẫn với cỏ lùng, sự trung tín đi liền sự phản bội, các đức tính tốt ở sát bên các nết xấu. Sự thật này dạy ta đừng vội vàng xét đoán, phân loại người khác khi chỉ thấy một phần hay một giai đoạn cuộc sống của nhau.
Dụ ngôn vừa phác họa cho bạn một cuộc sống hiện thực vừa gợi lên tinh thần lạc quan bạn phải có. Mỗi người chúng ta được Chúa mời gọi học tính kiên nhẫn và nhân hậu như chính Thiên Chúa, người chủ ruộng của dụ ngôn. Ngài kiên nhẫn chờ đợi đến mùa gặt là ngày chung cuộc mới xét xử người xấu.
Qua dụ ngôn cỏ lùng, có lẽ Chúa Giêsu còn muốn nói đến một thảm kịch khác sâu sắc hơn, đó là thảm kịch của lòng người. Trong đáy thẳm tâm hồn, ai trong chúng ta cũng cảm nghiệm được sự giằng co xâu xé giữa một bên là khả năng hướng thiện và một bên là sức mạnh của tối tăm. Cỏ lùng vẫn cố gắng vươn lên trong cánh đồng tâm hồn chúng ta. Thánh Phaolô đã diễn tả chân lý ấy một cách chính xác khi Ngài nói: “Sự thiện tôi muốn thì tôi không làm, còn sự ác không muốn thì tôi lại làm”. Sức mạnh của tội ác, của ma quỉ, của sự dữ trong tâm hồn mỗi người chúng ta là một thực tại không thể chối cãi được. Trong Kinh Lạy Cha, Chúa Giêsu đã chẳng dạy chúng ta cầu nguyện: Xin cứu chúng con khỏi mọi sự dữ đó sao?
2021
Thứ ba Tuần XVII – Mùa Thường Niên
Thứ ba Tuần XVII – Mùa Thường Niên
Ca nhập lễ
Tv 67,6-7.36
Thiên Chúa ngự trong thánh điện Người,
kẻ cô thân, Thiên Chúa cho nhà cửa,
chính Người ban tặng cho dân dũng lực uy quyền.
Lời nguyện nhập lễ
Lạy Chúa là sức mạnh và là niềm trông cậy của chúng con không có Chúa chẳng có chi vững bền, chẳng có chi thánh thiện; xin mở lòng nhân hậu hướng dẫn chúng con để khi biết cách dùng những của cải chóng qua đời này, chúng con đã gắn bó với của cải muôn đời tồn tại. Chúng con cầu xin …
Bài đọc 1
Đức Chúa đàm đạo với ông Mô-sê, mặt giáp mặt.
Bài trích sách Xuất hành.
33 7 Bấy giờ, ông Mô-sê lấy một chiếc lều và đem dựng cho mình bên ngoài trại, cách một quãng xa. Ông gọi lều ấy là Lều Hội Ngộ. Ai thỉnh ý Đức Chúa thì ra Lều Hội Ngộ, ở ngoài trại. 8 Mỗi khi ông Mô-sê ra Lều, toàn dân đứng lên, ai nấy đứng ở cửa lều mình và nhìn theo ông Mô-sê cho đến khi ông vào trong Lều. 9 Mỗi khi ông Mô-sê vào trong Lều, thì cột mây đáp xuống, đứng ở cửa Lều, và Đức Chúa đàm đạo với ông Mô-sê. 10 Khi thấy cột mây đứng ở cửa Lều, toàn dân đứng dậy ; và ai nấy phủ phục ở cửa lều mình. 11 Đức Chúa đàm đạo với ông Mô-sê, mặt giáp mặt, như hai người bạn với nhau. Rồi ông Mô-sê trở về trại ; nhưng phụ tá của ông là chàng thanh niên Giô-suê, con ông Nun, thì cứ ở trong Lều, không rời khỏi đó.
