2021
Thánh nào được tôn kính trong lễ Các Thánh Nam Nữ?
Thánh nào được tôn kính trong lễ Các Thánh Nam Nữ?
Như chúng ta biết, có nhiều định nghĩa về từ “Thánh”: Thánh có thể chỉ về tất cả những ai đã được rửa tội, có thể nói về những người đã chết và lên Thiên đàng, và phổ biến hơn cả là những người đã được Giáo Hội tôn phong. Tuy nhiên, lễ Các Thánh Nam Nữ, đúng như tên gọi, được dành để tôn kính tất cả những người thánh thiện đã qua đời và về cùng Chúa, chứ không chỉ bao gồm các Thánh được tôn phong.
Vì vậy, các Thánh ấy có thể bao gồm ông bà cố, nội ngoại hay cha mẹ của bạn, những người đã dành cuộc sống trần gian kết hiệp tốt lành với Thiên Chúa. Các Thánh ấy cũng có thể có cả những người vô gia cư, chết đầu đường xó chợ và chôn vùi vô danh nơi nào đó. Cũng có thể gồm cả những người đã giúp đỡ cuộc đời bạn âm thầm hay công khai, cách này cách khác, những người phát minh, sáng tác, bào chế sản phẩm hữu ích để bạn có cuộc sống tốt đẹp ngày hôm nay.
Thánh Gioan Phaolô II nói rõ điều này trong thông điệp kinh Truyền Tin năm 2002: “Ngày hôm nay, như phụng vụ nói, Hội Thánh có được niềm vui của việc cử hành các công nghiệp và vinh quang các Thánh trong cùng một ngày lễ: không chỉ những người mà Hội Thánh đã tôn thánh trong nhiều thế kỷ, nhưng bao gồm cả vô số những người nam nữ mà sự thánh thiện của họ vốn ẩn kín trước thế giới được duy nhất Thiên Chúa biết rõ và đang chói lọi trên vương quốc vĩnh hằng.”
Vì vậy, ngay cả chúng ta sau này cũng có thể trở thành một phần của đoàn thể các Thánh, dù cho sự thánh thiện của chúng ta có thể không bao giờ được Giáo Hội vinh danh. Lễ Các Thánh Nam Nữ cũng là ngày lễ của chúng ta.
Lễ Các Thánh cũng là một lời nhắc nhở: tất cả mọi người đều được kêu gọi làm Thánh, không phân biệt hoàn cảnh (không nên nghĩ làm Thánh là chuyện cao vời và không liên quan đến mình). Nếu chúng ta muốn được đón vào cổng Thiên đàng vào một ngày kia, bây giờ ta hãy hy sinh để thánh hoá cuộc sống của mình và tuân theo ý muốn của Thiên Chúa. Mỗi ý nghĩ, hành động đều đầy ý tốt lành thì cuộc đời sẽ thánh thiện và ta sẽ làm Thánh, đừng nghĩ quá phức tạp!
Theo Aleteia
2021
Luyện ngục và lòng Chúa thương xót
Luyện ngục và lòng Chúa thương xót
Khi lần chuỗi Mân Côi, cứ sau 10 Kinh Kính Mừng và một Kinh Sáng Danh, người Công giáo lại đọc: “Lạy Chúa Giêsu, xin tha tội cho chúng con. Xin cứu chúng con khỏi sa hỏa ngục. Xin đem các linh hồn lên Thiên đàng, nhất là những linh hồn cần đến lòng Chúa thương xót hơn”.
Lời kinh ấy thật vắn tắt nhưng chứa đựng đầy đủ nội dung giáo lý về những thực tại đời sau, từ ngữ chuyên môn gọi là “cánh chung”: có hỏa ngục, “xin cứu chúng con khỏi sa hỏa ngục”; có Thiên đàng, “xin đem các linh hồn lên thiên đàng”; có luyện ngục, vì khi xin Chúa “đem các linh hồn lên thiên đàng”, nghĩa là chưa lên, còn ở một nơi khác! Người Công giáo gọi nơi đó, tình trạng đó là luyện ngục.
