Aenean nec eros. Vestibulum ante ipsum primis in faucibus orci luctus et ultrices posuere cubilia curae. Suspendisse sollicitudin velit sed leo.

Chuyên mục
  • Bài giảng
  • Các loại khác
  • Chia sẻ
  • Chưa phân loại
  • GH Hoàn Vũ
  • GH Việt Nam
  • Giáo dục
  • Hạnh các Thánh
  • HĐGM Việt Nam
  • Kinh Thánh
  • Phim giáo dục
  • Phụng vụ
  • Sách
  • Suy niệm Chúa nhật
  • Suy niệm hàng ngày
  • Tài liệu giáo dục
  • Tài liệu phụng vụ
  • Thần học
  • Thánh ca
  • Thánh lễ
  • Thánh lễ trực tuyến
  • Thư chung
  • Thư viện
  • Tin tức
  • Triết học
  • Tư liệu
  • UBGD Công giáo
  • Video
From Gallery
Stay Connected
UyBanGiaoDucHDGM.net
  • Trang chủ
  • Thư chung
    • HĐGM Việt Nam
    • UBGD Công giáo
  • Tin tức
    • GH Việt Nam
    • GH Hoàn Vũ
  • Phụng vụ
    • Thánh lễ
    • Thánh lễ trực tuyến
    • Suy niệm hàng ngày
    • Suy niệm Chúa nhật
    • Tài liệu phụng vụ
  • Giáo dục
    • Chia sẻ
    • Tài liệu giáo dục
  • Thư viện
    • Sách
      • Kinh Thánh
      • Triết học
      • Thần học
      • Các loại khác
    • Video
      • Bài giảng
      • Thánh ca
      • Phim giáo dục
      • Hạnh các Thánh
      • Tư liệu
  • Liên hệ
Give Online

Danh mục: Phụng vụ

Home / Phụng vụ
15Tháng Mười Hai
2021

Tại sao Đức Mẹ Guadalupe là bổn mạng của những em bé chưa được sinh ra?

15/12/2021
Anmai
Phụng vụ, Tài liệu phụng vụ
0

Tại sao Đức Mẹ Guadalupe là bổn mạng của những em bé chưa được sinh ra?

 

Khi Đức Mẹ hiện ra với Thánh Juan Diego cách đây gần 500 năm, trước hết, Mẹ đã đến với tư cách là một người mẹ – mẹ của Thiên Chúa, và là mẹ của chúng ta.

Mẹ nói cùng thánh Juan: “Hỡi con yêu dấu của Mẹ, hãy lắng nghe và ghi khắc trong lòng con; đừng để lo lắng hoặc đau buồn chi phối con. Đừng sợ bất kỳ bệnh tật hay điều gì phật ý, lo lắng hoặc đau đớn. Mẹ ở đây như là Mẹ của con! Con không núp dưới bóng Mẹ và sự bảo vệ của Mẹ sao? Mẹ không phải là nguồn sống của con sao? Con không núp trong bóng dưới áo choàng của Mẹ sao? Trong vòng tay của Mẹ, con còn điều gì cần không?”

Mẹ nói với tư cách là mẹ của thánh nhân và như mẹ của những em bé chưa được sinh ra chào đời, khi Mẹ xuất hiện trên Đồi Tepeyac ở Thành phố Mexico, vào năm 1531. Hình ảnh kỳ diệu của Mẹ, được in trên chiếc áo choàng của vị thánh, cho thấy Mẹ đeo một chiếc khăn quàng cổ màu đen, dấu hiệu một người nữ đang mang thai trong văn hóa bản địa.

Đức Mẹ Guadalupe không chỉ trông giống như một phụ nữ bản địa, mà còn nói cùng một ngôn ngữ bản địa. Mẹ đến vào thời điểm xung đột giữa người Tây Ban Nha và các dân tộc bản địa để yêu cầu Thánh Juan Diego thuyết phục Đức Giám Mục xây dựng một nhà thờ. Dấu hiệu cho giám mục tin là Mẹ đã hướng dẫn vị thánh hái hoa hồng Castilian nở rộ ngay giữa mùa đông. Khi thánh Juan tặng hoa cho Đức Giám Mục, thánh nhân phát hiện ra hình ảnh của Mẹ được in trên chiếc áo choàng của thánh nhân.

Ngày nay, Vương cung thánh đường Đức Mẹ Guadalupe ở Thành phố Mexico lưu giữ hình ảnh đó, nơi được hàng triệu người hành hương kính viếng hàng năm. Mẹ không chỉ được coi là đấng bảo hộ của châu Mỹ, mà còn là Mẹ của các thai nhi. Đây là lý do tại sao vào năm 1999, Thánh Giáo hoàng John Paul II đã thiết lập ngày 12 tháng 12 là ngày lễ kính Đức Mẹ Guadalupe.

