2021
MẸ TINH TUYỀN
08 05 Tr Thứ Tư Tuần II Mùa Vọng.
ĐỨC TRINH NỮ MA-RI-A VÔ NHIỄM NGUYÊN TỘI, lễ trọng.
Lc 1, 26-28
MẸ TINH TUYỀN
Hôm nay toàn thể Hội Thánh tôn vinh Mẹ Maria, Ðấng Tuyệt Ðẹp “ Tota Pulchra”, Ðấng đã được Thiên Chúa chọn làm Mẹ của Con Một Ngài, Đấng được gìn giữ khỏi mắc tội nguyên tổ, là Ðấng đầu tiên đã được Con Mẹ cứu chuộc. Nét đẹp cao cả của Mẹ phản chiếu nét đẹp của Chúa Kitô, là bằng chứng cho tất cả mọi tín hữu về chiến thắng của Ân sủng Thiên Chúa trên tội lỗi và sự chết.
Tín điều Mẹ Maria Đầu Thai Vô Nhiễm Nguyên Tội được Đức Chân phước Piô IX Giáo hoàng long trọng tuyên bố bằng sắc lệnh “Ineffabilis Deus” vào ngày Lễ Mẹ Vô Nhiễm, 8/12/1854, rằng: “Để vinh danh Ba Ngôi thánh thiện duy nhất, để tôn kính và hiển danh Trinh Nữ Mẹ Thiên Chúa, để phấn khởi đức tin Công Giáo và phát triển Kitô Giáo; bằng quyền bính của Chúa Giêsu Kitô, của các thánh tông đồ Phêrô và Phaolô, và bằng thẩm quyền của mình, Tôi tuyên xưng, công bố và xác nhận rằng: tín lý cho rằng rất Thánh Nữ Trinh Maria, ngay từ giây phút đầu thai của mình, nhờ ơn sủng cùng với đặc ân chuyên nhất của Thiên Chúa toàn năng, và dựa vào công nghiệp của Chúa Giêsu Kitô, Đấng Cứu Chuộc loài người, đã được gìn giữ vô nhiễm khỏi mọi tì vết của nguyên tội, là điều được Thiên Chúa mạc khải, vì thế, tất cả mọi tín hữu đều phải mạnh mẽ và liên lỉ tin tưởng”. (DS 2803)
Như thế, Mầu nhiệm Đức Maria Vô Nhiễm Nguyên Tội nhắc nhớ chúng ta hai chân lý căn bản của đức tin, đó là tội nguyên tổ và nhất là sự chiến thắng của ơn thánh Chúa trên tội này, chiến thắng ấy được phản chiếu tuyệt vời nơi Đức Maria chí thánh.
Vì yêu thương nhân loại, Thiên Chúa đã thực hiện hai công trình tuyệt tác và vĩ đại nhất đó là: Công trình tạo dựng muôn loài và công trình cứu chuộc nhân loại. Trong công trình tạo dựng, Thiên Chúa đã dọn cho hai ông bà nguyên tổ một địa đàng sán lạn huy hoàng, tràn trề hạnh phúc. Nhưng vì phạm tội ông bà đã phá vỡ kế hoạch yêu thương của Thiên Chúa. Nhưng rồi kế hoạch yêu thương nữa lại bắt đầu với lời tuyên phạt con rắn: “Ta sẽ đặt mối thù giữa ngươi và người đàn bà”. (St 3, 15).
Rồi trong những trang Kinh thánh suốt mấy nghìn năm đã thấp thoáng hiện lên những người nữ “hơn các phụ nữ” (Tl 5, 15), “Người thiếu nữ mang thai, sinh hạ một con trai…” (Is 7, 14). Đến hôm nay sau bao ngàn năm chuẩn bị, người “nữ” đích thực mà Thiên Chúa kén chọn đã tỏ hiện: Đức Trinh Nữ Maria. Để đón nhận Chúa Cứu Thế đến với nhân loại, cung lòng người Trinh Nữ phải trở nên thiên đàng, một “địa đàng mới” không cỏ dại, không bẩn bụi, không một vết “rắn” bò, để cho Chúa Cứu Thế ngự trị.
Vậy giờ đã đến thời viên mãn, sứ thần Gaprien đã được Thiên Chúa sai đến với Trinh Nữ: “Mừng vui lên hỡi Đấng đầy ân sủng”. Lời chào thăm, chúc mừng và truyền lệnh yêu thương của Thiên Chúa: “Này đây bà sẽ thụ thai, sinh hạ một con trai và đặt tên là Giêsu”. Sứ thần nhắc lại câu nói của ngôn sứ Isaia trước đấy mấy trăm năm về Chúa Cứu Thế. Nhưng với lòng khiêm nhường, thật thà, đơn sơ, trong trắng và ý chí tự do của người Trinh Nữ, sứ điệp ấy chưa dễ dàng được chấp nhận. Vì Trinh Nữ như yêu đời sống trinh khiết hơn là được làm mẹ Chúa Cứu Thế. Sứ thần phải mất thêm thời gian, lời đôi co trao đổi qua lại nhiều nữa: “Thánh Thần sẽ ngự xuống trên bà, và quyền năng Đấng Tối Cao sẽ rợp bóng trên bà, vì thế Đấng Thánh sắp sinh ra sẽ được gọi là con Thiên Chúa… Vì đối với Thiên Chúa không có gì là không thể làm được”.