- “Xin đem các linh hồn lên thiên đàng” Có những Kitô hữu lập luận rằng trong Kinh Thánh, không có chỗ nào nói đến luyện ngục, cho nên đây chỉ là sáng chế của Hội Thánh Công giáo! Vậy xin hỏi, trong Kinh Thánh có chỗ nào nói Đức Chúa Trời có ba ngôi? Chỗ nào nói Chúa Giêsu có hai bản tính và một ngôi vị? Những từ ngữ như “ngôi vị, bản tính” là các từ triết học, được Hội Thánh vận dụng để giải thích và trình bày mầu nhiệm Thiên Chúa duy nhất là Cha, Con, Thánh Thần; Chúa Giêsu là Thiên Chúa thật và là người thật.
Tương tự như thế, luyện ngục là từ ngữ được dùng để mô tả tình trạng “những người chết trong ân sủng và ơn nghĩa với Thiên Chúa nhưng chưa được thanh luyện hoàn toàn; tuy họ chắc chắn sẽ được cứu độ muôn đời, nhưng họ còn phải chịu thanh luyện sau khi chết, để được sự thánh thiện cần thiết hầu tiến vào hưởng niềm vui thiên đàng” (Sách Giáo lý HTCG, số 1030).
Nội dung giáo lý này không dựa vào suy luận tự nhiên của con người nhưng dựa trên cơ sở Kinh Thánh, cụ thể là sách 2Macabê kể chuyện ông Giuđa Macabê quyên góp được hai ngàn quan tiền và gửi về Giêrusalem, để dâng hy lễ tạ tội cho những chiến binh đã chết, cho họ được giải thoát khỏi tội lỗi (12,43-45). Như thế, có một tình trạng trung gian giữa Thiên đàng và Hỏa ngục nên ông Macabê mới xin dâng lễ tạ tội để cầu cho những người đã chết được giải thoát khỏi tội lỗi. Tin Mừng Matthêu cũng kể chuyện Chúa Giêsu trừ quỷ cho một người bị qủy ám nhưng người Pharisêu lúc đó lại bảo: Ông ta nhờ quỷ vương Bêelzêbút mà trừ quỷ! Khi đó Chúa Giêsu đã tuyên bố: “Ai nói phạm đến Con Người thì được tha, nhưng ai nói phạm đến Thánh Thần thì sẽ không được tha, cả đời này lẫn đời sau” (Mt 12,22-32). Dựa vào lời của Chúa Giêsu, có thể hiểu “một số tội có thể được tha ở đời này, còn một số tội có thể được tha ở đời sau” (Sách Giáo lý HTCG, số 1031). Nghĩa là có một tình trạng trung gian: chưa được lên thiên đàng nhưng cũng không bị kết án xa cách Thiên Chúa đời đời, còn đang được thanh luyện để xứng đáng với sự thánh thiện tuyệt đối của Thiên Chúa.
- “Nhất là những linh hồn cần đến lòng Chúa thương xót hơn” Khi một người đã qua đời, thế gian có thể ban tặng gì cho họ? Chẳng có gì! Lời Thánh vịnh từ xa xưa, vẫn luôn đúng cho mọi thời đại: “Mạng người dù giá cao mấy nữa, thì rồi ra cũng chấm dứt đời đời. Nào phàm nhân sống mãi được sao, mà chẳng phải đến ngày tận số?..Lúc sinh thời nó tự hào tự đắc: Mình làm nên, thiên hạ tán dương mình! Nhưng rồi nó cùng tổ tiên về chung kiếp, chẳng bao giờ còn được thấy ánh dương” (Tv. 49).