Thánh Giáo hoàng đã tuyên bố tại vương cung thánh đường: “Đây là tiếng kêu xin của chúng ta cho cuộc sống xứng với phẩm giá cho tất cả mọi người! Cho tất cả những ai đã được thụ thai trong lòng mẹ, cho những đứa trẻ đường phố, cho Guadalupe!”

Gần 20 năm sau, vào năm 2018, Đức Thánh Cha Phanxicô đã ủy thác cho Mẹ Guadalupe “những em bé đang chờ đợi được chào đời…”

Thanh Quảng sdb

Read More
15Tháng Mười Hai
2021

Tại sao Công đồng Vatican II thấy cần phải cải cách phụng vụ?

15/12/2021
Anmai
Phụng vụ, Tài liệu phụng vụ
0

Tại sao Công đồng Vatican II thấy cần phải cải cách phụng vụ?

 

Đây là bài đầu tiên trong loạt bài về việc cải cách phụng vụ Giáo hội.

Ngày 16/7/2021, Đức Giáo hoàng Phanxicô đã ban hành một Tông thư [dưới dạng Tự sắc có tựa đề Traditionis Custodes (Những người gìn giữ truyền thống)] hạn chế việc cử hành thường gọi là Thánh lễ Latinh (Latin Mass) hay hình thức ngoại thường (extraordinary form)*. Hình thức ngoại thường là cử hành những nghi thức của Giáo hội theo các sách phụng vụ trước Công đồng Vatican II bao gồm Sách lễ năm 1962 của Đức Gioan XXIII.

* Sau cuộc cải cách Phụng vụ năm 1970 của thánh Giáo hoàng Phaolô VI, các linh mục vẫn có thể cử hành thánh lễ như hiện nay bằng tiếng Latinh, được gọi là “Thánh lễ bằng tiếng Latinh” (Mass in latin). Trong khi đó, “Thánh lễ Latinh” (Latin Mass), “Thánh lễ Triđentinô” hay “Thánh lễ hình thức ngoại thường” có nguồn gốc từ Sách lễ được Đức Giáo hoàng Piô V phê chuẩn năm 1570 sau Công đồng Triđentinô, và sau này được Đức Gioan XXIII tái công bố năm 1962. Thánh lễ hiện nay theo Sách lễ Rôma 1970 được gọi là “hình thức thông thường”.

Đối với nhiều người Công giáo, điều này nêu lên một vấn đề then chốt. Tại sao phải cải cách phụng vụ như thế? Việc cải cách đã diễn ra thế nào?

Việc canh tân Phụng vụ đã bắt đầu sôi nổi trước Công đồng Vatican II. Nó vừa có chiều kích học thuật vừa mang tính mục vụ.

Bối cảnh

Vào cuối thế kỷ XIX và đầu XX, thần học bắt đầu trở lại xem xét các nguồn thần học. Chủng sinh và sinh viên thần học bắt đầu đọc không chỉ các sách giáo khoa nêu bật tư tưởng của thánh Augustinô và thánh Tôma Aquinô, mà còn bắt đầu đọc chính [tác phẩm của] các tác giả này.

Việc “trở về nguồn” thần học như vậy bao gồm việc nghiên cứu phụng vụ thánh. Các nhà sử học công nhận rằng những lời nguyện trong phụng vụ không phải từ trời rơi xuống. Các bản văn lời nguyện này đã phát triển dần dần theo thời gian.

Hơn nữa, những thực hành như rước lễ dưới hai hình bánh rượu đã là quy tắc trong Giáo hội sơ khai. Tuy nhiên, không người Công giáo đã rửa tội nào rước Máu thánh nơi nhà thờ giáo xứ của mình. Tác phẩm Mass of the Roman Rite (Thánh lễ Nghi thức Rôma – 1948) của nhà phụng vụ-tu sĩ dòng Tên người Áo – Josef Jungmann, đã có đôi chỗ sai sót, nhưng không bao giờ thiếu những trình thuật xuất sắc về sự phát triển của phụng vụ Thánh Thể Rôma.

Việc trở về nguồn này không chỉ nối kết với lịch sử phụng vụ, đúng hơn nó cũng liên kết với thần học. Trong tác phẩm Catholicism: Christ and the Common Destiny of Man – 1938 (Giáo hội Công giáo: Đức Kitô và vận mạng chung của con người), nhà thần học Dòng Tên là Henri de Lubac lập luận rằng Giáo hội không chỉ là một tổ chức gồm có giáo hoàng, giám mục, linh mục và giáo dân. Đúng hơn, Giáo hội là sự hiệp thông phụng vụ hay Thánh Thể. Qua việc cử hành phụng vụ, Giáo hội xuất hiện như một cộng đoàn của những người được tạo dựng để chúc tụng và tôn thờ Thiên Chúa hằng sống. Cộng đoàn chúc tụng Thiên Chúa này phải hoạt động như là men giữa lòng xã hội, dẫn đưa mọi người trở nên điều mà các tín hữu lãnh nhận trong Bí tích Thánh Thể cực thánh. Mình và Máu Đức Kitô đã đổ ra để thế gian được sống.

