2022
Hãy sẻ chia
29.4 Thánh Catêrina đệ Siena, Đtts
Cv 5:34-42; Tv 27:1,4,13-14; Ga 6:1-15
Hãy sẻ chia
Catarina Benincasa chào đời tại thành Siena vào năm 1347, và gia nhập dòng Ba Đaminh khi còn rất trẻ. Ngài nổi bật về tinh thần cầu nguyện và sám hối. Được thúc đẩy vì tình yêu nồng nàn đối với Thiên Chúa, Giáo Hội, và Giáo Hoàng Roma, thánh nữ đã hoạt động không biết mệt mỏi cho sự nghiệp bình an và hợp nhất của Giáo Hội, trong những năm tháng gian truân của thời kỳ di tản Avignon. Thánh nữ đã dành rất nhiều thời gian hoạt động tại phủ Giáo Hoàng để thuyết phục Đức Gregoriô XI trở về giáo đô Roma, vì đó mới chính là nơi Đấng Đại Diện Chúa Kitô điều hành toàn thể Giáo Hội. Chỉ vài hôm trước khi qua đời, ngày 29 tháng 4 năm 1380, thánh nữ đã tâm sự rằng: “Nếu tôi qua đời, hãy cho người ta biết rằng tôi chết vì nhiệt tâm với Giáo Hội.”
Thánh nữ đã viết rất nhiều thư từ, hiện còn giữ được chừng 400 bức, một số kinh nguyện, ‘những lời than thở,’ và một quyển sách duy nhất là cuốn ‘Đối Thoại.’ Trong quyển sách này, thánh nữ đã ghi lại những lần tâm tình thân mật của mình với Chúa. Người nữ tu dòng Ba Catarina được Đức Piô II tôn phong hiển thánh, và lòng sùng kính ngài mau chóng lan rộng khắp Âu Châu. Thánh nữ Têrêsa Avila nói rằng: “Sau Thiên Chúa, người mà ngài mang ơn nhiều nhất về sự tiến bộ trên đường thiêng liêng là thánh nữ Catarina Siena”. Đức chân phúc giáo hoàng Piô IX đã tôn nhận thánh nữ Catarina lên làm quan thầy nhì cho nước Ý (cùng với thánh Phanxicô khó nghèo). Đến năm 1970, Đức Phaolô VI đã tôn phong thánh nữ Catarina Siena danh hiệu Tiến Sĩ Hội Thánh.
Thánh nữ Catarina luôn thẳng thắn và can đảm lên tiếng mỗi khi có vấn đề nào ảnh hưởng đến Giáo Hội, Đức Giáo Hoàng, và lợi ích các linh hồn. Ngài cảm thấy mình có trách nhiệm phải bảo vệ chân lý. Ở điểm này, chúng ta có thể học được rất nhiều từ thánh nữ Catarina: ngài không bao giờ nhượng bộ trong những điều căn bản, bởi vì ngài đặt trót niềm tin nơi Chúa.
Chúng ta hãy nài xin thánh nữ Catarina cho chúng ta được chia sẻ phần nào lòng yêu mến của ngài đối với Giáo Hội và Đức Giáo Hoàng Roma, và cả những ước vọng nóng bỏng muốn truyền bá giáo lý của Chúa Giêsu khắp nơi. Đồng thời, luôn cố gắng khám phá ra những khía cạnh tích cực của mọi vấn đề, không bỏ phí một cơ hội nào. Chúng ta hãy nài xin Đức Mẹ bằng những lời của chính thánh nữ Catarina: “Ôi Maria, con đến van nài, xin Mẹ dâng lời khẩn nài của con cho Hiền Thê dịu hiền của Chúa Kitô và cho vị Đại Diện trên trần gian của Người. Ước chi ngài luôn luôn được ánh sáng để cai trị Giáo Hội một cách khôn ngoan sáng suốt.”