Điều duy nhất mà các linh hồn trong luyện ngục mong chờ là lòng thương xót của Thiên Chúa. Tin Mừng Gioan (11, 17-27) kể chuyện Chúa Giêsu đến Bêtania khi Ladarô đã được chôn táng 4 ngày! Tảng đá chắn ngoài cửa hang là biểu tượng của quyền lực sự chết. Khi đó, con người hoàn toàn bất lực, không thể làm gì hơn. Chỉ một mình Thiên Chúa mới có thể ban tặng sự sống, không chỉ là sự sống thân xác nhưng còn là sự sống đời đời: “Chính Thầy là sự sống lại và là sự sống. Ai tin vào thầy thì dù đã chết cũng sẽ được sống”. Con người không thể mua Thiên đàng bằng vàng bạc, cũng không bằng nỗ lực đạo đức tự nhiên. Ơn cứu độ hoàn toàn là quà tặng của tình yêu và lòng thương xót, vì thế điều mà các linh hồn trong luyện ngục cần nhất là lòng thương xót của Chúa.
Cùng với lòng thương xót của Thiên Chúa là lòng thương xót của những người còn sống, khi chúng ta nhớ đến và cầu nguyện cho người đã qua đời. Tôi nhớ đến dòng chữ đọc được trên một bia mộ ở nghĩa trang Mạc Đĩnh Chi (trước 1975, nay là công viên Lê Văn Tám): “Quên lãng người đã chết là bắt họ chết thêm một lần nữa”; cũng nhớ đến một câu ngạn ngữ của người Mêhicô: “Người ta chết 3 lần: lần thứ nhất là khi tắt thở, lần thứ hai khi được đem chôn; lần thứ ba là khi bị lãng quên”. Người Công giáo không chỉ nhớ đến nhưng còn cầu nguyện cho người đã chết: dâng lễ, làm việc bố thí, nhường ân xa, làm việc đền tạ để cầu nguyện cho những người đã qua đời. Đó chính là những việc của lòng thương xót mà những ai tôn vinh lòng Chúa thương xót được kêu gọi thực hiện.
Đây cũng là điều Hội Thánh khuyến khích đặc biệt ngày 2 tháng 1 hằng năm, và ước mong không chỉ trong ngày này mà thôi nhưng còn thường xuyên trong đời sống các tín hữu.
- “Xin tha tội cho chúng con” Cuối cùng, nếu luyện ngục là tình trạng các linh hồn được thanh luyện để xứng đáng với sự thánh thiện của Thiên Chúa, thì hãy bắt đầu bước vào cuộc thanh luyện ấy từ hôm nay.
Tất cả chúng ta đều là tội nhân: “Nếu chúng ta nói là chúng ta không có tội, chúng ta tự lừa dối mình, và sự thật không ở trong chúng ta” (1Ga 1,8). Ý thức về tội thúc đẩy chúng ta kêu lên: “Xin tha tội cho chúng con”, đồng thời bước vào hành trình thanh luyện, chấp nhận những từ bỏ và hi sinh, khổ chế để không đồng lõa với tội lỗi, nhưng bước đi trong ánh sáng của Thiên Chúa ngay từ bây giờ và hướng đến nguồn sáng vĩnh hằng: “Nếu chúng ta đi trong ánh sáng, cũng như Thiên Chúa hằng ngự trong ánh sáng, thì chúng ta được hiệp thông với nhau, và máu Chúa Giêsu, Con của Ngài, thanh tẩy chúng ta sạch hết mọi tội lỗi” (1Ga 1,7).
Gm. Phêrô Nguyễn Văn Khảm
2021
Lạy Đức Mẹ MARIA, Xin Cầu Cho Các Linh Hồn Bị Bỏ Rơi nơi Luyện Ngục
Lạy Đức Mẹ MARIA, Xin Cầu Cho Các Linh Hồn Bị Bỏ Rơi nơi Luyện Ngục
Năm 1884, Đức Ông Paul-Joseph Buguet (1843-1918) thành lập Hội Phạt Tạ tại Chappelle-Montligeon, miền Trung nước Pháp. Hội Phạt Tạ có mục đích đền tội và cầu nguyện cho các Linh Hồn bị bỏ rơi, các Linh Hồn mồ côi, được mau giải thoát ra khỏi Lửa Luyện Ngục. Một thời gian sau ngày thành lập, Hội Phạt Tạ được Đức Giáo Hoàng Lêô XIII (1878-1903) nâng lên hàng Tổng Hội.