Việc trở về nguồn thần học được liên kết chặt chẽ với một cuộc canh tân mục vụ. Kể từ thời Cải cách, Giáo hội Công giáo Rôma nhận thức được tầm quan trọng của các nghi thức phụng vụ để canh tân Giáo hội. Nhiều nghi thức – chẳng hạn như rửa tội cho trẻ sơ sinh hoặc hôn phối – được cử hành một phần bằng tiếng địa phương. Điều này giả định rằng mọi người nên hiểu những gì diễn ra nơi những nghi thức này.

Nhưng vào cuối thế kỷ XIX, rõ ràng là nền văn hóa Kitô giáo vững mạnh từng tồn tại ở châu Âu đang dần phai nhạt. Các nghi lễ diễn ra trong bối cảnh lòng đạo đức bình dân đang nở rộ lại trở nên buồn tẻ khi người ta đổ xô đến các thành phố nơi việc công nghiệp hóa và phát triển kinh tế đã thành tôn giáo mới. Ngoài ra, một cung cách cử hành Lễ đọc (Low Mass)** đã có trong Giáo hội Công giáo Rôma vào đầu thế kỷ XX. Thay vì hát, trong thánh lễ [Lễ đọc] chủ tế đọc thầm (sotte voce) những phần riêng (như kinh Vinh danh hoặc kinh Thánh, Thánh, Thánh…). Từ đó đã phát xuất mong muốn tham dự Thánh lễ với sách lễ bản ngữ. Nhưng ngoại trừ lúc truyền phép và thỉnh thoảng lúc rước Mình Thánh Chúa [phải đọc bằng tiếng Latinh], ít người hiểu chính xác tại sao người Công giáo lại chú trọng đến phụng vụ thánh như vậy.

** Lễ đọc: Low Mass hay Read Mass, một trong hai hình thức chính của Thánh lễ bằng tiếng Latinh trước Công đồng Vatican II, hình thức còn lại là Lễ hát (High Mass hay Sung Mass).

Canh tân mục vụ

Việc canh tân mục vụ đối với phụng vụ thánh được thực hiện trong nhiều bối cảnh khác nhau. Tại Đức, đã bắt đầu thử nghiệm hát các thánh thi (hymn) trong Thánh lễ. Dom Prosper Guéranger, tu viện trưởng Solemnes ở Pháp từ năm 1837–75, đã xuất bản một loạt sách có tựa đề Năm Phụng vụ (The Liturgical year). Bản văn mục vụ của loạt tài liệu này nhằm mời gọi giáo dân nhận thức sâu sắc hơn các nghi thức của Giáo hội.

Trên khắp Âu châu, những nhân vật của thế kỷ XX như tu sĩ Dòng Biển Đức người Bỉ Lambert Beauduin và triết gia-thần học gia người Đức gốc Ý là Romano Guardini đã tìm cách phản ứng với chủ nghĩa thế tục, chủ nghĩa cá nhân và chủ nghĩa dân tộc thông qua sự đổi mới chú ý đến thần học và cử hành phụng vụ. Nếu mọi người đều hiểu được những diễn tiến trong phụng vụ, tham gia đầy đủ vào hành vi cầu nguyện, thì Giáo hội Công giáo có thể tạo ra một nền văn hóa mới, có khả năng ứng phó với những thách đố thời hiện đại.

Việc canh tân mục vụ và học thuật trong phụng vụ thánh  được gọi là phong trào phụng vụ. Phong trào này được du nhập vào Hoa Kỳ bởi tu sĩ Dòng Biển Đức Virgil Michel, người thường xuyên trao đổi với những nhân vật như Dorothy Day, nữ sáng lập phong trào Công nhân Công giáo.

Những nhận định của Đức Giáo hoàng

Tuy nhiên, phong trào phụng vụ đã trở thành một phần trong huấn quyền chính thức của Giáo hội. Việc cải cách và canh tân phụng vụ bắt đầu với thánh Piô X: hạ thấp tuổi rước lễ, khuyến khích tham gia thường xuyên các nghi thức của Giáo hội và canh tân sách kinh Thần vụ vì lợi ích của hàng giáo sĩ. Trong Tông thư về thánh nhạc, Tự sắc Tra Le Sollecitudini – 1903, thánh Piô X là vị giáo hoàng đầu tiên sử dụng thuật ngữ “tham gia tích cực” trong một văn kiện. Tông thư nhằm thúc đẩy sự đổi mới của thánh nhạc trong phụng vụ và khuyến khích tất cả các tín hữu hát những phần riêng của Thánh lễ.