34 5b Đức Chúa đứng đó với ông. Người xưng danh Người là Đức Chúa. 6 Đức Chúa đi qua trước mặt ông và xướng : “Đức Chúa ! Đức Chúa ! Thiên Chúa nhân hậu và từ bi, hay nén giận, giàu nhân nghĩa và thành tín, 7 giữ lòng nhân nghĩa với muôn ngàn thế hệ, chịu đựng lỗi lầm, tội ác và tội lỗi, nhưng không bỏ qua điều gì, và trừng phạt con cháu đến ba bốn đời vì lỗi lầm của cha ông.” 8 Ông Mô-sê vội vàng phục xuống đất thờ lạy 9 và thưa : “Lạy Chúa, nếu quả thật con được nghĩa với Chúa, thì xin Chúa cùng đi với chúng con. Dân này là một dân cứng đầu cứng cổ, nhưng xin Ngài tha thứ những lỗi lầm và tội lỗi của chúng con, và nhận chúng con làm cơ nghiệp của Ngài.”
28 Ông ở đó với Đức Chúa bốn mươi ngày bốn mươi đêm, không ăn không uống, và ông viết trên những bia các điều khoản của giao ước, tức là Thập Điều.
Đáp ca
Tv 102,6-7.8-9.10-11.12-13 (Đ. c.8a)
Đ.Chúa là Đấng từ bi nhân hậu.
6Chúa phân xử công minh,
bênh quyền lợi những ai bị áp bức,
7mặc khải cho Mô-sê biết đường lối của Người,
cho con cái nhà Ít-ra-en
thấy những kỳ công Người thực hiện.
Đ.Chúa là Đấng từ bi nhân hậu.
8Chúa là Đấng từ bi nhân hậu,
Người chậm giận và giàu tình thương,
9chẳng trách cứ luôn luôn,
không oán hờn mãi mãi.
Đ.Chúa là Đấng từ bi nhân hậu.
10Người không cứ tội ta mà xét xử,
không trả báo ta xứng với lỗi lầm.
11Như trời xanh trổi cao hơn mặt đất,
tình Chúa thương kẻ thờ Người cũng trổi cao.
Đ.Chúa là Đấng từ bi nhân hậu.
12Như đông đoài cách xa nhau ngàn dặm,
tội ta đã phạm, Chúa cũng ném thật xa ta.
13Như người cha chạnh lòng thương con cái,
Chúa cũng chạnh lòng thương kẻ kính tôn.
Đ.Chúa là Đấng từ bi nhân hậu.
Tung hô Tin Mừng
Ha-lê-lui-a. Ha-lê-lui-a.
Hạt giống là lời Thiên Chúa,
người gieo giống là Đức Ki-tô.
Ai tuân giữ lời Người,
sẽ muôn đời tồn tại. Ha-lê-lui-a.
Tin Mừng
Mt 13,36-43
Như người ta nhặt cỏ lùng rồi lấy lửa đốt đi thế nào, thì đến ngày tận thế cũng sẽ xảy ra như vậy.
✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mát-thêu.
36 Khi ấy, Đức Giê-su bỏ đám đông mà về nhà. Các môn đệ lại gần Người và thưa rằng : “Xin Thầy giải nghĩa dụ ngôn cỏ lùng trong ruộng cho chúng con nghe.” 37 Người đáp : “Kẻ gieo hạt giống tốt là Con Người. 38 Ruộng là thế gian. Hạt giống tốt, đó là con cái Nước Trời. Cỏ lùng là con cái Ác Thần. 39 Kẻ thù đã gieo cỏ lùng là quỷ dữ. Mùa gặt là ngày tận thế. Thợ gặt là các thiên sứ. 40 Vậy, như người ta nhặt cỏ lùng rồi lấy lửa đốt đi thế nào, thì đến ngày tận thế cũng sẽ xảy ra như vậy. 41 Con Người sẽ sai các thiên sứ của Người tập trung mọi kẻ làm gương mù gương xấu và mọi kẻ làm điều gian ác, mà tống ra khỏi Nước của Người, 42 rồi quăng chúng vào lò lửa ; ở đó, người ta sẽ phải khóc lóc nghiến răng. 43 Bấy giờ người công chính sẽ chói lọi như mặt trời, trong Nước của Cha họ. Ai có tai thì nghe.”