Rồi Trinh Nữ Maria đã nhận lời: “Vâng tôi đây là nữ tỳ của Chúa, xin Chúa cứ làm cho tôi như lời sứ thần nói”. Là Thiên Chúa quyền năng, nhưng Người đã không ra mệnh lệnh, cưỡng bức thực thi ý Chúa, mà tôn trọng sự tự do mà Chúa đã ban cho con người. Sứ thần đã làm cho Mẹ thật sự nhận ra thánh ý Chúa để Mẹ tự nguyện “xin vâng”. Sự tự nguyện ấy mẹ đã suốt đời chiêm niệm “suy đi nghĩ lại trong lòng” mà quyết tâm thực thi ý Chúa. Mẹ Maria đã tự coi mình là nữ tỳ, là tôi tớ, nên đã trở thành người diễm phúc, xứng đáng làm mẹ Thiên Chúa nhập thể làm người, và làm mẹ của cả loài người chúng ta.
Mẹ Maria đã được Thiên Chúa chọn làm Mẹ của Chúa Giêsu – Con Một Người. Để Mẹ được xứng đáng với thiên chức đó hơn, Mẹ đã được Người ban cho đặc ân “vô nhiễm nguyên tội”. Nhờ đó, Mẹ đã không bị truyền tội tổ tông do Adam và Eva gây ra ngày trước. Tuy nhiên, việc lãnh nhận đặc ân đó không phải ngẫu nhiên mà chính là nhờ hai tiếng “xin vâng”. Chính sự vâng phục Thiên Chúa đã đưa Mẹ rời khỏi hàng tội nhân của tội nguyên tổ và trở thành người diễm phúc nhất trong tất cả phụ nữ.
Quả thật, Mẹ đã tin tưởng hết lòng và vâng phục Thiên Chúa. Niềm tin ấy đã thôi thúc Mẹ nói lên lời “xin vâng” để tuân theo ý Người một cách tuyệt đối. Tuy nghe có vẻ dễ dàng, nhưng nếu thử đặt mình vào hoàn cảnh của Mẹ lúc bấy giờ, ta sẽ thấy niềm tin và sự vâng phục ấy to lớn đến mức nào. Ngày nay, việc có con trước hôn nhân không còn là việc quá khủng khiếp như xưa. Giới trẻ có thể thoải mái chiều theo ý muốn của mình mà không bị lên án nghiêm trọng (miễn là vẫn giữ và dưỡng dục đứa con nên người).
Tuy nhiên, vào thời bấy giờ lại không như thế. Một người phụ nữ có con trước khi chính thức về nhà chồng nếu bị phát hiện sẽ bị ném đá đến chết. Không chỉ vậy, họ còn để lại tai tiếng cho gia đình nếu việc đó xảy đến. Do đó, để chấp nhận thi hành ý muốn của Thiên Chúa, Mẹ đã phải phó thác mọi sự trong tay Người.
Mẹ Maria là mẫu gương để chúng ta học tập. Mẹ đã tin tưởng và vâng phục suốt cả cuộc đời, đã đồng hành cùng Chúa Giêsu cho đến phút cuối cùng và tiếp tục đồng hành cùng Hội thánh của Người. Do đó, ngoài việc noi gương Mẹ, ta cũng không quên chạy đến với Mẹ trong những giây phút khó khăn của cuộc sống. Tình yêu của Mẹ sẽ chở che và đưa chúng ta đến gần Thiên Chúa hơn. Đặc biệt, ta phải ghi nhớ rằng: tin tưởng và vâng phục là chìa khóa quan trọng cần phải có để ta có thể sống đẹp lòng Chúa.
Mỗi người chúng ta cần phải biết noi gương Mẹ. Dù cuộc sống có nhiều đau thương, khó khăn, dù hiểm nguy luôn rình rập, đe dọa, ta cũng vẫn phải tin tưởng vào sự quan phòng của Chúa. Mọi thánh giá Người để ta vác đều không vượt quá sức của ta, Người biết điều đó và Người tin ta sẽ đủ khả năng gánh vác. Khó khăn, đau khổ là điều không thể thiếu của đời người, quan trọng là ta đối mặt với nó như thế nào.
Hôm nay chúng ta mừng lễ Mẹ Vô Nhiễm nguyên tội, chúng ta tạ ơn Chúa đã tạo dựng cho nhân loại một đóa hoa rạng ngời luôn tỏa hương thơm ngát là Mẹ Maria. Tạ ơn Chúa đã tặng ban cho đời một đóa hoa luôn thanh thoát, cao quý bởi tình yêu hiến dâng cho Chúa để phục vụ cho đời. Tạ ơn Chúa và nguyện cầu cùng Mẹ giúp chúng ta biết trở thành một đóa hoa thơm ngát dâng tặng cho đời và ca tụng Thiên Chúa.
2021
ĐỨC MẸ VÔ NHIỄM NGUYÊN TỘI
ĐỨC MẸ VÔ NHIỄM NGUYÊN TỘI
lễ trọng
Ca nhập lễ
Is 61,10
Tôi mừng rỡ muôn phần nhờ Đức Chúa,
nhờ Thiên Chúa tôi thờ, tôi hớn hở biết bao !
Vì Người mặc cho tôi hồng ân cứu độ,
choàng cho tôi đức chính trực công minh,
tựa cô dâu phục sức huy hoàng.
Lời nguyện nhập lễ
Lạy Chúa, Chúa đã dọn sẵn một cung điện xứng đáng cho Con Chúa giáng trần khi làm cho Ðức Trinh Nữ Maria khỏi mắc tội tổ tông ngay từ trong lòng mẹ. Chúa cũng gìn giữ Người khỏi mọi vết nhơ tội lỗi nhờ công nghiệp Con Chúa sẽ chịu chết sau này. Vì lời Ðức Trinh Nữ nguyện giúp cầu thay, xin Chúa cũng ban cho chúng con được trở nên công chính thánh thiện mà đón rước Con Chúa là Thiên Chúa hằng sống và hiển trị cùng Chúa, hiệp nhất với Chúa Thánh Thần đến muôn thuở muôn đời.
Ðọc kinh tin kính
Bài đọc 1
St 3,9-15.20
Ta sẽ gây mối thù giữa dòng giống mi và dòng giống người đàn bà.