Đức Giáo hoàng Piô XII thậm chí còn đi xa hơn, khi với Thông điệp Nhiệm Thể Chúa Kitô (Mystici Corporis Christi – 1943), ngài trở lại quan điểm xem Giáo hội như là Thân thể Chúa Kitô trên trần gian, một sự hiện diện thực sự nơi phụng vụ Thánh Thể. Thông điệp Đấng Trung Gian của Thiên Chúa (Mediator Dei – 1947) của ngài bày tỏ sự ngưỡng mộ đối với phong trào phụng vụ, khuyến khích tham gia bên trong lẫn bên ngoài vào phụng vụ thánh vì lợi ích canh tân đời sống trong Đức Kitô. Huấn thị Thánh nhạc (Musicae Sacrae – 1955) của Đức Piô XII một lần nữa đề cao giá trị của thánh nhạc trong phụng vụ, cũng như cổ võ thánh ca tiếng địa phương bên ngoài các cử hành phụng vụ chính thức của Giáo hội.

Do đó, phong trào phụng vụ đã tìm cách đề cao kinh nguyện phụng vụ nơi tâm điểm của lòng đạo đức Công giáo và của việc đổi mới văn hóa. Tại Công đồng Vatican II, do thánh Giáo hoàng Gioan XXIII triệu tập, tầm nhìn này về kinh nguyện phụng vụ đã được đưa vào Hiến chế Phụng vụ Thánh (Sacrosanctum Concilium – 1963), là hiến chế đầu tiên được các nghị phụ Công đồng phê chuẩn. Kinh nguyện phụng vụ được trình bày không chỉ như những nghi thức và lễ nghi của Giáo hội. Đúng hơn, phụng vụ là cách diễn tả đầy đủ nhất về Giáo hội với tư cách chiêm niệm và hoạt động, một cộng đoàn thần linh hoạt động như muối men tốt lành trong lịch sử.

Văn kiện này trình bày mong muốn canh tân phụng vụ thánh. Công việc này được thực hiện do một Ủy ban thành lập năm 1964, gồm các thần học gia, các nhà phụng vụ và các giám mục. Hiến chế đã tham khảo kiến thức lịch sử để canh tân kinh nguyện phụng vụ. Những cải cách này diễn ra trên phạm vi rộng. Chẳng hạn, trong phụng vụ Thánh Thể, đã có nhiều lựa chọn hơn về các Kinh Tiền tụng trước Kinh nguyện Thánh Thể. Các Kinh nguyện Thánh Thể bổ sung đã được soạn ra, mô phỏng từ các bản văn kinh nguyện lịch sử trong Giáo hội. Trong thập niên tiếp theo, những nghi thức này đã được phê chuẩn và ban hành.

Cũng ngay sau Công đồng, các giám mục yêu cầu phụng vụ được cử hành bằng tiếng địa phương. Điều này được chấp thuận cho cả thế giới, và một tiến trình dịch thuật được triển khai xoay quanh các nghi thức trong Giáo hội. Ngay cả ngày nay, khi Rôma phát hành một ấn bản nghi thức mới thì ấn bản đó phải được một ủy ban chuyên viên dịch thuật, được các giám mục địa phương, rồi Rôma [tức là Bộ Phụng tự và Kỷ luật Bí tích] chấp nhận.

Do đó, việc cải cách và canh tân phụng vụ bắt nguồn từ mong muốn là Giáo hội đáp ứng với thời hiện đại qua tầm nhìn mầu nhiệm và bí tích của đời sống Giáo hội. Vấn đề còn tồn tại là liệu cuộc cải cách và canh tân này có lợi ích cho Giáo hội hay không.

Thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô II: “Tất cả phải cảm thấy được chào đón”

“Phụng vụ đưa ra giải đáp sâu sắc và hiệu quả nhất cho niềm khát khao gặp gỡ Chúa. Cách đặc biệt trong Bí tích Thánh Thể, nơi đó chúng ta được thông phần với hy tế của Chúa Kitô và được nuôi dưỡng bằng Mình và Máu Người. Tuy nhiên, các mục tử  phải đảm bảo rằng lương tâm mình  được thấm nhập ý thức mầu nhiệm. . . . Đặc biệt, nhiệm vụ của các chủ chăn là cổ võ những việc cử hành xứng đáng, dành sự quan tâm thích đáng đến các hạng người khác nhau: trẻ em, người trẻ, người lớn, người già và người khuyết tật. Tất cả họ phải cảm thấy được tiếp đón khi qui tụ, để họ có thể hít thở bầu khí của cộng đoàn tín hữu đầu tiên là ‘chuyên cần nghe các Tông đồ giảng dạy, luôn luôn hiệp thông với nhau, siêng năng tham dự lễ bẻ bánh và cầu nguyện’ (Cv 2,42)”.