Rất nhanh sau đó, Hội Phạt Tạ được truyền bá khắp thế giới. Không một quốc gia nào lại không biết đến Hội, và mỗi quốc gia đều có hàng ngàn thành viên. Báo chí, tác phẩm của Hội viết bằng tiếng Pháp, được chuyển dịch sang nhiều ngôn ngữ khác nhau. Hội có các thành viên nhiệt thành ở khắp các nước Âu Châu, Phi Châu, Úc Châu, trong toàn Châu Mỹ và ngay cả miền Cận Đông nữa.
Hội Phạt Tạ có trụ sở tại đền thánh Đức Mẹ Montligeon. Đền Thánh được cung hiến ngày 28-8-1928 với tước hiệu ”Đức Mẹ Giải Thoát Các Linh Hồn khỏi Lửa Luyện Hình”. Bức tượng được tôn kính trong Đền Thánh, có hình Đức Mẹ MARIA bồng Đức Chúa GIÊSU. Đức Chúa GIÊSU đang cúi xuống đội triều thiên cho Linh Hồn của một tín hữu vừa được giải thoát khỏi Luyện Ngục đang quỳ dưới chân Đức Mẹ MARIA, về phía bên phải. Tín hữu này đôi tay chắp trước ngực và ngước mắt nhìn Đức Mẹ MARIA. Dưới chân Đức Mẹ MARIA về phía bên trái, là hình Linh Hồn của một tín hữu còn bị giam cầm, đang ngồi, hai tay xếp lại trên đầu gối và bị mang còng. Tín hữu này ngước mặt van lơn nhìn Đức Mẹ MARIA.
Bức tượng Đức Mẹ MARIA và Đức Chúa GIÊSU này được đội triều thiên ngày 19-9-1935, thể theo ý muốn của Đức Thánh Cha Pio XI (1922-1939). Hai năm sau, ngày 12-7-1937, Đức Hồng Y Eugenio Pacelli, Quốc Vụ Khanh Tòa Thánh – sau này lên ngôi Giáo Hoàng với tên Pio XII – đến Montligeon, quỳ gối cầu nguyện tại đền thánh Đức Mẹ Giải Thoát các Linh Hồn khỏi Lửa Luyện Tội. Khi được bầu làm Giáo Hoàng, Đức Pio XII (1939-1958) chấp nhận tước hiệu ”Người Bảo Trợ Hội Phạt Tạ”. Đức Thánh Giáo Hoàng Gioan XXIII (1958-1963), ghi tên gia nhập Hội Phạt Tạ từ năm 1929. Còn Đức Chân Phước Giáo Hoàng Phaolô VI (1963-1978) thì ban Phép Lành Tòa Thánh cho Hội Phạt Tạ và cho tất cả những thành viên của Hội.
Ngày 20-5-1908, Đức Thánh Giáo Hoàng Pio X (1903-1914), ban 100 ngày ân xá cho mỗi thành viên Hội Phạt Tạ, mỗi khi đọc lời nguyện sau đây, để cầu cho Các Linh Hồn nơi Luyện Ngục, dâng lên Đức Mẹ Montligeon (Đức Mẹ Giải Thoát các Linh Hồn khỏi Lửa Luyện Hình):
Kính lạy Đức Trinh Nữ MARIA Vinh Hiển, xin Mẹ hãy thương xót đoái nhìn đến những Linh Hồn thánh thiện, còn đang bị cầm giữ một thời gian thanh luyện, cách xa Chúa và xa Mẹ, Người Mẹ rất từ bi nhân hậu của các ngài. Xin Mẹ hãy bẻ gãy xích xiềng và mau giải thoát các ngài khỏi vực thẳm, nơi các ngài đang than khóc, hướng vọng về thiên quốc và mong mau đến ngày được hạnh phúc kết hiệp vĩnh viễn cùng Chúa, Đấng mà lòng các ngài hằng ước ao khao khát. Xin Mẹ để ý cách riêng đến những Linh Hồn bị bỏ rơi nhất. Chúng con đặc biệt khẩn cầu cùng Mẹ đoái thương đến các ngài. Ôi lạy Mẹ nhân ái, xin Mẹ hãy chấp nhận lời chúng con nài van. Chúng con dâng lời tha thiết kêu van Mẹ, lạy Mẹ MARIA, xin Mẹ hãy quy tụ tất cả chúng con về Trời, bên cạnh Đức GIÊSU KITÔ Chúa chúng con, Người Con Đáng Kính Đáng Tôn của Mẹ, là Đấng Hằng Sống, Hằng Trị, cùng Đức Chúa Cha và Đức Chúa Thánh Thần, đến muôn thưở muôn đời chẳng cùng. Amen.