Bài trích sách Sáng thế.
9 Sau khi con người ăn trái cây, Đức Chúa là Thiên Chúa gọi con người và hỏi : “Ngươi ở đâu ?” 10 Con người thưa : “Con nghe thấy tiếng Ngài trong vườn, con sợ hãi vì con trần truồng, nên con lẩn trốn.” 11 Đức Chúa là Thiên Chúa hỏi : “Ai đã cho ngươi biết là ngươi trần truồng ? Có phải ngươi đã ăn trái cây mà Ta đã cấm ngươi ăn không ?” 12 Con người thưa : “Người đàn bà Ngài cho ở với con, đã cho con trái cây ấy, nên con ăn.” 13 Đức Chúa là Thiên Chúa hỏi người đàn bà : “Ngươi đã làm gì thế ?” Người đàn bà thưa : “Con rắn đã lừa dối con, nên con ăn.” 14 Đức Chúa là Thiên Chúa phán với con rắn :
“Mi đã làm điều đó, nên mi đáng bị nguyền rủa nhất
trong mọi loài súc vật và mọi loài dã thú.
Mi phải bò bằng bụng, phải ăn bụi đất mọi ngày trong đời mi.
15Ta sẽ gây mối thù giữa mi và người đàn bà,
giữa dòng giống mi và dòng giống người ấy ;
dòng giống đó sẽ đánh vào đầu mi, và mi sẽ cắn vào gót nó.”
20 Con người đặt tên cho vợ là E-và, vì bà là mẹ của chúng sinh.
Đáp ca
Tv 97,1.2-3ab.3cd-4 (Đ. c.1a)
Đ.Hát lên mừng Chúa một bài ca mới,
vì Người đã thực hiện bao kỳ công.
1Hát lên mừng Chúa một bài ca mới,
vì Người đã thực hiện bao kỳ công.
Người chiến thắng nhờ bàn tay hùng mạnh,
nhờ cánh tay chí thánh của Người.
Đ.Hát lên mừng Chúa một bài ca mới,
vì Người đã thực hiện bao kỳ công.
2Chúa đã biểu dương ơn Người cứu độ,
mặc khải đức công chính của Người trước mặt chư dân ;
3abNgười đã nhớ lại ân tình và tín nghĩa
dành cho nhà Ít-ra-en.
Đ.Hát lên mừng Chúa một bài ca mới,
vì Người đã thực hiện bao kỳ công.
3cdToàn cõi đất này đã xem thấy
ơn cứu độ của Thiên Chúa chúng ta.
4Tung hô Chúa, hỡi toàn thể địa cầu,
mừng vui lên, reo hò đàn hát.
Đ.Hát lên mừng Chúa một bài ca mới,
vì Người đã thực hiện bao kỳ công.
Bài đọc 2
Ep 1,3-6.11-12
Trong Đức Ki-tô, Người đã chọn ta trước cả khi tạo thành vũ trụ.
Bài trích thư của thánh Phao-lô tông đồ gửi tín hữu Ê-phê-xô.
3Chúc tụng Thiên Chúa
là Thân Phụ Đức Giê-su Ki-tô, Chúa chúng ta.
Trong Đức Ki-tô,
từ cõi trời, Người đã thi ân giáng phúc
cho ta hưởng muôn vàn ơn phúc của Thánh Thần.
4Trong Đức Ki-tô,
Người đã chọn ta trước cả khi tạo thành vũ trụ,
để trước thánh nhan Người,
ta trở nên tinh tuyền thánh thiện,
nhờ tình thương của Người.
5Theo ý muốn và lòng nhân ái của Người,
Người đã tiền định cho ta làm nghĩa tử
nhờ Đức Giê-su Ki-tô,
6để ta hằng ngợi khen ân sủng rạng ngời,
ân sủng Người ban tặng cho ta
trong Thánh Tử yêu dấu.
11Thiên Chúa là Đấng làm nên mọi sự
theo quyết định và ý muốn của Người,
đã tiền định cho chúng tôi đây làm cơ nghiệp riêng
theo kế hoạch của Người,
12để chúng tôi là những người đầu tiên
đặt hy vọng vào Đức Ki-tô,
chúng tôi ngợi khen vinh quang Người.
Tung hô Tin Mừng
- Lc 1,28
Ha-lê-lui-a. Ha-lê-lui-a. Kính chào Đức Ma-ri-a, Mẹ đầy ân sủng, Thiên Chúa ở cùng Mẹ, Mẹ có phúc hơn mọi người nữ. Ha-lê-lui-a.
Tin Mừng
Lc 1,26-38
Này đây bà sẽ thụ thai, sinh hạ một con trai.
✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Lu-ca.
26 Khi ấy, bà Ê-li-sa-bét có thai được sáu tháng, thì Thiên Chúa sai sứ thần Gáp-ri-en đến một thành miền Ga-li-lê, gọi là Na-da-rét, 27 gặp một trinh nữ đã thành hôn với một người tên là Giu-se, thuộc dòng dõi vua Đa-vít. Trinh nữ ấy tên là Ma-ri-a.
28 Sứ thần vào nhà trinh nữ và nói : “Mừng vui lên, hỡi Đấng đầy ân sủng, Đức Chúa ở cùng bà.” 29 Nghe lời ấy, bà rất bối rối, và tự hỏi lời chào như vậy có nghĩa gì.
30 Sứ thần liền nói : “Thưa bà Ma-ri-a, xin đừng sợ, vì bà được đẹp lòng Thiên Chúa. 31 Này đây bà sẽ thụ thai, sinh hạ một con trai, và đặt tên là Giê-su. 32 Người sẽ nên cao cả, và sẽ được gọi là Con Đấng Tối Cao. Đức Chúa là Thiên Chúa sẽ ban cho Người ngai vàng vua Đa-vít, tổ tiên Người. 33 Người sẽ trị vì nhà Gia-cóp đến muôn đời, và triều đại của Người sẽ vô cùng vô tận.”