(Số 12 – Thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô II, trong Tông thư Spiritus et Sponsa – 2003 đánh dấu kỷ niệm 40 năm Hiến chế về Phụng vụ Thánh của Công đồng Vatican II).

Timothy P. O’Malley

Ban học tập Sao Biển chuyển ngữ

Read More
15Tháng Mười Hai
2021

Thi hành chức vụ Giám mục giáo phận từ khi nào?

15/12/2021
Anmai
Phụng vụ, Tài liệu phụng vụ
0

Thi hành chức vụ Giám mục giáo phận từ khi nào?

 

Đôi khi có những thắc mắc liên quan đến vị tân Giám mục giáo phận; hỏi rằng, khi một linh mục được Đức Giáo hoàng bổ nhiệm làm Giám mục giáo phận, thì ngài là Giám mục giáo phận chưa; ngài đã có quyền tài phán trên Giáo phận mà ngài được bổ nhiệm hay chưa; tên của ngài đã được nêu trong kinh nguyện Thánh thể hay chưa.

Trước tiên cần phân biệt “chức thánh” Giám mục, linh mục, phó tế với “chức vụ” mà các vị ấy đảm nhiệm.

Đối với Giáo hội địa phương là một giáo phận, Đức Giáo hoàng ra Tông sắc bổ nhiệm một linh mục, với “chức vụ”, hoặc:

– Giám mục giáo phận;

– Giám mục phó;

– Giám mục phụ tá.

Khi mới ra Tông sắc bổ nhiệm một linh mục làm Giám mục giáo phận mà thôi thì:

a- Linh mục đó chưa có “chức thánh” Giám mục và cũng chưa nhận “chức vụ” Giám mục giáo phận, hay Giám mục phó, Giám mục phụ tá;

b- Ngài chưa có quyền lãnh đạo hay tài phán trên giáo phận;

c- Tên của ngài có thể nêu trong kinh nguyện Thánh Thể, tuy không buộc.

Xin lý giải như sau:

1- Chưa là Giám mục, chưa là Giám mục giáo phận

Tiến chức Giám mục phải được tấn phong Giám mục thì mới có chức Thánh Giám mục. Điều này thì khá rõ.

Còn việc thi hành quyền lãnh đạo hay tài phán, Giáo luật quy định là không được thi hành chức vụ trước khi đảm nhận giáo phận, nghĩa là trước khi nhậm chức:

Điều 382

  • l. Giám mục được tiến chức không được xen vào việc thi hành chức vụ đã được trao phó trước khi đảm nhận giáo phận theo Giáo luật; tuy nhiên, ngài có thể thi hành các chức vụ ngài đã giữ trong giáo phận đó trước khi được tiến chức, miễn là vẫn tôn trọng những quy định của điều 409§2. 

Điều 382§l, tuy không có quy định là “vô hiệu” nếu tiến chức “xen vào việc thi hành chức vụ“, nhưng nếu tìm hiểu những quy tắc luật khác, thì sẽ thấy việc thi hành chức vụ ấy là vô hiệu. Và như vậy, khi chưa nhậm chức thì tiến chức Giám mục giáo phận chưa có quyền lãnh đạo hay quyền tài phán trên giáo phận.

Có thể căn cứ vào những điều luật như sau:

a- Nhậm chức là cần thiết để thành sự

Việc nhậm chức là rất cần thiết để “trở thành” Giám mục giáo phận hay Giám mục phó. Vì lẽ, nếu Giám mục phó mà đã không nhậm chức hợp lệ thì ngài không thể trở thành Giám mục phó và cũng không trở thành Giám mục giáo phận khi Tòa Giám mục khuyết vị, theo như quy định của điều 409§1.

Điều 409

  • 1. Khi toà Giám mục khuyết vị, Giám mục phó tức khắc trở thành Giám mục của giáo phận vì đó mà ngài đã được đặt lên, miễn là ngài đã nhậm chức hợp luật.

 

b- Liên quan đến khuyết vị

Sự nhậm chức vô hiệu có thể do Tòa chưa khuyết vị:

Điều 153

  • 1. Việc trao ban một chức vụ mà không khuyết vị theo luật thì vô hiệu do chính sự kiện, và không trở thành hữu hiệu do sự khuyết vị sau đó.

Hãy thử xét một trường hợp cụ thể: Đức Giáo hoàng ban Tông sắc thuyên chuyển một Giám mục giáo phận A đến giáo phận B, và bổ nhiệm một linh mục làm tân Giám mục giáo phận cho giáo phận A.

Khi Giám mục giáo phận A chưa “nhậm chức” ở giáo phận B do thuyên chuyển, thì tòa A “chưa bị khuyết vị”, như điều 418§1 quy định:

Điều 418

  • 1. Trong vòng hai tháng kể từ khi nhận được tin chắc chắn về sự thuyên chuyển, Giám mục phải đến giáo phận mà ngài được sai đến và nhậm chức theo Giáo luật; và kể từ ngày ngài nhậm chức trong giáo phận mới, giáo phận cũ của ngài trở thành khuyết vị.