Lời nguyện tiến lễ
Lạy Chúa, chúng con dâng lên những của lễ Chúa đã rộng ban cho chúng con; cúi xin Chúa vui lòng chấp nhận, và cho lễ tế này đem lại ân sủng dồi dào để chúng con được thánh hóa trong cuộc đời hiện tại và đạt tới hạnh phúc muôn đời. Chúng con cầu xin …
Lời Tiền Tụng Chúa
Lạy Chúa là Cha chí thánh, là Thiên Chúa toàn năng hằng hữu, chúng con tạ ơn Chúa mọi nơi mọi lúc, thật là chính đáng, phải đạo và đem lại ơn cứu độ cho chúng con.
Chúng con biết rằng: vì vinh quang vô biên của Chúa, Chúa dùng thần tính mà cứu giúp chúng con là những kẻ phải chết. Hơn nữa, Chúa còn dự liệu linh dược để chữa lành bản tính phải chết của chúng con và giải thoát tất cả những ai vì mang bản tính đó mà bị hư mất, nhờ Ðức Ki-tô, Chúa chúng con.
Nhờ Người, đạo binh các Thiên thần thờ lạy uy linh Chúa, muôn đời hoan hỷ trước Tôn Nhan. Xin cho chúng con được đồng thanh với các ngài hân hoan tung hô rằng:
Thánh! Thánh! Thánh! …
Lời nguyện hiệp lễ
Lạy Chúa, Chúa đã cho chúng con tham dự vào bí tích Thánh Thể, để chúng con đời đời tưởng nhớ Ðức Giêsu Con Một Chúa, đã chịu khổ hình và sống lại hiển vinh; xin cho bí tích tình yêu Người trối lại dẫn chúng con tới hưởng ơn cứu độ muôn đời. Chúng con cầu xin …
Ca hiệp lễ
Tv 102,2
Chúc tụng Chúa đi, hồn tôi hỡi,
chớ có quên mọi ân huệ của Người.
2021
Những lời nguyện tắt kính Thánh Tâm Chúa Giêsu
Những lời nguyện tắt kính Thánh Tâm Chúa Giêsu
Chúa Giêsu đã dạy các môn đệ phải “tỉnh thức và cầu nguyện luôn”, “đừng sờn lòng nản chí”[1] và Ngài cũng lưu ý là “đừng lải nhải như dân ngoại”[2] vì không phải hễ nói nhiều là được nhận lời. Hiểu rõ ý nghĩa của việc cầu nguyện, thánh Biển Đức đã dạy các môn sinh của mình: “Chẳng phải do nhiều lời nhưng chỉ cần một tấm lòng thanh sạch, hòa với dòng lệ thống hối là được Chúa nhận lời. Vì thế, lời cầu nguyện phải ngắn gọn – tinh tuyền”.[3]
Truyền thống Giáo hội kể lại rằng: Vào khoảng thế kỷ III, từ các giáo phụ sống trong sa mạc cho tới nhóm người hành hương Nga, từ các vị đan tu Tây phương cho tới Ðông phương, tất cả chỉ có một ưu tư, một tìm kiếm say mê: đó là có thể thực hành một lời cầu nguyện kiên trì được rút từ một câu Kinh Thánh hoặc một lời dốc lòng để lặp đi lặp lại suốt ngày sống, thúc giục lòng yêu mến và sự kết hiệp mật thiết với Chúa. Do đó, đã xuất hiện một trào lưu cầu nguyện mới với tên gọi “lời nguyện tắt”, “lời nguyện bắn tên” hoặc nói theo kiểu của Cassien là “cầu nguyện bằng lửa”. Hình thức cầu nguyện này giúp cho các đan sĩ dễ dàng liên lỉ kết hợp với Chúa trong cô tịch và thanh vắng.