Lạy Đức Mẹ MARIA Montligeon, xin cầu cho các Linh Hồn bị bỏ rơi nơi Luyện Ngục.
… ”Lạy THIÊN CHÚA, xin lấy lòng nhân hậu xót thương con, mở lượng hải hà xóa tội con đã phạm. Xin rửa con sạch hết lỗi lầm, tội lỗi con, xin Ngài thanh tẩy. Vâng, con biết tội mình đã phạm, lỗi lầm cứ ám ảnh ngày đêm. Con đắc tội với Chúa, với một mình Chúa, dám làm điều dữ trái mắt Ngài. Như vậy, Ngài thật công bình khi tuyên án, liêm chính khi xét xử. Ngài thấy cho: lúc chào đời con đã vương lầm lỗi, đã mang tội khi mẹ mới hoài thai. Nhưng Ngài yêu thích tâm hồn chân thật, dạy con thấu triệt lẽ khôn ngoan. Xin dùng cành hương thảo rảy nước thanh tẩy con, con sẽ được tinh tuyền; xin rửa con cho sạch, con sẽ trắng hơn tuyết. Xin cho con được nghe tiếng reo mừng hoan hỷ, để xương cốt bị Ngài nghiền nát được nhảy múa tưng bừng. Xin ngoảnh mặt đừng nhìn bao tội lỗi và xóa bỏ hết mọi lỗi lầm. Lạy THIÊN CHÚA, xin tạo cho con một tấm lòng trong trắng, đổi mới tinh thần cho con nên chung thủy. Xin đừng nỡ đuổi con không cho gần Nhan Thánh, đừng cất khỏi lòng con thần khí thánh của Ngài. Xin ban lại cho con niềm vui vì được Ngài cứu độ, và lấy tinh thần quảng đại đỡ nâng con” (Thánh Vịnh 51(50) 3-14).
(Maria Simma, ”Les Âmes du Purgatoire m’ont dit”, Editions du Parvis, 1990, trang 120)
2021
LÒNG BAO DUNG
04 30 Tr Thứ Năm Tuần XXXI Thường Niên.
Thứ năm đầu tháng. Ngày các Linh mục.
Thánh Ca-rô-lô Bô-rô-mê-ô, Giám mục, lễ nhớ.
Rm 14,7-12; Lc 15,1-10.
LÒNG BAO DUNG
Thánh Carôlô là vị Giám Mục nổi tiếng của giáo phận Milan. Ngài sinh năm 1538 tại Arôna, trong một gia đình quý tộc và đạo đức.
Lớn lên, thánh nhân theo học luật tại Pari, nước Pháp. Và năm 1559, ngài đã đạt bằng tiến sĩ.
Lúc đó cậu ngài là Mêdici được bầu làm Giáo Hoàng, lấy hiệu là Piô thứ IV; ngài được triệu về Rôma làm thư ký, và năm sau được lãnh chức Hồng Y, với quyền cai quản Giáo phận Milan. Nhưng vì nhu cầu đòi hỏi, ngài phải ở lại Rôma, giúp Đức Giáo Hoàng tổ chức công đồng Triđentinô. Sau khi công đồng kết thúc vào năm 1546, ngài lại phải chăm sóc Đức Giáo Hoàng là cậu ngài đang lâm bệnh nặng cho đến khi qua đời. Ngài chỉ được đến Milan vào năm 1566.