 

Mà khi Tòa chưa khuyết vị thì sự trao ban hay bổ nhiệm một chức vụ vào Tòa đó sẽ không hữu hiệu, căn cứ vào điều 153§1 kể trên.

Điều này chứng tỏ rằng, khi Tông sắc được ban ra, nó không hữu hiệu tức thời, nghĩa là linh mục được tiến chức Giám mục giáo phận không tức khắc trở thành Giám mục giáo phận. Khi giáo phận chưa khuyết vị thì làm sao tiến chức, có thể là Giám mục giáo phận với quyền lãnh đạo hay tài phán hữu hiệu ở giáo phận đó được.

c- Giá trị Tông sắc

Phản biện có thể cho rằng:

Vậy Tông sắc của Đức Giáo hoàng lại không có giá trị hay sao?

– Tông sắc của Đức Giáo hoàng tất nhiên là có giá trị (valide) hoàn toàn, nhưng hiệu lực (effetto) của Tông sắc lại còn tùy thuộc những nguyên tắc luật hay những điều kiện khác.

Rõ ràng nhất là Giáo luật có quy định là bổ nhiệm trước, rồi hiệu lực đến sau, kể từ ngày chức vụ bị khuyết vị.

Điều 153

  • 2. Tuy nhiên, nếu là một chức vụ, chiếu theo luật, được trao ban (conferito) trong một thời gian nhất định, thì việc trao ban có thể được thực hiện trong vòng sáu tháng trước khi hết hạn, và có hiệu lực (effetto) kể từ ngày chức vụ khuyết vị.

Cũng tương tự, bộ Giáo luật được thiết lập (istituita) khi được công bố trên Công báo của Tòa Thánh (Acta Apostolicae Sedis), nhưng chỉ có hiệu lực (in vigore) sau ba tháng kể từ ngày được công bố trên Công báo. Còn luật địa phương thì chỉ hiệu lực sau khi công bố được một tháng (đ. 8).

Vậy sự chưa có hiệu lực của một sắc lệnh, một bộ luật… là tùy theo quy định luật. Không được cho rằng sắc lệnh đó là không có giá trị khi thấy nó chưa hay không hiệu lực.

Hơn nữa, có thể kể vài điều kiện liên quan đến sự hữu hiệu như:

Chức vụ Giám mục giáo phận sẽ vô hiệu nếu chức thánh linh mục của tiến chức là giả hoặc linh mục ấy chưa được Rửa tội. Nên biết: Hành vi pháp lý hễ bị vô hiệu thì cho dù do sự lầm lẫn hay không biết, hành vi ấy vẫn là vô hiệu (đ.15§1).

Chức vụ Giám mục giáo phận cũng sẽ vô hiệu, nếu tiến chức đã lãnh nhận vô hiệu chức thánh phó tế hay chức thánh linh mục. Ví dụ, được truyền chức linh mục bởi một vị tưởng là Giám mục mà thực sự là không có chức thánh Giám mục.

Các nhà chú giải cũng đồng ý rằng, khi chưa nhận quyền theo giáo luật, vị tiến chức Giám mục giáo phận nếu có thi hành quyền lãnh đạo thì cũng vô hiệu. S. Sipos trong quyển Bách khoa tự điển Giáo luật giải thích rằng, để có thể thực hiện quyền tài phán cách hữu hiệu (valide), cần phải có sự nhậm chức trước (ut iurisdictio per institutionem canonicam iam obtenta excercere valide possit, nessaria est introdutio in possessionem, quae est verbali set realis), (S. SIPOS, Enchiridion iuris canonici, §50, 205. Cf. F.X. WERNZ – P VIDAL, Ius Canonicum, n 597, 629.)

 

  1. Nêu danh tiến chức Giám mục trong Kinh nguyện Thánh Thể

Trong quyển Nghi thức của các Giám mục (Cerimoniale dei Vescovi) có quy định:

  1. Dal giorno della presa di possesso del vescovo, tutti i sacerdoti che celebrano la messa nella sua diocesi, anche nelle chiese e negli oratori degli esenti, devonoinserire il suo nome nella preghiera eucaristica. 
  2. Kể từ ngày nhận chức của Giám mục, tất cả các linh mục cử hành thánh lễ trong giáo phận của ngài, ngay cả trong các nhà thờ và nhà nguyện của những dòng miễn trừ, đều phảinêu tên ngài trong kinh nguyện Thánh Thể.   

Có người cho rằng chỉ nêu tên Giám mục sau khi ngài đã nhậm chức, căn cứ vào chính quy định của số 1147 này.