![]() |
Trải dài suốt nhiều thế kỷ, hình thức cầu nguyện này đã nuôi dưỡng nhiều tâm hồn sống tràn đầy thiện hảo trong ân sủng và tương quan mật thiết với Chúa. Trong những ngày còn lại của tháng kính Thánh Tâm Chúa và tiếp tục trong đời sống thường ngày của chúng ta, hẳn chúng ta cũng nên dùng những “lời nguyện tắt kính Thánh Tâm Chúa Giêsu” như những “mũi tên lửa” của tâm hồn khát khao tình yêu, bắn vào trái tim thương xót của Chúa Giêsu làm tuôn trào mạnh nguồn sự sống và dòng nước ân sủng, từ đó chúng ta được nuôi dưỡng, được “sống và sống dồi dào”.[4]
Kho tàng của Giáo hội ngập tràn những lời kinh nguyện vắn tắt và cô đọng, tuy nhiên chúng ta được đánh động bởi những lời cầu nguyện giúp ta dễ dàng sà vào cung lòng Chúa, nương ẩn nơi Trái Tim Rất Thánh của Chúa trong mọi nơi mọi lúc:
Khi chìm ngập trong lỗi tội, ta khao khát lòng thương xót bao dung, miệng và lòng ta thốt lên lời nguyện tắt: “Lạy rất Thánh Trái Tim Đức Chúa Giêsu, xin thương xót chúng con”.
Khi ta khô khan nguội lạnh, lúc ta chán nản muốn xa lìa Chúa, tim ta rung lên lời: “Lạy Trái Tim nhân lành Đức Chúa Giêsu, xin ban cho con kính mến Trái Tim Chúa mỗi ngày một hơn”.
Khi ta khó ứng xử giữa dòng đời vạn biến, ta lặp đi lặp lại lời nguyện: “Lạy Chúa Giêsu hiền lành và khiêm nhường trong lòng, xin uốn lòng con nên giống Trái Tim Chúa”.
Với việc suốt ngày chỉ lặp đi lặp lại cùng một lời kinh có vẻ như đơn điệu và nhàm chán, nhưng nhờ tác động yêu mến của con tim ta sẽ dần dần có được một cảm thức nhạy bén để “sống trước sự hiện diện của Thiên Chúa”.[5] Linh phụ Jean Cas-si-en tin rằng, một lời kinh được lặp đi lặp lại, có sức thống nhất tâm hồn. Vì thế, để lời cầu nguyện chúng ta đạt kết quả tốt, chúng ta phải kết hợp suy nghĩ của khối óc với ước muốn trong con tim, và mọi tác động của giác quan sao cho thống nhất hài hòa.
![]() |
Lời nguyện vắn tắt là phương thế giúp ta sống trong trạng thái cầu nguyện liên lỉ. Vì thế giáo phụ Caisianô nói: “Tột đỉnh của sự trọn lành là biến tất cả cuộc sống với mọi nhịp đập của con tim của chúng ta trở thành một lời cầu duy nhất không ngưng nghỉ”. Quả vậy, tim chạm vào tim, lòng chạm vào lòng, khát khao nên thánh và nên hoàn thiện của chúng ta chạm vào Trái Tim Cực Thánh của Chúa Giêsu bằng những lời nguyện tắt kết hiệp, lẽ nào không là việc của yêu mến hết tình ta dành cho Chúa sao?
Hỡi ai vất vả gánh gian nan
Đường đời khốn khổ ách lầm than
Đến đây Ta sẽ cho bổ sức
Nương náu Thánh Tâm chốn an nhàn.
Hãy học với Ta đức khiêm nhường
Hiền lành nhân hậu và dễ thương
Rồi ách của con, nên êm ái
Và gánh của con, sẽ nhẹ nhàng.