34 Bà Ma-ri-a thưa với sứ thần : “Việc ấy sẽ xảy ra thế nào, vì tôi không biết đến việc vợ chồng ?”
35 Sứ thần đáp : “Thánh Thần sẽ ngự xuống trên bà, và quyền năng Đấng Tối Cao sẽ toả bóng trên bà ; vì thế, Đấng Thánh sắp sinh ra sẽ được gọi là Con Thiên Chúa. 36 Kìa bà Ê-li-sa-bét, người họ hàng với bà, tuy già rồi, mà cũng đang cưu mang một người con trai : bà ấy vẫn bị mang tiếng là hiếm hoi, mà nay đã có thai được sáu tháng, 37 vì đối với Thiên Chúa, không có gì là không thể làm được.”
38 Bấy giờ bà Ma-ri-a nói với sứ thần : “Vâng, tôi đây là nữ tỳ của Chúa, xin Người thực hiện cho tôi như lời sứ thần nói.” Rồi sứ thần từ biệt ra đi.
Lời nguyện tiến lễ
Lạy Chúa, xin vui lòng chấp nhận hy lễ cứu độ chúng con dâng trong ngày đại lễ mừng Ðức Trinh Nữ Maria vô nhiễn nguyên tội. Chúa đã ban ơn gìn giữ Người khỏi mọi tỳ ố, xin cũng nghe lời Người chuyển cầu mà cho chúng con thoát khỏi vòng tội lỗi. Chúng con cầu xin …
Lời tiền tụng
Lạy Cha chí thánh là Thiên Chúa toàn năng hằng hữu, chúng con tạ ơn Cha mọi nơi mọi lúc, thật là chính đáng, phải đạo, và sinh ơn cứu độ cho chúng con. Cha đã gìn giữ Ðức Trinh Nữ Maria khỏi mọi vết nhơ nguyên tội. Cha đã cho Người được đầy ơn sủng để Người xứng đáng làm Mẹ của Con Cha. Nơi Người, Cha đã phác hoạ hình ảnh một Hội Thánh rất sinh đẹp, không tỳ ố, không vết nhăn, là Hiền Thê của Ðức Kitô. Thật vậy, Ðức Trinh Nữ rất thanh khiết sẽ sinh hạ cho nhân loại một người con là chiên vẹ toàn, Ðấng xóa tội trần gian. Cha đã chon Người giữa muôn một, để Người chuyển cầu và nêu gương thánh thiện cho dân Cha. Vì thế, hiệp với các Thiên thần và các thánh, chúng con vui mừng ca ngợi C ha và tung hô rằng:
Thánh! Thánh! Thánh! …
Ca hiệp lễ
Lạy Đức Ma-ri-a,
thiên hạ nói về Mẹ bao điều hiển hách,
vì từ nơi Mẹ,
đã xuất hiện Mặt Trời công chính,
là Đức Ki-tô, Thiên Chúa chúng con.
Lời nguyện hiệp lễ
Lạy Chúa, Chúa đã ban ân huệ vô song là gìn giữ Ðức Maria khỏi vướng mắc nguyên tội. Xin cũng cho thánh lễ chúng con cử hành chữa lành mọi thương tích nguyên tội còn để lại nơi chúng con. Chúng con cầu xin …
2021
Mẹ Maria và Thánh Thể
Mẹ Maria và Thánh Thể
Có nhiều bậc thánh nhân, như thánh Phêrô Damien, thánh Bênađô , thánh Bônaventura, thánh Bernadine . . . đã đồng thanh nói rằng, Chúa Giêsu đã thành lập Bí tích Thánh Thể, trước hết cho Mẹ Maria, rồi qua Mẹ Maria, Đấng trung gian mọi ân sủng, cho tất cả chúng ta.
Vì thế, xuất thân từ Đức Maria về thể lý, Chúa Giêsu đã đến để Ngài được ban cho chúng ta ngày qua ngày; và trong Chúa Giêsu, thịt vô nhiễm và máu trinh nguyên của Mẹ Người luôn luôn thấm nhập vào chúng ta, và làm cho linh hồn chúng ta say men tình ái.
Dựa vào lời xác tín của các thánh nói trên, chúng ta cùng suy niệm chủ đề: Mẹ Maria trong tương quan với Bí tích Thánh Thể . Phần suy niệm này xoay quanh khuôn khổ: Thịt bởi thịt tôi, máu bởi máu tôi.
- GIỜ CỦA MẸ – GIÁNG SINH – NHÀ BÁNH
- Giáng Sinh.
Nhìn vào bối cảnh Giáng Sinh, chúng ta nhận thấy Giáng Sinh là một mầu nhiệm đơn sơ, nhưng gây ngỡ ngàng, được diễn ra ở Bêlem như lời tiên báo của ngôn sứ Mica: “Phần ngươi, hỡi Bêlem, miền đất Giuđa, ngươi đâu phải là thành nhỏ nhất của Giuđa, vì nơi ngươi, vị lãnh tụ chăn dắt Israel dân Ta sẽ ra đời”. (Mk 5, 1).
Bêlem là chi tộc nhỏ nhất mà Chúa ưa thích. Thiên Chúa ưa thích chọn những gì bé nhỏ để biểu dương ơn cứu độ của Người. Thiên Chúa như bị thu hút bởi sự yếu hèn của loài người chúng ta. Bởi đó, “từ nơi ngươi, hỡi Bêlem, sẽ xuất hiện vị cứu tinh…”.
- Nhà bánh.