Tuy nhiên, cần phân biệt, đây là quy định đòi “phải” (devono), chứ không là quy định “cấm”.  Quy định 1147 đòi “phải” nêu tên khi ngài đã nhậm chức, nhưng không cấm nêu tên khi chưa nhậm chức. Việc này cũng tương tự như trong một giáo phận, nếu có Giám mục đã về hưu hoặc Giáo mục nào khác, chúng ta cũng thường cầu nguyện cho cả Giám mục giáo phận và các Giám mục đó trong kinh nguyện Thánh Thể.

J.B. Lê Ngọc Dũng

Read More
15Tháng Mười Hai
2021

GIOAN TẨY GIẢ

15/12/2021
Anmai
Phụng vụ, Suy niệm hàng ngày
0

16  13  Tm  Thứ Năm Tuần III Mùa Vọng.

Lc 7, 24-30

GIOAN TẨY GIẢ

          Chúa Giêsu khen ông: ‘trong các con cái người nữ sinh ra, chưa từng xuất hiện một người nào cao trọng hơn Gioan’; nhưng lời khen lại bị giới hạn khi Người nói thêm: ‘người nhỏ nhất trong Nước Thiên Chúa lại cao trọng hơn ông!’ Điều Chúa Giêsu muốn nói là gì?

          Chúa khen ông phải chăng vì: ‘Toàn thể dân chúng đã nghe ông, cả những người thu thuế đều vâng lời Thiên Chúa, và chịu phép rửa của ông’; nhưng sự giới hạn phải chăng là do: ‘còn những người biệt phái và luật sĩ đã khinh chê ý định của Thiên Chúa, vì họ không chịu để Gioan thanh tẩy cho’. Bản văn trình bày là như thế, nhưng qua sự kiện này giúp chúng ta hiểu Chúa Giêsu hơn như thế nào?

          Có lẽ chúng ta xem lại câu trả lời của Chúa Giêsu trong trường hợp: ‘Mẹ và anh em Đức Giê-su đến gặp Người, mà không làm sao lại gần được, vì dân chúng quá đông. Người ta báo cho Người biết: “Thưa Thầy, có mẹ và anh em Thầy đang đứng ngoài kia, muốn gặp Thầy.” Người đáp lại: “Mẹ tôi và anh em tôi, chính là những ai nghe lời Thiên Chúa và đem ra thực hành.”  (Lc 8, 19-21; Mt 12, 46 -50; Mc 3, 31 -35 ); và trường hợp thứ hai: ‘Khi Đức Giê-su đang giảng dạy, thì giữa đám đông có một người phụ nữ lên tiếng thưa với Người: “Phúc thay người mẹ đã cưu mang và cho Thầy bú mớm!” Nhưng Người đáp lại: “Đúng hơn phải nói rằng: Phúc thay kẻ lắng nghe và tuân giữ lời Thiên Chúa.” (Lc 11, 27-28).

          Chúng ta dễ có cảm giác ‘chưng hửng’ với những câu nhận định của Chúa Giêsu thuộc loại này! Bởi ai trong chúng ta cũng cùng một quan niệm với lời phát biểu của người phụ nữ về Đức Maria. Không ai chối cãi vị trí độc tôn của Mẹ, nhưng Chúa Giêsu xem ra không đồng tình cho lắm! Bởi thay vì công nhận việc cưu mang và cho Thầy bú mớm là có phúc thì Chúa Giêsu lại lái sang việc ‘lắng nghe và tuân giữ Lời Chúa’ mới là có phúc.

          Dĩ nhiên Đức Maria là Người hơn ai hết đã ‘lắng nghe và tuân giữ Lời Chúa’, có nghĩa Mẹ đã ‘cưu mang Lời Chúa’ trước khi cưu mang ‘Ngôi Lời Nhập Thể’. Cũng vậy, khi Mẹ và anh em Người đến tìm Người thì mọi người rất trân trọng. Bởi người ta ‘tâm phục khẩu phục’ Người bao nhiêu thì hẳn mọi người cũng kiêng nể Mẹ và anh em Người bấy nhiêu! Sự ‘kiêng nể’ phát sinh do ‘dây mơ rễ má’ với Thầy!

          Vậy mà Người lại lái sang một mối tương quan khác, tương quan của những người cùng ‘lắng nghe Lời Chúa và đem ra thực hành’. Khi chuyển trọng tâm sang một tương quan mới thì không phải Chúa Giêsu có ý phủ nhận những tương quan trước là kém quan trọng. Bởi lịch sử không lặp lại, thì những tương quan trước vẫn giữ vị trí quan trọng của nó; nhưng khi hướng sự chú ý của người nghe sang tương quan mới là Chúa Giêsu mở ra những cơ hội mới cho người nghe được tham dự vào tương quan với Thiên Chúa một cách mật thiết hơn, gắn bó hơn như họ từng ngưỡng phục tương quan giữa Mẹ Maria với Chúa Giêsu cũng như anh em họ hàng với Người.