Xin Chúa cho con chỗ náu nương
Trong Thánh Tâm Chúa tràn yêu thương
Nghỉ ngơi, bổ dưỡng bằng Thánh Thể
Thần lực nuôi con suốt dặm trường.
Xin Chúa cho con học hiểu bài
Thực hành trong suốt cõi trần ai
Trở nên nhân chứng tình yêu Chúa
Đời đời danh Chúa rạng, chẳng phai.
Nt Maria Thérèse Minh Thùy, dòng Đaminh Rosa Lima
1 Lc 21,36; Lc 18,1
2 Mt 6,7
3 Tu luật thánh Biển Đức, chương 20,3-4
4 Ga 10,10
5 St 17,1
2021
ÂM THẦM LẶNG LẼ PHỤC VỤ
26 17 Tr Thứ Hai Tuần XVII Thường Niên.
Thánh Gio-a-kim và thánh An-na, song thân Đức Trinh nữ Ma-ri-a, lễ nhớ.
Chân phúc An-rê Phú Yên, Thầy giảng (U1644) Tử đạo.
Xh 32,15-24.30-34; Mt 13,31-35.
ÂM THẦM LẶNG LẼ PHỤC VỤ
Trong Kinh Thánh, các thánh sử Matthêu và Luca cung cấp cho chúng ta phả hệ của Ðức Giêsu. Các ngài đi ngược trở về tổ tiên dòng họ của Người chỉ để chứng minh rằng Ðức Giêsu là cực điểm của các lời hứa trọng đại. Nhưng bên ngoại của Ðức Giêsu thì bị lang qun, chúng ta không có một dữ kiện gì về các đấng sinh thành ra Ðức Maria. Ngay cả thánh Gioankim và Anna cũng xuất phát từ một truyền thuyết được viết lại sau khi Ðức Gisu về trời khoảng hơn một thế kỷ.
Tuy nhiên, đức tính anh hùng và thánh thiện của các ngài được suy đoán từ bầu khí của toàn thể gia tộc Ðức Maria. Chúng ta dựa trên truyền thuyết về thời kỳ thơ ấu của Ðức Maria hoặc suy đoán từ các dữ kiện trong Phúc Âm, Ðức Maria là một thể hiện của biết bao thế hệ những người siêng năng cầu nguyện mà chính ngài là một người đắm chìm trong cc truyền thống đạo đức của người Do Thái.
Các đức tính nổi bật của Ðức Maria khi ngài thi hành các quyết định, khi liên lỉ cầu nguyện, khi trung thành với quy luật tôn giáo, khi bình tĩnh trước những khủng hoảng và khi tận tâm với người bà con – tất cả những điều này cho thấy một gia tộc khắng khít, yêu thương nhau biết nhìn đến các thệ hệ tương lai trong khi vẫn duy trì truyền thống tốt đẹp của quá khứ.
Thánh Gioankim vá Thánh Anna, dù những tên tuổi này có thật hay không; đã đại diện cho một chuỗi thế hệ của những người trung tín thi hành bổn phận, kiên trì sống đức tin để tạo nên một bầu khí thuận tiện cho sự giáng trần của Ðấng Thin Sai, nhưng họ vẫn âm thầm không ai biết đến.
Trong bài Tin Mừng của Thánh Lễ kính thánh Gioakim và thánh Anna, Song Thân của Đức Maria hôm nay, Chúa Giêsu nói:
Còn anh em, mắt anh em thật có phúc vì được thấy, tai anh em thật có phúc, vì được nghe. (c. 16)
Trong bối cảnh phụng vụ, lời này của Chúa Giêsu được ứng nghiệm cho đôi mắt và đôi tai của “ông bà ngoại” của Người, nghĩa là của thánh Gioakim và của thánh Anna. Tuy nhiên, lời này của Chúa Giêsu cũng liên quan đến đôi mắt và đôi tai của chúng ta.