Bêlem có nghĩa là ngôi nhà làm bánh. Ở đó, các cô gái đang nhồi bột làm bánh cho ngày Sabbat, bánh của ngày lễ. Cũng ở đó, như một bức ảnh in chồng lên, Maria, người nội trợ của Giáo Hội đang nhồi bánh của Thiên Chúa, chiếc bánh cho ngày Sabbat, một chiếc bánh mới để rạng sáng ngày Phục Sinh: Chúa Giêsu, chiếc bánh được ban cho chúng ta.
- Giờ của Maria.
Tại Bêlem, ngôi nhà bánh, giờ của Mẹ đã đến.
Theo lệnh kiểm tra dân số của hoàng đế Augustô, Giuse và Maria trở về Bêlem để khai tên vào sổ bộ. “Khi hai người đang ở đó, thì Maria đã tới ngày mãn nguyệt khai hoa”. (Lc 2, 6).
Giờ của Maria đã đến, giờ của ngày Giáng Sinh. Tấm bánh đã được làm ra.
“Khi sinh con, người đàn bà cảm thấy lo buồn, vì đến giờ của mình; nhưng sinh con rồi, thì không còn nhớ đến cơn gian nan nữa, bởi được chan chứa niềm vui, vì một người con đã sinh ra trong thế gian”. (Ga 16, 21). Khi nói lời này, Chúa Giêsu muốn so sánh giờ Giáng Sinh với giờ Thương Khó, đó là hai huyền nhiệm, nhưng chỉ là một thực tại. Ở giờ Thương khó, Chúa Giêsu, Bánh Thánh Thể chính thức được ban cho Giáo Hội mãi mãi.
Cha Stêphanô Manelli nói rằng: “Thánh Thể là Bánh từ trời đã đến qua Mẹ chúng ta. Đó là bánh do Mẹ chế biến từ bột của xác thịt vô nhiễm, và được nhào trộn với sữa trinh nguyên của Mẹ”. Và thánh Augustinô đã nói: “Chúa Giêsu lấy thân xác của Người từ thân xác của Mẹ Maria”.
Đối lại với Giờ của Mẹ Maria, thì ba mưoi ba năm sau là Giờ của Chúa Giêsu, diễn ra qua cuộc Thương Khó. Lúc đó, Chúa Giêsu là Tấm Bánh được bẻ ra.
- GIỜ CỦA CHÚA GIÊSU – THƯƠNG KHÓ – TẤM BÁNH ĐƯỢC BẺ RA
- Giờ của Chúa Giêsu.
Phúc âm thánh Gioan có ghi: “Trước lễ vượt qua, Chúa Giêsu biết giờ của Người đã đến, giờ phải bỏ thế gian mà về với Chúa Cha. Người vẫn yêu thương những kẻ thuộc về mình còn ở thế gian, và Người yêu thương họ đến cùng” (Ga 13,1). Và Người còn nói: “Thầy ở cùng các con mọi ngày cho đến tận thế” (Mt 28, 20).
Do đó, trong bữa tiệc ly, Chúa Giêsu đã bắt đầu một hy lễ mới, để tiếp tục ở lại với những kẻ thuộc về Người. Khi Người lập Bí tích Thánh Thể: Người cầm lấy bánh, tạ ơn, bẻ ra, trao cho các môn đệ và phán: “Nầy là Mình Ta sẽ bị nộp vì các con”. Cùng một thể thức ấy, Người cầm lấy chén rượu, tạ ơn, trao cho các môn đệ và phán: “Nầy là chén Máu Ta sẽ đổ ra vì các con. Các con hãy làm việc nầy mà nhớ đến Ta”. Hy lễ này rồi sẽ được hoàn tất nơi cuộc Thương Khó.
- Thương Khó.
Chúa Giêsu bắt đầu cuộc hiến tế từ chiều nay, thứ năm, để chiều mai, thứ sáu, Người hoàn tất trên thập giá, vì lễ hy sinh trong bữa tiệc ly và lễ hy sinh trên thập giá chỉ là một. Trong cả hai, Chúa Giêsu đã hiến mình làm lễ vật dâng hiến Chúa Cha:
* Trong bữa tiệc ly, Chúa Giêsu hiến tế cách mầu nhiệm và bí tích. Trên thập giá, Chúa Giêsu hiến tế bằng chính Mình Máu mình.
* Trong bữa tiệc ly, ý muốn hiến thân của Chúa Giêsu đã được biểu lộ qua một cử chỉ bề ngoài: Người cương quyết dấn thân chịu hy sinh đẫm máu trên thập giá. Ở đó, tấm bánh đã được bẻ ra.
- Tấm bánh được bẻ ra.
Tấm bánh được bẻ ra như thế nào ?
Trên thập giá, Chúa Giêsu chịu hiến tế: “Đứng gần thập giá Chúa Giêsu, có Mẹ Người, chị của Mẹ Người là bà Maria vợ ông Clôpas và bà Maria Macdala” (Ga 19, 25).
Mẹ Maria đã trung thành hợp nhất với Con cho đến bên thập giá. Tấm bánh mà Mẹ đã làm ra ở ngày Giáng Sinh, hôm nay, sau 33 năm, Mẹ tiến dâng trên thập giá. Mẹ đã hết tình ưng thuận hiến tế lễ vật do lòng Mẹ sinh ra, để tấm bánh ấy được bẻ ra và trao ban.
Đúng vậy, Công Đồng Vatican II, trong Hiến chế về Giáo Hội đã nhắc nhỡ chúng ta nhớ lại lòng trắc ẩn của Mẹ Maria: trong tim Mẹ dội lại tất cả những gì Chúa Giêsu chịu đựng trong thân xác và linh hồn, đề cao lòng mong muốn của Mẹ được chia sẻ với hy lễ cứu chuộc của Con, và nối kết sự đau đớn tình mẹ của Mẹ với sự hiến dâng tư tế của Con. (LG 58)
Quả là một hành động yêu thương đích thực, qua đó, Mẹ dâng Con mình như của lễ hy sinh đền tội cho toàn thể nhân loại. Đến đây, ta thấy lóe lên một vấn nạn.