Giáo phận này đang gặp cơn khủng hoảng trầm trọng: từ giáo dân đến giáo sĩ và các dòng tu đều sa sút về đạo đức. Ngài nỗ lực canh tân tất cả. Ngài là người làm việc không biết mệt mỏi và luôn luôn cầu nguyện. Lời nguyện và hoạt động là lý tưởng sống đời của ngài. Ngài dành trọn quãng đời còn lại để lo hoàn chỉnh giáo phận, bằng lời dạy dỗ nhất là bằng gương sáng.
Dựa theo những quyết định của công đồng Triđentinô, thánh nhân đổi mới mọi sinh hoạt trong giáo phận: trước tiên ngài lo củng cố lại hàng giáo sĩ và các dòng tu, vì đây là thành phần nòng cốt cho mọi hoạt động mục vụ. Mặc dù giáo phận rộng lớn, ngài cố gắng đi thăm viếng khắp nơi, quan sát từng chỗ rồi khích lệ, bảo ban, sửa đổi cho hợp với đường lối của Hội Thánh. Ngài thiết lập thêm nhiều tu viện và chủng viện, để đào tạo giáo sĩ tu sĩ. Những tu viện hoặc chủng viện nào sa sút kém cỏi, ngài củng cố tu chỉnh lại. Ngài dạy bảo họ:
“Tôi nhận thực là hết thảy chúng ta đều yếu đuối, nhưng Thiên Chúa lại ban cho chúng ta nhiều phương tiện, mà nếu chúng ta biết sử dụng, sẽ trở thành nguồn trợ lực cho chúng ta…”
“Hỡi các bạn, các bạn nên hiểu rằng: không có gì thiết yếu cho giáo sĩ chúng ta bằng việc nguyện ngắm, nó phải đi trước, đi đôi và theo sau mọi hoạt động của chúng ta; như lời vị ngôn sứ xưa đã nói: Tôi sẽ ca ngợi Chúa và tôi sẽ hiểu. Này bạn, nếu bạn ban các Bí tích, bạn hãy suy gẫm điều mình làm; nếu bạn cử hành Thánh lễ, bạn hãy suy gẫm điều mình dâng hiến; nếu bạn hát ca vịnh nơi Cung Thánh, bạn hãy suy gẫm mình đang hát gì và hát cho ai; nếu bạn chăm sóc các linh hồn, bạn hãy suy nghĩ nhờ máu ai mà họ được tẩy rửa. Và như vậy bạn làm mọi việc với lòng yêu mến; như thế chúng ta mới có thể dễ dàng chiến thắng mọi trở ngại mà chúng ta gặp phải hằng ngày, và cũng nhờ đó mà chúng ta mới có thể tác sinh Chúa Kitô nơi chúng ta cũng như nơi tha nhân.”
Nhưng những hoạt động và công cuộc canh tân của thánh nhân bị nhiều người bất mãn chống đối. Họ tổ chức giết hại ngài. Một lần đang khi cầu nguyện, ngài suýt mất mạng vì cuộc mưu sát của họ.
Năm 1576 đến 1578, một cơn dịch hạch đã xảy ra dữ tợn tại Milăn, thánh nhân dồn hết năng lực giúp đỡ dân chúng khổ sở. Ngài bố thí tất cả những gì ngài có, ngài sai các Linh mục tu sĩ chăm sóc cả phần hồn phần xác của họ; ngài tổ chức nhiều buổi cầu nguyện, kêu xin Chúa thương cứu vớt họ. Nhờ đó mà căn bệnh ngặt nghèo này đã chấm dứt. Mọi người vui mừng cảm tạ ơn Chúa và mến phục ngài. Những kẻ trước kia chống đối ngài bao nhiêu, nay quý mến ngài bấy nhiêu. Nhất là những người tội lỗi và ngoại giáo thấy vậy thì ăn năn trở lại với Chúa.
Thánh nhân qua đời ngày 3 tháng 11 năm 1584, hưởng dương 46 tuổi. Đức Giáo Hoàng Phaolô V đã phong thánh cho ngài năm 1610.