Thực vậy, qua kinh nghiệm cuộc sống, nhất là khi chúng ta có dịp đến phục vụ những người tàn tật, những người mù, những người câm điếc, chúng ta mới nhận ra rằng sự kiện chúng ta thấy được và nghe được, là một ơn huệ; và khi nhận ra đôi mắt và đôi tai của chúng ta là một ơn huệ, chúng ta được mời gọi nhận ra Đấng ban ơn để tạ ơn và ca tụng, và chia sẻ ơn huệ mà chúng ta có cho người khác, nhất là cho những người tàn tật, không có cùng một ơn huệ như chúng ta.
Tuy nhiên, ngay trước đó, Chúa Giêsu còn nói tới một bệnh mù khác, một bệnh điếc khác: “họ nhìn mà không nhìn, nghe mà không nghe, không hiểu” (c. 13). Như thế, mối phúc mà Chúa Giêsu nói tới, không chỉ là khả năng thể lý nhìn thấy sự vật và nghe được âm thanh.
Thật vậy, đôi mắt của chúng ta được dựng nên, có “ơn gọi” không phải là nhìn thấy những điều hữu hình, nhưng qua những điều hữu hình, nhận ra những thực tại vô hình. Thực vậy, chúng ta được mời gọi nhìn thấy sự vật không chỉ như là sự vật, nhưng còn là những quà tặng, những ơn huệ, những dấu chỉ, nói lên sự hiện diện của ai đó, của tình thương, nói lên Đấng ban ơn, nói lên chính Đấng tạo dựng.
Và nhất là khi nhìn thấy một người, đôi mắt của chúng ta không được dừng lại ở vẻ bề ngoài, ở ngoại hình, ở trang phục, không được coi người người này là đối tượng để mình thỏa mãn nhu cầu, thỏa mãn lòng ham muốn; nhưng đôi mắt của chúng ta được mời gọi nhìn người khác trong sự thật, nghĩa là người đó là một ngôi vị tự do và có lòng ước ao, có ơn gọi riêng, có quá khứ và những vấn đề riêng, có hành trình riêng cần tôn trọng; nếu sự thật là người ấy có những hành vi phạm lỗi đáng lên án, thì chúng ta được mời gọi nhận ra một sự thật khác lớn hơn: người ấy còn là một ngôi vị bất hạnh đang đau khổ, và có khi người này ở trong bất hạnh mà không biết. Đó cái nhìn của Người Cha nhân hậu đối với người con hoang đàng, đó là cái nhìn của Chúa Giêsu về người phụ nữ ngoại tình, đó là cái nhìn của Ba Ngôi Thiên Chúa đối với loài người chúng ta, với từng người chúng ta.
Đôi mắt của thánh Gioakim và thánh Anna, đôi mắt của các môn đệ và đôi mắt của chúng ta thật là có phúc, như Chúa Giêsu nói: “Còn anh em, mắt anh em thật có phúc vì được thấy”, bởi vì chúng ta được ơn nhận biết Chúa Giêsu Nazareth là Đức Kitô, Con Thiên Hằng Sống và Ngôi Lời nhập thể. Đôi mắt có phúc là đôi mắt nhận biết Đức Giêsu Kitô; và đôi mắt nhận biết Chúa Giêsu Kitô là đôi mắt sống đúng với ơn gọi của mình.
Cũng vậy đối với đôi tai của chúng ta: đôi tai của chúng ta được ban cho, có ơn gọi không phải là nghe tiếng động hay âm thanh, nhưng là nghe ra sự hài hòa của âm thanh, nghe được giai điệu, kết cấu của âm thanh, truyền đạt cho chúng ta một ý nghĩa, một sứ điệp, truyền đạt cho chúng ta Ngôi Lời, bởi vì “Nhờ Ngôi Lời vạn vật được tạo thành” (Ga 1, 3 và St 1) : Trời xanh tường thuật vinh quang Thiên Chúa, không trung loan báo việc tay Người làm. (Tv 19, 2).