- Vấn nạn.
Lễ hy sinh trong bữa tiệc ly và lễ hy sinh trên thập giá là một. Vậy, tại sao dưới chân thập giá có Mẹ Maria hiện diện, còn trong bữa tiệc ly Mẹ lại vắng mặt ?
Đức Hồng Y James Hickey đã giải thích như sau: Chúa Giêsu đã yêu Mẹ rất nhiều, yêu hơn hết mọi sự, Người muốn cho chúng ta một bài học đích đáng, qua việc không đưa Mẹ Người vào trong bữa tiệc ly. Đó là Chúa Giêsu muốn nhấn mạnh đến nguồn gốc “tặng ân đến từ bên ngoài” (Extra nos) của chức tư tế trong Tân ước.
Chức tư tế trong Tân ước không do bởi tương quan huyết nhục, không do cha truyền con nối, cũng không do bởi tình trạng thánh thiện của vị tư tế, nhưng đó là “một tặng ân đến từ bên ngoài”, nghĩa là một tặng ân đến từ Chúa Cha, qua Chúa Kitô, trong Chúa Thánh Thần. Nó làm cho vị tư tế có thể hoạt động trong ngôi vị Chúa Kitô (in persona Christi). Bản tính và quyền năng của chức linh mục trong Tân ước được tỏ lộ nơi Chúa Kitô và duy nơi mình Người.
Công Đồng Vatican II, Hiến chế Giáo Hội nói rằng: chức tư tế chung của tín hữu và chức tư tế thừa tác khác nhau, không chỉ về cấp bậc mà còn về yếu tính, tuy nhiên, cả hai đều bổ túc cho nhau. (LG 10). Sự bổ túc cho nhau của chức tư tế thừa tác và chức tư tế chung được biểu lộ rõ nét ở dưới chân thập giá. Ở đó, có thánh Gioan, là một linh mục đang đứng bên Mẹ Maria.
Như vậy, Sự tách biệt nơi bữa tiệc ly là nhằm để chứng minh bản tính phẩm trật của Giáo Hội, được đi theo bởi một tổng hợp ở dưới chân thập giá. Dưới chân thập giá, có Mẹ Maria và Gioan, mỗi người như là một khía cạnh của bản tính Giáo Hội, vẫn tách biệt, nhưng cả hai được sắp đặt và cấu tạo để bổ túc cho nhau:
– Gioan được ban cho Mẹ Maria.
– Mẹ Maria được ban cho Gioan.
III. HIỆP LỄ CÓ MẸ.
Mỗi khi chúng ta rước lấy Mình Máu Chúa Giêsu, chúng ta nên ý thức rằng có sự hiện diện của Mẹ Maria.
- Lưu lại.
“Ai ăn thịt Ta và uống máu Ta, thì luôn lưu lại trong Ta, và Ta ở trong người ấy”. (Ga 5, 56). Lưu lại là sự kết hiệp thật sâu xa đến nỗi sự kết hiệp nầy có tính cách thường hằng và bền vững. Được kết hiệp với Chúa Giêsu trong bí tích Thánh Thể, chúng ta kết hiệp với Thịt và Máu Chúa Giêsu, được lấy từ thịt và máu của Mẹ Maria. Do đó, mỗi khi chúng ta rước lễ là có sự hiện diện dịu dàng và huyền nhiệm của Mẹ Maria, Đấng liên kết bất khả phân ly với Chúa Giêsu trong hình bánh hình rượu.
Chúa Giêsu là người con mà Mẹ hằng tôn thờ. Người là xác thịt của xác thịt Mẹ. Xưa kia, Adong có thể gọi Evà, khi bà được lấy từ xương sườn của ông, rằng: “Xương bởi xương tôi, thịt bởi thịt tôi” (St 2, 23), thì nay, Mẹ Maria cũng có thể có lý để gọi Chúa Giêsu là “thịt bởi thịt tôi và máu bởi máu tôi”.
Thánh Tôma Aquinô đã nói: “Được lấy từ Đức Nữ Đồng Trinh, xác thịt của Chúa Giêsu là xác thịt thuộc mẫu tính của Mẹ Maria”.
Thánh Augustinô đã dạy: “ Trong Bí tích Thánh Thể, Mẹ Maria nối dài, và làm cho tình mẫu tử thiêng liêng của Mẹ mãi mãi tồn tại”.
Thánh Albertô Cả ân cần khuyên: “Bạn ơi, nếu bạn muốn có kinh nghiệm về tình thân mật với Đức Maria, bạn hãy để chính bạn được ôm ấp trong cánh tay của Mẹ.
.Hãy bước đi với tư tưởng tinh tuyền khôn tả này tới bàn tiệc của Thiên Chúa, rồi bạn sẽ tìm thấy được sự nuôi dưỡng của người Mẹ bằng bữu huyết của người Con”.
- Kinh nghiệm thực hành trong Giáo Hội.
Thể hiện những tư tưởng trên, chúng ta nhận thấy rõ nét, ở kinh nghiệm thực hành các việc tôn sùng trong Giáo Hội, qua nhiều cuộc biểu dương lòng sùng kính Mẹ Maria, được kết thúc bằng việc tôn thờ Thánh Thể và Phép Lành Mình Thánh Chúa.
Đó là kết quả hợp tình hợp lý: Lòng tôn kính Mẹ Maria đã dẫn đưa các tín hữu đến lòng tôn thờ Chúa Giêsu Kitô.