          Tương tự như vậy, khi Chúa Giêsu nhận định sự cao trọng của ông Gioan Tẩy giả: ‘trong các con cái người nữ sinh ra, chưa từng xuất hiện một người nào cao trọng hơn Gioan’, đồng thời Người cũng mở ra một sự cao trọng khác cho mọi người: ‘người nhỏ nhất trong Nước Thiên Chúa lại cao trọng hơn ông’.

          Thật vậy, chính ông được cưu mang trong lúc bà Êlizabét son sẻ già nua! Việc ông nhảy mừng trong bụng mẹ lúc được 6 tháng, khi đặt tên cho ông thì Giacaria, bố ông hết câm! Ông là tiếng kêu trong hoang địa như tiên tri Isaia đã loan báo, ông mặc áo lông Lạc đà, thắt lưng bằng dây da thú, ăn châu chấu và uống mật ong rừng. Ông rao giảng, làm phép rửa, bị tù đầy và bị chặt đầu trong bữa tiệc vui. Ông là Êlia phải đến trước. Ông là kết tinh của Cựu Ước, là người đã chỉ vào Chúa Giêsu mà giới thiệu: ‘đây Chiên Thiên Chúa, đây Đấng gánh tội trần gian’.

           Vì thế, trong số con cái người nữ sinh ra, chưa từng có ai cao trọng hơn ông! Nhưng không phải vì thế mà ông chặn lối tiến đức của người khác. Bởi ‘người nhỏ nhất trong Nước Thiên Chúa lại cao trọng hơn ông’. Vậy ai muốn như ông hay hơn ông thì hãy làm người nhỏ nhất trong Nước Trời.

          Gioan Tẩy giả không phải là một cây sậy mềm yếu phất phơ trước gió: ông đã cương trực, nghiêm khắc lên án việc ngoại tình của vua Hêrôđê, dẫu biết rằng sửa lỗi nhà vua là một điều nguy hiểm đến tính mạng của mình. Gioan cũng không phải là người ăn bận gấm vóc lụa là sống nơi cung điện. Ông chọn lối khổ hạnh: sống trong hoang địa, mặc áo da thú và ăn châu chấu. Chúa Giêsu xác nhận căn tính của Gioan: là người còn hơn cả ngôn sứ nữa, là sứ giả của Thiên Chúa, được sai đi trước dọn đường cho Con Một Ngài. Ông xứng đáng được ca tụng là “ngọn đèn cháy sáng” soi chiếu cho mọi người.

          Chúng ta hãy nhìn lại sứ mạng ngôn sứ của mình. Thay vì nhát đảm chúng ta mặc lấy tinh thần mạnh mẽ, trung kiên sống theo chân lý, bảo vệ chân lý. Thay vì đam mê hưởng thụ theo xu hướng thời đại, chúng ta chọn sống thanh đạm, giản dị. Sống như thế chúng ta mới thực thi được sứ mạng ngôn sứ của mình, và giới thiệu được Đức Kitô cho người khác.

Read More

Điều hướng bài viết

  • Previous page
  • Page 1
  • …
  • Page 584
  • Page 585
  • Page 586
  • …
  • Page 925
  • Next page
Bài viết mới nhất
ĐỨC THÁNH CHA LÊÔ XIV: TRỞ NÊN NGƯỜI THÂN CẬN TẠI LAMPEDUSA
06/07/2026
TIẾNG KÈN DÂNG CHÚA TRONG ĐẠI LỄ TUYÊN PHONG CHÂN PHƯỚC CHA PHANXICÔ XAVIÊ TRƯƠNG BỬU DIỆP
06/07/2026
Giới thiệu ảnh và tượng Chân phước Phan-xi-cô Xa-vi-ê Trương Bửu Diệp
06/07/2026
Video nổi bật
https://www.youtube.com/watch?v=Td144YDsaGo
Sự kiện sắp tới

There are no upcoming events at this time.

Ủy ban Giáo dục Công giáo – Trực thuộc Hội Đồng Giám Mục Việt Nam.

Liên hệ

72/12 Trần Quốc Toản, Phường 8, Quận 3, TP.HCM Get Directions

Phone: +84 931 436 131

Email: [email protected]

Ban chuyên môn
  • Ban Tài liệu và Truyền thông
  • Ban Giáo chức
  • Ban Kỹ năng và Giá trị sống
  • Ban Khuyến học
  • Ban Học viện Thần học
  • Ban Hội Học sinh – Sinh viên
Chuyên mục
  • Tin tức
  • Thư chung
  • Giáo dục
  • Phụng vụ
  • Thư viện
Bản quyền © 2020 thuộc về Ủy Ban Giáo Dục HĐGM VN. Design by JT.