Thế mà ý nghĩa và sứ điệp, được tạo ra bởi sự liên kết hài hòa theo qui luật giữa các âm thanh, thì hoàn toàn thinh lặng, không có tiếng động. Thiên Chúa nói với con người qua rất nhiều lời nói: lời trong Kinh Thánh, lời từ các chứng nhân của Thiên Chúa, nhưng chính Đức Giêsu Nazareth, Ngôi Lời Thiên Chúa làm nên sự hợp nhất của những lời nói cụ thể này. Như thế, Ngôi Lời không làm cho bất cứ đôi tai nào rung lên, Ngôi Lời chỉ được thốt lên và chỉ được nghe trong thinh lặng.
Thánh Phao-lô trong thư gởi Tín Hữu Roma đã trích Tv 19, nhưng một cách rất lạ lùng. Bởi vì, đối với thánh nhân “Tiếng vang đã dội khắp hoàn cầu và thông điệp loan đi tới chân trời góc biển.” (Tv 19, 5) không là gì khác hơn là việc rao giảng Tin Mừng Đức Giê-su Ki-tô! Thật vậy, ngài đã viết trong thư gởi các tín hữu Roma:
Có đức tin là nhờ nghe giảng, mà nghe giảng là nghe công bố lời Đức Ki-tô. Nhưng tôi xin hỏi: Phải chăng họ đã không được nghe giảng? Có chứ! “Tiếng các ngài đã dội khắp hoàn cầu, và thông điệp loan đi tới chân trời góc biển” (Rm 10, 17-18)
Theo thánh Phao-lô, sứ điệp của công trình tạo dựng và sứ điệp của các tác viên Tin Mừng là cùng một sứ điệp, đó là sứ điệp “Đức Giê-su Kitô, Ngôi Lời Thiên Chúa”. Như thế, điều mà thánh Phaolô cảm nhận thì thật là lạ lùng! Trình thuật, lời công bố và sứ điệp, vốn là lời sáng tạo như là chúng ta nghe được trong sự thinh lặng của Ngôi Lời, nay bỗng dưng vang vọng trong miệng của thánh nhân, cũng như trong miệng của mọi tác viên loan báo Tin Mừng, trong đó có chúng ta hôm nay.
Như thế, nếu chúng ta nghe ra sứ điệp được truyền đạt “ngày này cho ngày kia” và “đêm này cho đêm kia” kể từ khởi nguyên của thế giới sáng tạo, chúng ta sẽ nghe được sứ điệp Tin Mừng của Đức Giê-su Ki-tô. Và ngược lại, nếu chúng ta đón nhận sứ điệp Tin Mừng Đức Giê-su Ki-tô, chúng ta sẽ nghe được sứ điệp của ngày và đêm
Hôm nay, khi ngắm nhìn và lặng thầm, trong sâu lắng ta thấy cuộc đời các ngài thật âm thầm đến mức không ai biết đến, cũng như bao người đã đến trong đời rồi đi. Nhưng nhờ sự nổi danh của người con là Đức Maria mà tên tuồi của các ngài lại được nêu bật. Thật đúng như câu nói: “con nhà tông không giống lông thì giống cánh”, có nghĩa là một Đức Maria thánh thiện thì phụ mẫu Gioakim và Anna sinh ra ngài cũng rất đạo đức, đáng được nêu danh cho bao người noi theo.
Sự âm thầm có khi lại có giá trị rất quan trọng đến mức không thể không có. Có các ngài thì mới có Đức Maria. Các ngài có đạo đức thì mới có một Maria thánh thiện. Cũng như phải có những chuyên gia làm sân cỏ âm thầm chăm sóc hằng năm sân bãi, thì các cuộc thi đấu bóng mới được diễn ra tốt đẹp đúng hạn kỳ.