KẾT
Để kết thúc bài suy niệm này, tôi xin mượn lời kinh AVE, VERUM CORPUS để ca ngợi Đức Mẹ Thánh Thể:
Con kính lạy Mình Thánh Chúa Giêsu,
Xưa bởi lòng rất thánh Đức Bà Maria,
Trọn đời đồng trinh mà ra,
Chuộc tội chịu chết trên cây thánh giá,
Cùng chịu lưỡi đòng đâm cạnh nương long,
Chảy hết máu cùng nước ra.
Con xin ngày sau, khi con qua đời,
Xin Chúa hằng nuôi lấy linh hồn con.
Ôi Giêsu khoan thay,
Ôi Giêsu nhân thay,
Con rất thánh mẫu Maria. Amen
(bản dịch trích từ sách kinh của Giáo phận Qui Nhơn)
Lm And. Phạm văn Bé
2021
Khiêm tốn
07 04 Tr Thứ Ba Tuần II Mùa Vọng.
Thánh Am-brô-xi-ô, Giám mục, Tiến sĩ Hội Thánh, lễ nhớ.
Mt 18, 1-14
Khiêm tốn
Thay vì mừng lễ thánh Ambroise vào ngày mất của ngài (4 tháng 4 năm 397), thường rơi vào các ngày lễ Phục sinh, Giáo Hội mừng vào ngày 7 tháng 12, là ngày kỷ niệm ngài thụ phong giám mục (394). Tại Rôma, từ thế kỷ XI, người ta đã mừng lễ ngài vào ngày này, cũng như trong các Giáo Hội Byzantin và một số nhà thờ chính toà hay tu viện thời Trung cổ. Cùng với thánh Augustin, Hiêrônimô và Grégoire, thánh Ambroise là một trong bốn thánh giáo phụ và tiến sĩ lớn của Giáo Hội la-tinh, và là một trong những vị thánh được yêu mến nhất.
Thánh Ambroise sinh tại Trèves (Augusta Trevirorum) khoảng năm 339, trong một gia đình Kitô giáo thuộc giới quí tộc Rôma, vào thời kỳ cha ngài làm pháp quan của tỉnh Gaules. Khi cha mất, mẹ của ngài về sống tại Rôma cùng với ba người con: hai trai và một gái, Marcellina, cô em gái này sẽ nhận khăn choàng trinh nữ từ tay Đức giáo hoàng Libère. Sau khi hoàn tất các môn văn chương và luật, Ambroise đã hành nghề một cách xuất sắc, đưa ngài tiến mau đến tận Milan, tại đây ngài được bổ nhiệm làm tổng trấn tỉnh Ligurie và Émilia của Rôma.
Năm 374, khi giám mục Auxence thuộc phe lạc giáo Arius qua đời, quan tổng trấn Ambroise tới nhà thờ lớn Milan để giữ trật tự vào dịp bầu tân giám mục. Nhưng, tuy mới chỉ là một dự tòng, chính ngài lại là người được chọn làm giám mục trước sự phấn khởi của toàn dân. Họ la to: “Ambroise giám mục!” Ngài miễn cưỡng chấp nhận, và tám ngày sau, ngài được rửa tội, được truyền chức và tấn phong. Lúc đó ngài khoảng ba mươi tư tuổi. Sau khi trở thành người đứng đầu Giáo Hội ở Milan, thánh Ambroise học tập thừa tác vụ đến độ ngài trở thành một trong những vị mục tử hoàn hảo nhất trong lịch sử Hội Thánh.
Việc đầu tiên ngài làm là phân phát tài sản của mình cho người nghèo và chọn một nếp sống khổ hạnh. Rồi, dưới sự hướng dẫn của một cha Simplicien, một linh mục giàu kinh nghiệm, ngài dấn thân miệt mài vào việc học Kinh Thánh và các tác giả Ki-tô giáo. Ngài học nhằm phục vụ trước hết cho việc rao giảng và thi hành tác vụ huấn giáo. Bị lôi cuốn bởi Tin Mừng Luca, ngài đã viết một bình luận về Tin Mừng này, còn truyền lại tới chúng ta ngày nay. Chúng ta cũng còn giữ được một sưu tập các khảo luận của ngài về các nhân vật và chủ đề Kinh Thánh: Abel, Cain, Nôê, Abraham, Isaac, thiên đàng, tạo dựng. . .
Thánh Ambroise không ngừng quan tâm tới việc dạy giáo lý cho dân chúng, nhất là trong việc khai tâm đức tin và chuẩn bị phép rửa. Trong khảo luận Các Mầu Nhiệm và các Bí Tích, thánh giám mục Milan cắt nghĩa cho các tín hữu về các bí tích và phụng vụ. Nhưng ngài không chỉ giới hạn vào việc giảng thuyết. Nhằm giúp các tín hữu tham dự tích cực vào phụng vụ, ngài đã sáng tạo ra nhạc bình dân – thể loại đầu tiên ở phương Tây – và ngài đưa các bài hát xen vào các thánh vịnh. Cũng vậy, ngài soạn ra các thánh thi và các ca vãn, và một số sáng tác của ngài ngày nay vẫn còn được dùng để cầu nguyện hay hát trong phụng vụ thuộc nghi lễ Ambroise ở giáo phận Milan.
Trong một xã hội mà Kitô giáo chưa thấm nhuần hoàn toàn, thánh Ambroise quan tâm canh tân các phong tục với mục đích Kitô hoá chúng; ngài cống hiến cho phương Tây khảo luận đầu tiên về đạo đức học Kitô giáo (De Officiis), lấy hứng chủ yếu từ Cicéron. Nhiều khảo luận bàn về đề tài trinh khiết, trong đó có một tác phẩm ngài viết cho em gái ngài là Marcellina, lúc đó đã qui tụ được một số chị em thành một cộng đoàn trinh nữ. Một tiểu luận khác ngài viết cho các bà góa.