Trước đám đông dân chúng đến mình, Chúa Giê-su đã đặt vấn đề cho các môn đệ, nhưng chỉ là “để thử các ông.” Nhu cầu của đám đông quá lớn, Chúa lại bảo các môn đệ phải cho họ ăn. Phi-líp-phê, người được hỏi, lo lắng không biết lấy tiền đâu để mua bánh; ấy là chưa kể, dù có tiền, biết mua ở đâu đủ bánh cho một lượng người đông đảo như thế! Vì thế, cho đến chiều tối, các môn đệ vẫn lúng túng không tìm ra được giải pháp cho đám đông ăn. Quả thật, Chúa Giê-su muốn các ông quan tâm đến con người thời đại và ra lệnh cho các ông làm hơn những gì các ông có thể, vì Chúa muốn các ông nhận ra giới hạn của mình trên bình diện tự nhiên, và cũng để các ông nhận ra rằng Chúa không là “nơi” cung cấp dư đầy bánh ăn vật chất mà Ngài còn là chính tấm bánh trường sinh, bẻ ra cho muôn người được ăn và sống đời đời.
Giống nhu Mô-sê xưa đã được Đức Chúa ban man-na nuôi dân Ít-ra-en trong cuộc hành trình vượt qua sa mạc 40 năm về miền Đất Hứa, Tin Mừng hôm nay cũng cho thấy Đức Giêsu nhân bánh ra nhiều, ám chỉ việc Người sẽ Man-na Mới là bí tích Thánh Thể để nuôi dưỡng đức tin của Ít-ra-en Mới là Hội Thánh trên bước đường vượt qua sa mạc trần gian để về Đất Hứa Nước Trời đời sau.
Đức Giêsu nói với Phi-lip-phê: “Ta mua đâu ra bánh cho họ ăn đây?” Dĩ nhiên Người có thể làm phép lạ hóa bánh từ trời để nuôi đám đông dân chúng, giống như Đức Chúa đã ban man-na từ trời rơi xuống nuôi dân Ít-ra-en trong thời kỳ Xuất Hành. Nhưng ở đây, Đức Giêsu muốn các môn đệ ý thức và nhiệt tâm cộng tác trong sứ vụ ban ơn cứu độ cho lòai người.
Ngày nay Ngừơi cũng muốn các tín hữu chúng ta ý thức bổn phận phải tích cực góp phần vào sứ vụ loan báo Tin Mừng và phục vụ Chúa hiện thân nơi những người nghèo đói, bệnh tật và bị bỏ rơi…
Tin mừng ghi lại lời của Phi-lip-phê nói lên sự bất lực của các môn đệ trước nhu cầu quá lớn : “Có mua đến hai trăm đồng bạc bánh cũng chẳng đủ cho mỗi người một chút”: Tuy nhiên Đức Giêsu chỉ muốn thử để biết lòng tin của môn đệ, vì Ngừơi biết việc Người sắp làm.
Ngày nay khi mời gọi chúng ta cộng tác, hẳn Đức Giêsu cũng quá rõ về khả năng giới hạn của chúng ta. Nhưng Người muốn chúng ta ý thức bổn phận cộng tác, rồi vừa làm hết sức mình, vừa cậy trông vào tình thương và quyền năng của Người như Người đã dạy: “Vì không có Thầy anh em không làm gì được” (Ga 15,5b).
An-rê đã mau mắn đưa một bé trai đến và thưa với Người: “Ở đây có một em bé có năm chiếc bánh lúa mạch và hai con cá. Nhưng với ngần ấy người thì thấm vào đâu?”. Chúa cần thiện chí của các môn đệ thể hiện qua các việc làm thiết thực cụ thể, hơn là thái độ ỷ nại “nói mà không làm”.
Ngày nay Chúa muốn các tín hữu chúng ta làm những việc bác ái hợp với khả năng như thánh Gia-cô-bê dạy: “Ai bảo rằng mình có đức tin mà không hành động theo đức tin thì nào có lợi ích gì? Đức Tin có thể cứu người ấy được chăng? Giả như có người anh em hay chị em không có áo che thân và không đủ của ăn hàng ngày, mà có ai trong anh em lại nói với họ : “Hãy đi bình an, mặc cho ấm và ăn cho no”. Nhưng lại không cho họ những thứ thân xác họ đang cần, thì nào có lợi ích gì? Cũng vậy, đức Tin không có hành động thì quả là đức Tin chết” (x. Gc 2,14-17). Vậy chúng ta có thể làm gì trong những ngày này để phục vụ Chúa hiện thân trong các người nghèo khổ, bất hạnh và đang bị bỏ rơi?