Trang Tin Mừng chúng ta nghe hôm nay kể lại hai dụ ngôn đầu. Dụ ngôn tuy ngắn nhưng giàu hình ảnh và diễn tả nhiều sắc thái tình cảm khác nhau: lo lắng, so bì, ganh tỵ, bao dung, tha thứ, phấn khởi, hân hoan…
Bị mất và đi tìm là điều thường xảy ra trong cuộc sống của con người. Đọc báo hay xem tivi, chúng ta thấy người ta không chỉ đăng tin: tìm trâu bò, giấy tờ, xe máy bị mất mà đặc biệt là còn tìm người thân bị lạc mất.
Sự đánh rơi tài sản quý giá hay lạc mất người thân làm cho chủ nhân hay gia đình lo âu, đau khổ; phải vất vả bôn ba kiếm tìm.
Qua hai dụ ngôn, chúng ta nhận thấy: một con chiên dù không có giá trị là bao so với cả đàn chiên, nhưng người chăn chiên cũng cất công tìm kiếm; cũng thế, một đồng bạc chẳng đáng là gì nhưng người phụ nữ đã vất vả kiếm tìm. Cho nên, khi kể dụ ngôn, Chúa Giêsu không có ý nói về tải sản vật chất nhưng nói về các tội nhân được Ngài tìm kiếm và đưa về. Đối với Chúa, mỗi một con người -dù tội lỗi – đều có giá trị.
Sứ mạng của Chúa Giêsu đến trần gian là để tìm kiếm những tâm hồn đã hư mất vì tội lỗi. Ngài không quản ngại đi khắp nơi rao giảng Tin Mừng và mời gọi người ta sám hối. Ngài len lỏi vào mọi ngóc nghách của cuộc sống, giao du tiếp đón mọi hạng người.
Thật vậy, Chúa Giêsu kể những dụ ngôn này trong một hoàn cảnh đặc biệt. Các luật sĩ và biệt phái lấy làm vấp phạm khi thấy Ngài giao du với những kẻ mà họ gọi là tội nhân.
Trong xã hội Do-thái, có một hàng rào ngăn cách giữa những người được xem là đạo đức và những người bị coi là tội lỗi. Các luật sĩ và biệt phái – những người tự nhận mình là đạo đức – hết sức khó chịu khi thấy Đức Giêsu làm bạn với những người tội lỗi.
Tuy nhiên, đối với Đức Giêsu, hạng người tội lỗi mới là đối tượng khiến Chúa phải cất công kiếm tìm: “Con Người đến để tìm kiếm và cứu chữa những gì đã mất”.
Con chiên lạc, đồng bạc mất là hình ảnh của mỗi người chúng ta, vì mỗi người chúng ta trước mặt Chúa đều là tội nhân. Chỉ những ai – như biệt phái và luật sĩ kiêu ngạo – tự nhận mình là công chính mới tự loại mình ra khỏi tình thương và ơn cứu độ của Chúa.
Chúa Giêsu vui mừng đón nhận những người tội lỗi và thu thuế đến với Ngài, lắng nghe giáo huấn Ngài; trong khi đó, các kinh sư và những người thuộc phái Pharisiêu bưng tai bịt mắt trước những lời giảng dạy của Chúa và các phép lạ Ngài làm, không những thế còn càm ràm, trách mọc Chúa vì sự cởi mở của Ngài đối với những người thu thuế và tội lỗi. Chúa tìm mọi cách để giúp những người yếu đuối, tội lỗi có cơ hội hối cải và Ngài vui mừng đón nhận họ trở lại giống như người chăn chiên vui mừng tìm lại được con chiên lạc hay người phụ nữ phấn khởi tìm lại được đồng bạc đã mất; trong khi đó, những người Pharisiêu và các kinh sư tìm cách ngăn cản và loại họ ra khỏi cộng đoàn.
Dừng lại suy nghĩ. chúng ta có tâm tình đầy yêu thương bao dung của Chúa hay chúng ta có thái độ hằn học, tẩy chay họ. Một khi ta tẩy chay họ thì chúng ta cũng tự loại mình ra khỏi cộng đoàn của những con người biết hoán cải trở về với Chúa để được Chúa vui mừng tiếp rước vào gia đình đầy tình thương và hạnh phục của Ngài.