Viết đã giỏi, ngài còn là nhà hùng biện lỗi lạc; chính nhờ ngài mà chàng thanh niên Augustin ở Tagaste đã hoàn tất hành trình hoán cải của mình. Cuối đời, bị suy yếu và biết giờ chết sắp tới, ngài đọc cho người ta viết bình luận về thánh vịnh 43 (44). Ở câu 24, ngài nói: “Thật khó khăn khi phải kéo lê lâu dài một thân xác mà bóng tử thần đã che phủ. Lạy Chúa, xin đứng lên. Tại sao Người vẫn ngủ? Người sẽ xua đuổi con mãi sao?” Sự vĩ đại và thánh thiện của thánh Ambroise được diễn tả trong tiếng kêu la cuối cùng này, mà Chúa đã nghe vào một ngày thứ sáu tuần thánh, 4 tháng 4 năm 397.
Suốt ba năm đi theo Chúa Giêsu, các môn đệ cũng có cao vọng muốn được trở thành người lớn nhất trong Nước Trời nên đã đặt câu hỏi với Chúa Giêsu: “Thưa Thầy, ai là người lớn nhất trong Nước Trời?”.Hiểu được tâm tư ấy, Chúa Giêsu liền dạy các ông một bài học thật ý nghĩa đó là “Ai tự hạ, coi mình như em nhỏ này, người ấy sẽ là người lớn nhất Nước Trời.Còn ai tiếp đón một em nhỏ như em này vì danh Thầy, là tiếp đón chính Thầy”.
Chúa Giêsu đưa ra một hình ảnh rất cụ thể đó là trở nên khiêm tốn đơn sơ như trẻ thơ. Khiêm tốn là một đức tính cao quý của con người. Người người có tâm hồn trẻ thơ thì tin tưởng vào tình thương Thiên Chúa,khiêm tốn không cậy dựa sức riêng nhưng biết nhìn nhận những giới hạn của mình.
Thiên Chúa dựng nên mỗi người một vẻ khác nhau, chính sự khác biệt đó càng diễn tả quyền năng và vinh quang của Thiên Chúa.Hình dáng bên ngoài của một người dù đẹp hay xấu, cao hay thấp, trắng hay đen…đối với Chúa không có gì là xấu.Điều quan trọng nằm ở tâm hồn và thái độ sống của mỗi người. Dù nhỏ bé xấu xí nghèo hèn đến đâu, con người đều có phẩm giá và nhân vị vì họ được sáng tạo theo hình ảnh của Thiên Chúa. Nhận biết được điều này, chúng ta được mời gọi phải tôn trọng người khác với tất cả sự khác biệt của họ.
Ông Gerandy, nhà tư tưởng người Mỹ đã từng nói: “Chúng ta cần giống nhau một chút để hiểu nhau, nhưng cần phải khác nhau một chút để yêu thương nhau”. Chính sự khác biệt nơi mỗi người mà chúng ta được chia sẻ đắp đổi cho nhau, cùng cộng hưởng làm cho cuộc sống thêm phong phú và ý nghĩa.
Giá trị của cuộc sống không căn cứ trên số đo chiều cao của một người, chất lượng của cuộc sống không tính bằng sự hơn thua về nhan sắc hay hình thức bên ngoài nhưng dựa vào thái độ chúng ta đối xử với mọi người. Chúng ta không sống như một ốc đảo nhưng là sống cùng và sống với người khác. Chúng ta không thể tự thỏa mãn với chính mình nhưng luôn cần sự chia sẻ, nâng đỡ và an ủi của người khác. Người kiêu căng tự cho mình là đầy đủ nên Thiên Chúa không thể ban thêm điều gì, trái lại người khiêm tốn như một chiếc ly còn trống rỗng sẽ dễ dàng đón nhận được nhiều ân sủng của Thiên Chúa.
Đọc lại Kinh Thánh, chúng ta thấy Thiên Chúa đặc biệt yêu thích người có tâm hồn khiêm tốn. Chúa sẽ không mạc khải cho những bậc khôn ngoan thông thái biết về mầu nhiệm Nước Trời nhưng lại mạc khải cho những người bé mọn. Chính Chúa Giêsu đã dạy chúng ta phải đón nhận người khác như đón nhận chính Chúa, vì “Ai đón tiếp người Thầy sai đến là đón tiếp Thầy, và ai đón tiếp Thầy là đón tiếp Đấng đã sai Thầy” (Ga 13,20).
Vì thế mỗi người chúng ta cũng đừng tự mãn cho mình là người có đầy đủ mà không cần đến sự giúp đỡ của người khác. Trái lại chúng ta là một thụ tạo với đầy khuyết điểm và tính hư nết xấu. Mang trong mình di chứng của tội nguyên tổ, chúng ta luôn bị cám dỗ chiều theo sự xấu. Nhận ra điều này để chúng ta biết cậy nhờ vào ơn Chúa giúp mà hoàn thiện chính mình.
Và để minh chứng cho lòng thương xót của Thiên Chúa, Chúa Giêsu còn đưa ra một ví dụ về người chủ chăn đã bỏ 99 con chiên mà đi tìm một con chiên lạc. Sứ mạng của Chúa Giêsu đến trần gian không phải để kêu gọi người công chính nhưng là kêu gọi người tội lỗi.
Ai khiêm tốn nhận mình là yếu hèn tội lỗi thì Thiên Chúa càng ban ơn giúp sức. Thánh Phaolô tông đồ có nhiều kinh nghiệm về điều này, thánh nhân đã khiêm tốn nhận mình là tôi tớ yếu đuối chẳng có gì để vênh vang.Chúng ta có là gì thì cũng nhờ bởi ơn Chúa. Còn thánh Augustinô thì xác quyết: “Chúa là Đấng cao cả, nếu con hạ mình xuống, Người cũng hạ mình xuống kết hợp với con; nhưng nếu con nâng mình lên, Người sẽ tránh xa con”.