Đức Giêsu dạy các môn đệ: “Anh em thu lại những miếng thừa kẻo phí đi”.
Ngày nay nhân lọai vẫn tồn tại hai lọai là người giàu và kẻ nghèo: “Kẻ ăn không hết người lần không ra !”. 80% của cải trên trái đất đang nằm trong tay 20% người giàu. Còn hơn 700 triệu người không đủ cơm ăn áo mặc và một phần ba trẻ em ở lục địa đen (Phi châu) đang bị suy dinh dưỡng rất cần được trợ giúp. Qua việc ra lệnh cho môn đệ thu lại những miếng bánh thừa bị vứt bừa bãi, Đức Giêsu muốn chúng ta phải biết trân trọng lương thực Chúa ban, vì của cải là của chung hết mọi người và chúng ta chỉ được trao quyền quản lý. Cần chi tiêu tiết kiệm để có điều kiện chia sẻ cho những người nghèo đói hơn mình. Vậy chúng ta có thể tiết kiệm những gì để lấy tiền giúp đỡ những ngừơi nghèo đói bên cạnh?
Chúa sai chúng ta đến với muôn dân và ra lệnh cho chúng ta làm hơn những gì chúng ta có thể. Mệnh lệnh của Chúa không cho chúng ta thoái thác. Nhưng đôi lúc chúng ta cứ theo giải pháp nhân loại như Phi-líp-phê loay hoay tìm kinh phí ở đâu để mua bánh. Những giải pháp quen thuộc chưa phải là giải pháp tốt nhất. Mời bạn hãy đến với Chúa Giê-su: Ngài có cách tốt hơn, theo cách thức riêng của Ngài mà con người không hề nghĩ đến.
2022
Tại sao Chúa Giêsu nhúng một miếng bánh và đưa cho Giuđa?
Tại sao Chúa Giêsu nhúng một miếng bánh và đưa cho Giuđa?
Khi tuân giữ Lễ Vượt Qua của người Do Thái, Chúa Giêsu có thể nhớ lại sự phản bội của các anh em ông Giuse trong Cựu Ước.
Bữa Tiệc Ly do Chúa Giêsu và các môn đồ cử hành được liên kết với lễ Vượt Qua của người Do Thái, bao gồm một loạt các hành động biểu tượng.
Trong bữa ăn này, Chúa Giêsu tuyên bố rằng một trong các môn đồ của Ngài sẽ phản bội Ngài .
Khi Chúa Giêsu phán như vậy, thì trong tâm hồn Ngài bối rối, và làm chứng rằng: “Thật, Thầy bảo thật anh em: có một người trong anh em sẽ nộp Thầy.” (Gioan 13: 21)
Chúa Giêsu trả lời, “Thầy chấm bánh đưa cho ai, thì chính là kẻ ấy.” Rồi Ngài chấm một miếng bánh, trao cho Giuđa, con ông Simon Iscariốt. Y vừa ăn xong miếng bánh, Satan liền nhập vào y. Chúa Giêsu bảo y: “Anh làm gì thì làm mau đi!” (Gioan 13: 26-27)
Tại sao Chúa Giêsu chấm một miếng bánh” và đưa nó cho Giuđa?
Có nhiều cách hiểu khác nhau về hành động này, nhưng có một khả năng là Chúa Giêsu đang thực hiện một phần Lễ Vượt Qua của người Do Thái gợi nhớ lại sự phản bội đối với ông Giuse trong Cựu Ước .
Đây là những gì DT Lancaster gợi ý trong bài báo của mình, “Bữa ăn tối cuối cùng: Bài đọc của người Do Thái trong Bữa ăn tối cuối cùng.”
Sau ly rượu đầu tiên, những người tham gia Bữa ăn tối Vượt qua rửa tay và sau đó tham gia một nghi lễ gọi là karpas. Nghi thức bao gồm việc nhúng một loại rau xanh hai lần vào giấm rượu vang đỏ. (Ở những Bữa ăn tối cuối cùng hiện đại, nước muối thường thay thế cho giấm rượu). Ý nghĩa của nghi lễ này rất khó hiểu, nhưng theo một số ý kiến, nó tượng trưng cho sự phản bội đối với ông Giuse, người mà những anh em của ông đã nhúng áo khoác của ông vào máu dê — sự kiện khởi đầu cho cuộc di cư vào Ai Cập. Nó cũng có thể tượng trưng cho việc nhúng cây hương thảo vào máu cừu non.
Shlomo Riskin cũng giải thích về nghi lễ này trong một bài báo trên Israel Times .
Điều thú vị là ở nhiều cộng đồng Yemen có phong tục nhúng rau karpas, thường là mùi tây hoặc cần tây hoặc hành tây sống, hoặc khoai tây luộc, vào charoset, là hỗn hợp rượu, các loại hạt và đôi khi là chà là, mà Jerusalem Talmud nói rằng nó gợi nhớ đến máu. Do đó, cũng giống như việc hai anh em nhúng chiếc áo choàng nhiều màu của Giuse vào máu của một con dê để nói với cha họ rằng Giuse đã bị thú dữ xé xác; chúng tôi nhúng karpas của chúng tôi vào charoset.
Tất cả mọi thứ trong Phúc âm đều có lý do, ngay cả một chi tiết nhỏ của Chúa Giêsu như nhúng một miếng bánh và đưa nó cho Giuđa.
Phêrô Phạm Văn Trung chuyển ngữ.
theo Philip Kosloski, aleteia.org
2022
Yêu thương
27.4
Thứ Tư trong tuần thứ Hai Mùa Phục Sinh
Cv 5:17-26; Tv 34:2-3,4-5,6-7,8-9; Ga 3:16-21
Yêu thương
“Thiên Chúa yêu thương thế gian, đến nỗi đã sai Con Một mình…”
Con người được Thiên Chúa yêu thương. Đây là một chân lý mà không ai chối cãi được. Chân lý gây xúc động sâu xa nhất mà Giáo hội rao giảng là chúng ta đã được Chúa yêu thương từ trước muôn đời. Kitô giáo được xây dựng trên niềm xác tín rằng tình yêu Thiên Chúa đã hạ cố đến thế gian đau khổ bệnh tật qua con người Đức Kitô. Đối với mọi tín hữu, đây là lời cốt tuỷ của Tin mừng. Không có đoạn văn nào trong Thánh kinh nói rõ điều này hơn là lời Đức Giêsu nói với ông Nicôđêmô: “Thiên Chúa yêu thương thế gian đến nỗi đã sai Con Một mình, ngõ hầu những ai tin vào Ngài sẽ không phải chết nhưng sẽ được sống đời đời” (Ga 3, 15).
Thiên Chúa yêu thương từng người chúng ta cứ như là không còn ai khác để cho Ngài yêu thương. Ngài như người cha luôn mong muốn cùng gia đình đồng hành suốt cuộc đời, và không thể an lòng cho đến khi con cái đi đây đó, ai nấy đều an toàn trở về mái ấm gia đình
Thánh Gioan nói: “Quả vậy, Thiên Chúa sai Con của Ngài đến thế gian không phải để lên án thế gian, nhưng là để thế gian nhờ Con của Ngài, mà được cứu độ. Ai tin vào Con của Ngài, thì không bị lên án; những kẻ không tin, thì bị lên án rồi, vì đã không tin vào danh của Con Một Thiên Chúa” (Ga 3, 20). Tin đối với Gioan là nhìn nhận Đức Giêsu là Con và là sứ giả của Chúa Cha, là đến với Đức Giêsu và gặp Ngài, là biết Ngài và cùng với Ngài biết Chúa Cha. Đức tin còn là hồng ân và một sự lôi cuốn của Chúa Cha.
Người tin bước vào một cuộc sống mới. Đó là được thông phần sự sống của Thiên Chúa, là một ân huệ Đấng Messia mang lại. Tin là từ bỏ bóng tối của tội lỗi, của gian tà, của ma quỉ. Phải, chính trong đêm tối của tối tăm mà con người nhận ra tình thương của Thiên Chúa, miễn là đừng khép kín lòng lại: “Sự sáng đã đến trong thế gian, mà người ta đã yêu mến sự tối tăm hơn sự sáng, vì việc làm họ đều xấu xa” (Ga 3, 19). Hãy tin vào Đức Giêsu thì sẽ được tha thứ và được hưởng nhờ ơn cứu độ (R. Veritas).
Tình yêu vốn là tiêu chuẩn để con người được xét xử. Trong cuộc thẩm xét chung cuộc, Đức Giêsu chỉ tra vấn con người về một điều duy nhất, đó là nó có sống yêu thương không? Người Kitô hữu do đó không lo sợ về một cuộc chung thẩm trong ngày sau hết; họ lại càng không phải bận tâm về bức tranh mà trí tưởng tượng con người đã tô vẽ cho ngày ấy, bởi lẽ họ biết rằng sự phán xét diễn ra ngay trong hiện tại qua từng lựa chọn của họ. Mỗi khi họ sống yêu thương thì lương tâm sẽ không luận phạt họ, trái lại, khi họ để thù hận xâm chiếm tâm hồn và thúc đẩy họ khước từ tình yêu, thì đó là lúc họ bị xét xử. Thật thế tâm hồn họ sẽ không có bình an, nếu họ không sống yêu thương.
Một Thiên Chúa quyền năng có thể cứu thế gian không cần phải làm người hoặc chết trên Thập Giá. Thế nhưng, Ngài đã chọn phương thế này vì muốn cho con người có cảm nghiệm sâu xa về tình yêu của Ngài theo cách thức loài người.
“Hy sinh vì người mình yêu”. Khi cống hiến cho người cảm nghiệm được tình yêu Ngài, Thiên Chúa không muốn gì hơn là sự đáp trả. Tình yêu nào mà chẳng cần đáp trả, chính do thái độ đáp trả hay chối từ mà con người bị luật phạt hay không, vì Thiên Chúa không sai Con người đến để xử án thế gian nhưng nhờ Ngài mà được cứu rỗi. Ðức Kitô là mặt trời công chính, Ngài đến với hết mọi người, đặc biệt là những người đang bị vây hãm trong bóng tối tội lỗi. Ngài không kết án họ, nhưng luôn giang rộng đôi tay đón mời họ trở về.
Tội lỗi và yếu đuối là thân phận con người, nhưng nếu con người vẫn cứ ẩn mình trong tội lỗi, thích bóng tối hơn sự sáng, thì chắc chắn họ sẽ bị luật phạt. Biệt phái và luật sĩ bị Chúa Giêsu khiển trách nặng nề vì họ cố chấp trong sai lầm, không dám đối diện với ánh sáng, sợ rằng việc làm của mình sẽ bị phơi bày. Chúa Giêsu đã chỉ trích cho họ thấy khiếm khuyết nhưng họ vẫn cứng lòng. Thế nên, về sau, những lời chúc dữ “khốn cho các ngươi” được dành cho họ hoàn toàn.
Suy đến tình yêu lớn lao khôn tả của Thiên Chúa đối với chúng ta, chúng ta hết lòng cảm tạ Chúa, yêu mến Chúa, đền đáp tình yêu của Chúa bằng cách sống tốt lành thánh thiện, sống trong sự thật, hết lòng tin tưởng vào Đức Giêsu Kitô, tuân phục lời Ngài và thánh ý của Thiên Chúa mà thực thi trong cuộc sống. Đồng thời biết yêu thương người khác như Thiên Chúa đã yêu thương ta, sẵn sàng trao ban cho người khác những gì quý hóa nhất của ta vì hạnh phúc của họ; như tài năng sức khỏe, thì giờ, sở thích nhu cầu quyền lợi. Nhất là biết cầu nguyện cho mọi người tin Chúa Giêsu, sống theo lời Ngài để họ được ơn cứu độ mà Thiên Chúa muốn ban cho họ. Như thế chúng ta đã chứng thực niềm tin của mình vào Thiên Chúa, và Đức Kitô và ơn cứu độ mà Ngài đã ban cho chúng ta nhờ cuộc tử nạn của Ngài. Sống như thế chúng ta làm chứng cho tình yêu Thiên Chúa và đang ở trong Thiên Chúa.
Tình yêu của Thiên Chúa, là tình yêu cho đi, cho đi chính Con Một, cho đi tất cả để cho nhân loại có được sự sống. Tình yêu này mời gọi chúng ta là những người con biết cho đi làm quà tặng cho nhau, vì đó là tình yêu dâng hiến mà Chúa Cha muốn chúng ta – người con thực thi như Đức Giêsu hiến thân vì mạng sống vì người mình yêu.
